Poverty reduction experiences of some countries in the world and lessons for Vietnam
Nguyễn Khánh Trang
Trường Chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị
Email:khanhtrangtct@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Giảm nghèo bền vững là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bài viết phân tích kinh nghiệm giảm nghèo của một số quốc gia và khu vực trên thế giới, tập trung vào phát triển tài chính vi mô và thực hiện chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ người nghèo nâng cao thu nhập, tạo việc làm và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Trên cơ sở đánh giá những thành công và hạn chế của các mô hình quốc tế, bài viết rút ra một số bài học cho Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Giảm nghèo bền vững; tài chính vi mô; an sinh xã hội; kinh nghiệm quốc tế.
Abstract: Sustainable poverty reduction is one of the important goals in the socio-economic development strategies of many countries, including Vietnam. This article analyzes the poverty reduction experiences of several countries and regions worldwide, focusing on the development of microfinance and the implementation of social welfare policies to support the poor in increasing their income, creating jobs, and improving access to basic social services. On the basis of assessing the successes and limitations of international models, the article draws several lessons for Vietnam, enhancing the effectiveness of sustainable poverty reduction goals in the new period.
Keywords: Sustainable poverty reduction; microfinance; social welfare; international experience.
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của khu vực châu Á – Thái Bình Dương áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều bình quân cả nước giai đoạn 2021 – 2025 là 1% – 1,5%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm. Đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều, bao gồm: cả thu nhập và các chiều phi tiền tệ (nhà ở, tiếp cận nước sạch và vệ sinh, dịch vụ giáo dục, y tế, bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội) đã được Việt Nam sử dụng trong thiết kế Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và trong quá trình rà soát hộ nghèo để xác định đối tượng hưởng lợi của Chương trình, cũng như khi triển khai các chính sách giảm nghèo và trợ giúp xã hội. Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 được quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ là căn cứ pháp lý quan trọng để triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay.
Việt Nam đã ban hành hệ thống chính sách giảm nghèo áp dụng trong cả nước thuộc các lĩnh vực, như: dạy nghề, tạo việc làm, tín dụng ưu đãi, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch… Các chính sách giảm nghèo đặc thù có tính địa phương cũng được các chính quyền địa phương chú trọng ban hành, có ưu tiên đối với các đối tượng yếu thế, vùng đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn. Nghị quyết số 24/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 và Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 đã tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để triển khai công tác giảm nghèo trong giai đoạn mới. Thời gian qua, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã nỗ lực hỗ trợ giảm nghèo, do đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, trở thành một trong những quốc gia đầu tiên hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo trước hạn 10 năm, được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng về giảm nghèo.
Tuy nhiên, chất lượng giảm nghèo chưa thật sự cao, số hộ cận nghèo không nhỏ, dịch vụ xã hội chưa được cung cấp đồng đều, nhiều nơi chất lượng dịch vụ chưa cao. Phương thức giảm nghèo của Việt Nam cũng cho thấy, tình trạng một bộ phận người nghèo ỷ vào chính sách trợ cấp của Nhà nước, chưa thực sự quyết tâm thoát nghèo; mức hỗ trợ vừa thấp, vừa mang tính cào bằng nên tác dụng đối với người nghèo thấp; việc lồng ghép nhiều chính sách trong hoạt động giảm nghèo dẫn đến chồng chéo, lãng phí, đem lại hiệu quả thấp.
2. Kinh nghiệm giảm nghèo của một số quốc gia trên thế giới
2.1. Kinh nghiệm phát triển tài chính vi mô
Những năm gần đây, tài chính vi mô phát triển mạnh ở nhiều quốc gia và trở thành một trong những công cụ quan trọng hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Theo Ngân hàng Thế giới, tài chính toàn diện giúp người nghèo tiếp cận tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ tài chính cơ bản, từ đó, nâng cao năng lực sản xuất, tạo việc làm và cải thiện khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế (World Bank, 2024). Báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á cũng cho thấy, tài chính toàn diện và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy giảm nghèo tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á (ADB, 2023).
(1) Kinh nghiệm của châu Âu và Bắc Mỹ.
Đối tượng được các tổ chức tài chính vi mô hỗ trợ chủ yếu là người thất nghiệp, người lao động thu nhập thấp và doanh nghiệp nhỏ. Các tổ chức này không chỉ cung cấp tín dụng mà còn hỗ trợ tạo việc làm, phát triển sinh kế và thúc đẩy khởi nghiệp địa phương. Tại Hoa Kỳ, từ khi Luật Tái đầu tư cộng đồng (Community Reinvestment Act) được ban hành năm 1977, các ngân hàng thương mại được khuyến khích mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho các nhóm dân cư có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, mạng lưới các tổ chức phi chính phủ và tổ chức xã hội – nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối tín dụng với đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động nghèo.
