Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: lý luận và thực tiễn

Developing socio – economic infrastructure in the context of building new rural areas in Vietnam: theory and practice

ThS. Nguyễn Văn Chung
NCS Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: chungnguyen.17031984@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội là nội dung, tiêu chí đặc biệt quan trọng, quyết định thành bại công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Vì vậy, phát triển đồng bộ, liên thông, hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không chỉ là mối quan tâm hàng đầu, một trong ba khâu đột phá chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã xác định mà còn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà lý luận, lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách. Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này, hiện nay chưa có sự thống nhất cao cả về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn. Do đó, bài viết tập trung nghiên cứu góp phần làm sáng rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam những năm qua.

Từ khóa: Phát triển; kết cấu hạ tầng; kinh tế – xã hội; nông thôn mới; Việt Nam.

Abstract: Developing socio-economic infrastructure is a particularly important component and criterion that determines the success or failure of the new rural development program in Vietnam. Therefore, the synchronous, interconnected, and modern development of the socio-economic infrastructure system is not only a top priority and one of the three strategic breakthroughs identified by the Party and State, but also receives considerable research attention from theorists, leaders, managers, and policymakers. However, there is currently a lack of consensus on this issue, both in theoretical understanding and practical implementation. Therefore, this article aims to contribute to a clearer understanding of the theoretical and practical basis of socio-economic infrastructure development in the new rural development program in Vietnam over the past years.

Keywords: Development; infrastructure; socio-economic; new rural areas; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam những năm qua luôn được Đảng, Nhà nước “ưu tiên đi trước” và đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng nông thôn nước ta “phồn vinh, văn minh, giàu đẹp”, biến khu vực nông thôn trở thành những “miền quê đáng sống”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn bền vững…; tập trung xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; nhất là “Việc thực hiện đột phá chiến lược về phát triển kết cấu hạ tầng được triển khai quyết liệt và đạt được nhiều kết quả nổi bật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 94). Tuy nhiên, với nội dung, tiêu chí về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta ngày càng được nâng cao, đòi hỏi không chỉ cần có hệ thống lý luận vững chắc mà còn phải đánh giá đúng thực trạng để có cơ khoa học cho đề xuất các giải pháp, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả chương trình.

2. Một số vấn đề lý luận về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Tại Phần thứ tư – Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, Chương XIII “Máy móc và đại công nghiệp” trong tác phẩm “Tư bản”, khi phân tích ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp, C.Mác gọi các phương tiện giao thông và vận tải là những điều kiện chung của quá trình sản xuất cả trong công nghiệp, nông nghiệp và đời sống xã hội: “Nhưng chính cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cũng đòi hỏi một cuộc cách mạng trong những điều kiện chung của quá trình sản xuất xã hội, tức là trong phương tiện giao thông và vận tải” (C.Mác & Ph. Ăngghen, 1995a, tr. 554).

Trong “Phần thứ hai – Chu chuyển của tư bản” tập II của bộ “Tư bản”, Chương XIV – Thời gian lưu thông”, C. Mác khẳng định: “sự di chuyển và thay đổi chỗ của những trung tâm sản xuất và thị trường… là do những sự thay đổi trong các phương tiện giao thông và vận tải gây ra” (C.Mác & Ph. Ăngghen, 1995b, tr. 372). Phân tích kỹ sự ra đời, vận động và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, dưới sự chi phối của quy luật giá trị thặng dư, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra điều kiện cơ sở vật chất cần thiết để tồn tại và phát triển, nhưng cũng chính điều kiện cơ sở vật chất ấy đã phủ định sự tồn tại của chính nó.

Như vậy, việc phát triển đường xá, cầu cống, thông tin liên lạc, giao thông và vận tải nói riêng, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nói chung là điều kiện vật chất tất yếu để phát triển kinh tế – xã hội không chỉ ở xã hội tư bản mà ngay trong xã hội – xã hội chủ nghĩa cũng cần các điều kiện đó, nhất là trong phát triển kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn. Đây cũng chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen trong điều kiện mới, đặc biệt khi nghiên cứu và phân tích nhiệm vụ, phương pháp xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã chỉ ra hai nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: một là, công nghiệp hóa để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội; hai là, cải tạo nền sản xuất nhỏ thành nền đại sản xuất. Cùng với đó, V.I.Lênin đã đưa ra quan niệm về cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là “nền sản xuất đại cơ khí” được áp dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kể cả trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, V.I.Lênin cũng đưa ra biện pháp để xây dựng một cơ sở vật chất – kỹ thuật như vậy phải tiến hành công nghiệp hóa, bắt đầu từ kinh tế nông dân, phát triển nhanh công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp điện và chỉ rõ, trong quá trình công nghiệp hóa phải tranh thủ được kỹ thuật hiện đại của các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.