(2) Kinh nghiệm của các nước châu Phi.
Tài chính vi mô chủ yếu được tổ chức dưới hình thức hiệp hội tín dụng, nhóm tiết kiệm quay vòng hoặc quỹ cộng đồng. Các mô hình này dựa trên nguyên tắc liên kết cộng đồng, huy động tiết kiệm nội bộ và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên. Nhiều tổ chức quốc tế như Freedom from Hunger (FFH) đã phối hợp với chính phủ các nước châu Phi để cung cấp dịch vụ tài chính vi mô cho người nghèo. Sự phối hợp này giúp tận dụng mạng lưới quản lý nhà nước, giảm chi phí giao dịch và hạn chế rủi ro pháp lý trong bối cảnh nhiều quốc gia còn gặp khó khăn về thể chế và năng lực quản trị.
(3) Kinh nghiệm của một số quốc gia châu Á.
Bangladesh được xem là một trong những quốc gia thành công nhất trong phát triển tín dụng vi mô phục vụ giảm nghèo. Ngân hàng Grameen do Giáo sư Muhammad Yunus khởi xướng từ năm 1976 với mục tiêu cung cấp tín dụng cho các hộ nghèo, đặc biệt là phụ nữ nông thôn nhằm tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Điểm đặc trưng của mô hình là cho vay không cần tài sản thế chấp, tổ chức người vay thành các nhóm nhỏ để hỗ trợ và giám sát lẫn nhau; đồng thời, gắn hoạt động tín dụng với các mục tiêu xã hội, như: giáo dục trẻ em, kế hoạch hóa gia đình và nâng cao vai trò của phụ nữ trong cộng đồng.
Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên thành công của Ngân hàng Grameen là khả năng huy động nguồn vốn nội tại. Theo số liệu của ngân hàng, hơn 63% nguồn vốn đến từ tiền gửi của chính khách hàng vay vốn; từ năm 1995, Grameen không còn phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài. Bên cạnh đó, cơ chế tiết kiệm bắt buộc, quản lý đơn giản, tỷ lệ thu hồi nợ cao và sự gắn kết cộng đồng đã giúp mô hình duy trì tính bền vững trong thời gian dài (Nguyễn Thị Hoa, 2009; Phạm Thái Hà, 2017).
Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy, hiệu quả của tài chính vi mô không chỉ nằm ở việc cung cấp vốn mà còn ở việc nâng cao năng lực tự chủ của người nghèo, phát huy trách nhiệm cộng đồng và tạo cơ hội tiếp cận các dịch vụ phát triển xã hội. Đây là bài học quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển trong quá trình chuyển từ hỗ trợ mang tính trợ cấp sang trao quyền phát triển cho người nghèo.
Kinh nghiệm Indonesia khác với Grameen Bank, Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) là mô hình tài chính vi mô có sự tham gia chi phối của Nhà nước. Sau khi từ bỏ cơ chế tín dụng bao cấp và vận hành theo nguyên tắc thị trường, BRI đã đạt được hiệu quả hoạt động cao; đồng thời, mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo. Thành công của BRI cho thấy, vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc xây dựng môi trường thể chế thuận lợi cho tài chính vi mô phát triển. Chính phủ Indonesia không hỗ trợ bằng cách bù lãi suất trực tiếp mà tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hoàn thiện khung pháp lý và tạo điều kiện mở rộng mạng lưới dịch vụ tài chính đến các vùng nông thôn. Cách tiếp cận này góp phần giảm chi phí giao dịch, duy trì ổn định lãi suất và bảo đảm tính bền vững của các tổ chức tài chính vi mô.
2.2. Kinh nghiệm thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, người thất nghiệp
Bên cạnh tài chính vi mô, hệ thống an sinh xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giảm nghèo bền vững. Báo cáo của ILO (2024) cho thấy, việc làm bền vững và hệ thống bảo trợ xã hội hiệu quả là những yếu tố quyết định giúp các quốc gia hạn chế tình trạng tái nghèo và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế – xã hội. Trong giai đoạn đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia đã triển khai các chương trình hỗ trợ quy mô lớn nhằm bảo vệ người lao động và nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Cụ thể như sau:
Tại châu Âu, các chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ thu nhập, duy trì việc làm và hỗ trợ doanh nghiệp. Thụy Điển công bố gói hỗ trợ hơn 300 tỷ krona; Cộng hòa Liên bang Đức nâng mức hỗ trợ thu nhập cho người lao động; Anh triển khai chương trình chi trả tới 80% tiền lương cho người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch.
Tại Hoa Kỳ, Chính phủ đã thông qua gói hỗ trợ trị giá 104 tỷ USD nhằm hỗ trợ người dân đối phó với tác động của Covid-19; đồng thời, mở rộng các chế độ nghỉ phép hưởng lương và hỗ trợ y tế khẩn cấp.