Những chỉ dẫn của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin là cơ sở lý luận vững chắc để Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối, chủ trương xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của đất nước nói chung, ở khu vực nông thôn toàn quốc nói riêng trong chiến lược đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

2.2. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Với xuất phát điểm của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với đặc điểm lớn nhất là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá, kéo dài nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao và coi trọng phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là để phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn. Trong đó, (1) Về mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn (phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân nông thôn); (2) Về nội dung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn (toàn diện, đồng bộ cả về hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nhà ở, giao thông, thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai, thủy điện, trường học, cơ sở thương mại, trạm y tế, bệnh viện).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr.446). Khi nhấn mạnh phát triển hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, Người đã coi việc cải tiến kỹ thuật là một điều rất quan trọng để phát triển nông nghiệp, trong đó Người cũng động viên “từ nay cán bộ và công nhân đều ra sức thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hơn nữa để nâng cao năng suất lao động, sản xuất được nhiều, nhanh, tốt, rẻ, phục vụ cho nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr.101). Đối với việc xây dựng công trình thủy lợi, đắp đê và xây đập phòng, chống bão lụt, hạn hán, bảo vệ mùa màng và nhà ở của nhân dân, Người khẳng định: “tổ chức đắp đê, xây đập phòng, chống bão lụt, hạn hán, bảo vệ mùa màng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 567).  

Về phát triển giao thông vận tải, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giao thông vận tải đã cố gắng phát triển giao thông ở nông thôn, nhưng vận tải đường sông thì còn kém” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr. 103). Đặc biệt, Người nhấn mạnh: “Cần phát triển giao thông vận tải, cho nên cần có những kỹ sư thông thạo về việc đắp đường, bắc cầu” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 72) . Khi bàn đến xây dựng chợ, Người khẳng định sự cần thiết phải xây dựng chợ, phát triển các cơ sở thương nghiệp không chỉ ở thành thị mà ngay cả ở nông thôn: “Nếu trong các nhà máy, công trường, nông trường, các đơn vị vận tải, các cơ sở thương nghiệp của chúng ta, chỉ có một số ít người đạt năng suất thật cao còn số đông thì “giẫm chân một chỗ” hoặc tiến rất chậm, thì bước tiến chung của nền kinh tế quốc dân sẽ ra sao? Rõ ràng là tình hình sẽ không tốt lắm!” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr. 488). Đối với xây dựng trường học, Người chỉ ra việc cần tham gia các hoạt động xã hội, như: xây dựng trường học, mở vườn gửi trẻ, giúp đỡ các chị em phụ nữ lao động; “Nhiều trường học đã hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng: cần kiệm để xây dựng trường học, lao động để rèn luyện bản thân, mở cửa trường cho học sinh công nông…” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr. 458-468). Về xây dựng trạm y tế, bệnh viện, Người khẳng định: “Phải tuyên truyền một cách thiết thực và rộng khắp trong nhân dân, gây một phong trào thể dục vệ sinh, chú trọng củng cố và phát triển thêm các trạm y tế và nơi đỡ đẻ ở xã…” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr. 82).

Để có các biện pháp phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn, Người nhấn mạnh: “Đi bước nào phải thật vững chắc bước ấy. Làm nơi nào phải thật tốt nơi ấy. Không lề mề, nhưng không nóng vội” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr. 166). Đồng thời, phải phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, của cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục và vận động Nhân dân; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là vai trò của các chủ thể kinh tế và cư dân nông thôn; tổ chức tốt các phong trào thi đua; tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau; triệt để thực hành tiết kiệm, kiên quyết chống tham ô, tiêu cực, lãng phí. Đặc biệt, Người cũng nhắc nhở: các cơ quan, các xí nghiệp, công trường và mậu dịch cần phải thực hiện cho có kết quả tốt cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr. 102).

2.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong các văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến nay, thuật ngữ “kết cấu hạ tầng kinh tế” cũng đã được sử dụng một cách phổ biến. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng hệ thông kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đặt đặt ra mục tiêu từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại, bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững, tăng cường hội nhập quốc tế, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới. Sau đó, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 72-KL/TW ngày 23/12/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW đề ra các giải pháp chủ yếu để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đi trước một bước; có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những lĩnh vực đột phá, cơ bản. Chính phủ đã triển khai thực hiện các giải pháp quyết liệt, đặc biệt, các giải pháp về cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực nhằm tập trung đầu tư xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước theo các mục tiêu đề ra (Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 19/11/2019).

Đặc biệt, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục kế thừa, phát triển quan điểm của các kỳ đại hội trước và nhấn mạnh: “Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội có bước phát triển bứt phá, nhiều công trình hạ tầng quan trọng quy mô lớn được đầu tư, nâng cấp, đường bộ cao tốc, sân bay, bến cảng, hạ tầng số,… góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 300). Đồng thời, xác định phướng hướng, mục tiêu: “…phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 94).

Như vậy, vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nói chung, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới nói riêng ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và coi trong trong mọi giai đoạn, thời kỳ phát triển của đất nước. Những chủ trương, chính sách và quyết nghị hiện hành của Đảng, Nhà nước không chỉ là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc mà nó còn là sự tổng kết và đúc rút kinh nghiệp quý qua 40 năm đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng.

3. Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong xây dựng nông thôn mới

3.1. Những kết quả đạt được

Thứ nhất, việc xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện cơ chế, chính sách bảo đảm toàn diện, đồng bộ, hiệu quả từ cấp trung ương đến địa phương.

Ở trung ương: Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành trung ương đã tập trung tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành đầy đủ hệ thống văn bản liên quan phục vụ triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới nói chung và thu hút các nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới nâng cao nói riêng giai đoạn 2021 – 2025, với khoảng 148 văn bản, gồm: 5 nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; 3 nghị định của Chính phủ, 33 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 107 văn bản hướng dẫn, trong đó văn bản về cơ chế, chính sách riêng cho Chương trình do Bộ trình là 20 văn bản(Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, 2025, tr.2).

Ở địa phương: căn cứ các văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia của trung ương, các địa phương đã chủ động ban hành văn bản cụ thể hóa cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện gồm: quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 – 2025; quy định về cơ chế lồng ghép, huy động các nguồn vốn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; quy định về phân cấp quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; văn bản thực hiện cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư đối với dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp; cơ chế tổ chức thực hiện hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất; cụ thể hóa các quy định thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 theo phân cấp; địa phương cũng đã ban hành chính sách đặc thù phù hợp điều kiện thực tế (Báo cáo số 736/BC-CP ngày 21/11/2025 của Chính phủ về tổng kết 05 năm triển khai, thực hiện Chương trỉnh mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025). Đồng thời, các nội dung trong Chương trình mục tiêu quốc gia đã được mở rộng và cập nhật, bổ sung nhiều yếu tố mới, như: chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, phát triển du lịch nông thôn, bình đẳng giới, thích ứng biến đổi khí hậu, thúc đẩy khởi nghiệp nông thôn,… phù hợp với bối cảnh mới và yêu cầu phát triển bền vững (Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, 2025, tr.2).

Thứ hai, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là về vốn.

Giai đoạn 2021 – 2025, Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp đã thường xuyên quan tâm, chú trọng tập trung huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo của các bộ, ngành trung ương và các địa phương, tổng nguồn lực huy động thực hiện xây dựng nông thôn mới của cả nước giai đoạn 2021 – 2025 (lũy kế đến tháng 6/2025) khoảng 3.703.478 tỷ đồng (Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025, 2025, tr. 9-10), trong đó:

(1) Về vốn ngân sách trung ương: tổng vốn ngân sách trung ương hỗ trợ thực hiện là 41.264,8 tỷ đồng thấp hơn tổng vốn ngân sách trung ương đã được Quốc hội phê duyệt là 41.682 tỷ đồng (giảm 417,18 tỷ đồng) và chiếm khoảng 1,1% tổng nguồn lực huy động thực hiện Chương trình. Hằng năm, phân bổ cho các bộ, ngành trung ương và địa phương bảo đảm theo các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ được quy định tại Quyết định số 07/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và các quy định có liên quan.