Tại Trung Quốc, Chính phủ phân bổ 9,3 tỷ nhân dân tệ trợ cấp thất nghiệp cho 2,3 triệu lao động mất việc; đồng thời, mở rộng phạm vi hỗ trợ đối với các nhóm lao động dễ bị tổn thương. Nhật Bản cũng triển khai nhiều gói ngân sách quy mô lớn cho an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm, trong đó chi cho lĩnh vực an sinh xã hội năm 2021 đạt 35,8 nghìn tỷ yên, chiếm 33,6% tổng chi ngân sách nhà nước.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, giảm nghèo bền vững không thể chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế hay hỗ trợ thu nhập đơn thuần mà cần được đặt trong một hệ thống chính sách an sinh xã hội toàn diện. Theo Báo cáo Chỉ số nghèo đa chiều toàn cầu năm 2024 của UNDP và OPHI, các quốc gia đạt kết quả tốt về giảm nghèo thường là những quốc gia kết hợp hiệu quả giữa tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng bảo hiểm xã hội và bảo đảm tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu, như: giáo dục, y tế và nhà ở(Ngọc Linh, 2021).
3. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Trong hơn ba thập niên đổi mới, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia đạt nhiều thành tựu nổi bật về giảm nghèo. Từ cách tiếp cận giảm nghèo đơn chiều dựa trên tiêu chí thu nhập, Việt Nam đã chuyển sang áp dụng chuẩn nghèo đa chiều từ năm 2016 và tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn 2021 – 2025, qua đó, phản ánh đầy đủ hơn mức độ thiếu hụt của người dân trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, như: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin và việc làm. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 được triển khai đồng bộ với nhiều chính sách hỗ trợ về tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, tạo việc làm, phát triển sinh kế, hỗ trợ nhà ở, bảo hiểm y tế và giáo dục cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Kết quả thực hiện cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều tiếp tục giảm qua các năm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa từng bước được cải thiện. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, mạng lưới tín dụng chính sách thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội đã tạo điều kiện cho hàng triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận nguồn vốn phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, công tác giảm nghèo vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ nghèo tuy giảm nhưng chưa thực sự bền vững; nguy cơ tái nghèo và phát sinh nghèo mới vẫn hiện hữu dưới tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và suy giảm kinh tế. Khoảng cách phát triển giữa các vùng, các nhóm dân cư còn khá lớn, đặc biệt tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Thu nhập của nhiều hộ vừa thoát nghèo còn ở mức thấp, khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế – xã hội còn hạn chế. Bên cạnh đó, một số chính sách hỗ trợ vẫn còn mang tính trợ cấp, chưa tạo được động lực đủ mạnh để người nghèo chủ động vươn lên; việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế – xã hội với giảm nghèo ở một số địa phương còn thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao.
So với kinh nghiệm của nhiều quốc gia có thể thấy, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống chính sách giảm nghèo khá toàn diện, song vẫn cần chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy “hỗ trợ” sang “trao cơ hội phát triển”, chú trọng nâng cao năng lực nội sinh của người nghèo, phát triển sinh kế bền vững và tăng khả năng chống chịu trước các rủi ro. Kinh nghiệm của Bangladesh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia và một số quốc gia đang phát triển cho thấy, giảm nghèo bền vững chỉ đạt được khi kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế bao trùm với hệ thống chính sách an sinh xã hội hiệu quả, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực tự vươn lên của người nghèo. Trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn triển khai tại Việt Nam, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, phát triển tài chính vi mô hỗ trợ người nghèo. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước cho thấy, tài chính vi mô là công cụ hữu hiệu giúp người nghèo tiếp cận nguồn vốn sản xuất, từng bước cải thiện sinh kế và thoát nghèo bền vững. Mô hình Ngân hàng Grameen của Bangladesh cho thấy, việc tổ chức các nhóm tiết kiệm và vay vốn dựa trên sự liên kết cộng đồng có thể tạo điều kiện để người nghèo tự huy động nguồn lực và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, mà không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn vào các khoản vay ưu đãi của Nhà nước. Đối với Việt Nam, mặc dù khó có thể áp dụng nguyên mẫu mô hình này, song việc mở rộng các tổ tiết kiệm và vay vốn, quỹ hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, quỹ hỗ trợ người nghèo lập nghiệp, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ là hoàn toàn khả thi. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thể chế, hoàn thiện khung pháp lý và tạo môi trường thuận lợi để các tổ chức tài chính vi mô hoạt động hiệu quả, bền vững theo cơ chế thị trường.