(2) Về vốn ngân sách địa phương: tổng vốn ngân sách địa phương các cấp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội khoảng 283.743 tỷ đồng (chiếm khoảng 7,7%). Mặc dù tỷ trọng không lớn, song đây là nguồn lực ổn định, thể hiện rõ sự vào cuộc và cam kết chính trị của các địa phương trong triển khai xây dựng nông thôn mới.

(3) Về vốn lồng ghép: tổng vốn lồng ghép của 2 Chương trình mục tiêu quốc gia còn lại và các chương trình, dự án khác để thực hiện các tiêu chí, chỉ tiêu nông thôn mới khoảng 272.219,3 tỷ đồng (chiếm khoảng 7,4%). Nguồn vốn của 2 Chương trình mục tiêu quốc gia còn lại (giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) và của các chương trình, dự án khác đã góp phần hỗ trợ các địa phương hoàn thành các chỉ tiêu, tiêu chí nông thôn mới.

(4) Về vốn tín dụng: tổng vốn tín dụng khoảng 2.252.733,3 tỷ đồng (chiếm khoảng 60,8%), tăng gần 70% so với giai đoạn 2016 – 2020. Vốn tín dụng tiếp tục giữ vai trò then chốt, là nguồn lực chủ đạo trong thực hiện Chương trình giai đoạn 2021 – 2025. Các hộ nghèo, cận nghèo và các nhóm yếu thế được tiếp cận nguồn lực phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, góp phần thực hiện hiệu quả các tiêu chí về thu nhập, việc làm, nhà ở, nước sạch, môi trường…

(5) Về huy động vốn doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của người dân, cộng đồng: tổng vốn đạt khoảng 853.517,8 tỷ đồng (chiếm khoảng 23,1%), trong đó vốn doanh nghiệp đạt khoảng 39.522 tỷ đồng, chủ yếu đầu tư vào hạ tầng kinh tế – xã hội, sản xuất nông nghiệp, thương mại, dịch vụ và tạo việc làm tại khu vực nông thôn. Đóng góp tự nguyện của người dân, cộng đồng đạt khoảng 813.995 tỷ đồng, tập trung dưới hình thức hiến đất, góp ngày công, vật tư, tiền mặt để xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu như đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng, nhà văn hóa, nghĩa trang, cảnh quan môi trường…

Thứ ba, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn mới ngày càng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm kết nối nông thôn – đô thị. Các địa phương đã chủ động rà soát, lồng ghép các nguồn vốn, nhất là vốn đầu tư công trung hạn, để triển khai các công trình hạ tầng thiết yếu theo hướng đồng bộ, hiện đại, phù hợp với đặc thù vùng miền và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc hoàn thành nhựa hóa, bê tông hóa 100% đường trục xã, liên xã tại nhiều địa phương. Cùng với đó, hạ tầng thủy lợi được nâng cấp có trọng tâm, nhất là tại các vùng sản xuất chịu tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, bước đầu phát huy hiệu quả trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt. Hệ thống điện lưới quốc gia được đầu tư mở rộng, đến nay tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng điện đạt trên 99,7%, góp phần bảo đảm điều kiện sinh hoạt, sản xuất, học tập cho người dân. Tổng thể, phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2025 đã có nhiều kết quả nổi bật, đóng vai trò làm “đòn bẩy” thúc đẩy sản xuất, nâng cao đời sống người dân.

3.2. Những tồn tại, hạn chế

Một là, công tác ban hành và quá trình triển khai các văn bản pháp luật vẫn còn một số bất cập. Tiến độ ban hành một số văn bản hướng dẫn của bộ, ngành trung ương còn chậm, thiếu thống nhất; một số quy định chưa thực sự phù hợp với đặc thù của Chương trình; còn chỉ tiêu trong Bộ tiêu chí chưa sát thực tiễn địa phương, dẫn đến phải trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh; thủ tục đầu tư công, đấu thầu, lập dự toán còn phức tạp. Do đó, kết quả là tỷ lệ giải ngân vốn ngân sách trung ương, đặc biệt là vốn sự nghiệp, tại nhiều địa phương còn rất thấp, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả thực hiện Chương trình.