Hai là, thực hiện đồng bộ chính sách an sinh xã hội gắn với giảm nghèo đa chiều. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, giảm nghèo không thể chỉ tập trung vào tăng thu nhập mà cần bảo đảm khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Vì vậy, cần tiếp tục gắn kết chặt chẽ chính sách giảm nghèo với các chương trình phổ cập giáo dục, chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát triển y tế cơ sở, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh hoặc suy giảm kinh tế cần mở rộng mạng lưới an sinh xã hội thông qua kéo dài thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế, tăng cường các chính sách trợ giúp khẩn cấp và hỗ trợ sinh kế nhằm giúp người nghèo nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc.
Ba là, huy động sự tham gia của toàn xã hội trong công tác giảm nghèo. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, giảm nghèo đạt hiệu quả cao khi có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng dân cư. Việc gắn trách nhiệm của từng cơ quan, doanh nghiệp với các địa bàn hoặc công trình cụ thể đã góp phần cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng và điều kiện phát triển ở vùng nghèo. Đối với Việt Nam, cần tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa công tác giảm nghèo, phát huy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ phát triển sinh kế, đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm và đầu tư hạ tầng tại các địa bàn khó khăn.
Bốn là, tăng cường năng lực và phát huy vai trò chủ thể của người nghèo. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, giảm nghèo bền vững chỉ thành công khi người nghèo trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Do đó, cần tạo cơ chế để người nghèo tham gia xây dựng, giám sát và thực hiện các chương trình giảm nghèo; tăng cường đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng sản xuất, kỹ năng quản lý tài chính và khả năng thích ứng với thị trường lao động. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách đặc thù đối với những nhóm dễ bị tổn thương, như: đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, phụ nữ đơn thân, người cao tuổi và lao động phi chính thức nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Những bài học trên cho thấy, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy giảm nghèo theo hướng lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ hỗ trợ mang tính trợ cấp sang tạo cơ hội phát triển, nâng cao năng lực tự chủ và khả năng thích ứng của người nghèo. Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống chính sách giảm nghèo theo hướng tích hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm tăng trưởng bao trùm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường khả năng chống chịu của các nhóm yếu thế trước những biến động của nền kinh tế và biến đổi khí hậu.
4. Kết luận
Kinh nghiệm giảm nghèo của các quốc gia trên thế giới cho thấy, giảm nghèo bền vững là một quá trình tổng hợp, đòi hỏi sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế bao trùm, phát triển tài chính vi mô, mở rộng hệ thống an sinh xã hội và nâng cao năng lực của người nghèo. Thành công của Bangladesh trong phát triển tín dụng vi mô, của Indonesia trong xây dựng môi trường thể chế hỗ trợ tài chính toàn diện và của nhiều quốc gia phát triển trong bảo đảm an sinh xã hội đã khẳng định vai trò của Nhà nước kiến tạo cùng sự tham gia của toàn xã hội đối với công cuộc giảm nghèo.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 và hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030, cần tiếp tục đổi mới tư duy giảm nghèo theo hướng phát triển năng lực, lấy người dân làm trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển. Trọng tâm chính sách cần chuyển từ hỗ trợ mang tính trợ cấp sang tạo cơ hội tiếp cận nguồn lực, việc làm, giáo dục, kỹ năng nghề nghiệp và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, cần thúc đẩy tài chính toàn diện, tăng cường khả năng chống chịu của các nhóm yếu thế trước các cú sốc kinh tế – xã hội và biến đổi khí hậu, qua đó, nâng cao chất lượng giảm nghèo và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển đất nước.
Tài liệu tham khảo:
Anand, S., & Sen, A. K. (1997). Concepts of human development and poverty: A multidimensional perspective. Human Development Papers, United Nations Development Programme (UNDP).
Asian Development Bank. (2023). Key indicators for Asia and the Pacific 2023.
Chính phủ (2021). Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025.
International Labour Organization. (2024). World employment and social outlook: Trends 2024.
Ngân hàng Chính sách Xã hội (2007). Báo cáo chuyến công tác học tập kinh nghiệm tại Indonesia.
Ngọc Linh (10/4/2021). Covid-19 – Phép thử sức bền hệ thống an sinh xã hội của nhiều quốc gia. Tạp chí Con số và Sự kiện.
Nguyễn Thị Hoa (2009). Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015 (Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân).
Quốc hội (2021). Nghị quyết số 24/2021/QH15 ngày 28/7/2021 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.
Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.
United Nations Development Programme. (2024). Human Development Report 2023/2024.
United Nations Development Programme & Oxford Poverty and Human Development Initiative. (2024). Global Multidimensional Poverty Index 2024.
World Bank. (2023). The state of social protection report 2023.
World Bank. (2024). Poverty, prosperity and planet report 2024: Pathways out of the polycrisis.