Hai, cơ chế, chính sách phân bổ, quản lý và sử dụng vốn còn có những hạn chế nhất định. Tiến độ phân bổ vốn chậm, đặc biệt là vốn sự nghiệp chưa được giao theo kế hoạch trung hạn, gây bị động cho các địa phương trong lập kế hoạch và triển khai thực hiện; tiêu chí phân bổ vốn hiện hành chủ yếu căn cứ vào số lượng xã, chưa tính đến đầy đủ yếu tố diện tích tự nhiên, dân số, mức độ khó khăn, nên chưa thực sự công bằng và phù hợp với đặc thù vùng miền; một số địa phương chưa chủ động bố trí vốn đối ứng hoặc chậm hoàn thiện thủ tục đầu tư, dẫn đến chậm phân bổ và giải ngân vốn; việc không bố trí vốn ngân sách trung ương cho các xã đặc biệt khó khăn (để tránh trùng lặp với 2 Chương trình mục tiêu quốc gia còn lại) là hợp lý về nguyên tắc nhưng thực tế khiến nhiều tiêu chí đặc thù của Chương trình không có nguồn lực hỗ trợ.

Qua kết quả kiểm tra, đánh giá thực tế cho thấy, đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, nhà ở dân cư) chưa đặt mục tiêu hoàn thành theo các tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 tại địa phương đề ra.

Ba là, chất lượng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội sau khi đạt chuẩn nông thôn mới ở cấp cơ sở chưa được quan tâm, coi trọng. Do đó, công tác duy tu, bảo trì, sửa chữa,… hạ tầng kinh tế – xã hội sau khi đạt chuẩn nông thôn mới ở cấp cơ sở chất lượng thấp. Đây là thực trạng đang diễn ra ở nhiều địa phương (cấp xã) cần phải được nhìn nhận thấu đáo và khắc phục kịp thời. Đáng chú là ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu dân cư ven đô vẫn phổ biến; công trình xử lý nước thải, rác thải hoạt động kém hiệu quả; ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế.

4. Đề xuất một số giải pháp

Thứ nhất, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Đây là vấn đề ý nghĩa chiến lược, là yêu cầu tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng nông thôn mới nói chung và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở khu vực nông thôn nói riêng. Do đó, cần bảo đảm tính tổng thể, dài hạn và thống nhất chương trình, quy hoạch, kế hoạch trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới; tiếp tục tăng đầu tư nguồn lực cho công tác khảo sát và xây dựng chương chình, quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới; đồng thời, phối hợp chặt chẽ công tác tổ chức thi công với công tác kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan trung ương và các đơn vị, địa phương trong thực hiện chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Đây không chỉ là khâu đột phá nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà còn giúp tháo gỡ “nút thắt” trong quá trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Vì vậy, cần nâng cao hiệu lực, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền địa phương, nhất là sau khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp đối với quá trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, như: vốn, nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng góp phần đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, từ đó thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới.

Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Điều nàycó ý nghĩa then chốt, quyết định thành bại công cuộc xây dựng nông thôn mới và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, cần huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương; tăng cường huy động, sử dụng hiệu quả nguồn vốn của các địa phương; tích cực huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài; chú trọng huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp; tích cực huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn do nhân dân đóng góp và vốn từ các nhà tài trợ.

Thứ tư, bảo đảm tốt nguồn nhân lực và tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Đây là nội dung, yêu cầu tất yếu theo xu thế phát triển của thời đại, có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định trực tiếp đến kết quả phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, cần tăng cường công tác bồi đưỡng, đào tạo, tập huấn và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới; đồng thời, chú trọng đầu tư nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.

Thứ năm, phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, thành phần kinh tế tham gia phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới. Qua đó, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội để sớm về đích, nâng cao chất lượng và đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, cần đổi mới cơ chế, chính sách nhằm thu hút các tổ chức, lực lượng, thành phần kinh tế tham gia phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội. Đa dạng hóa các hình thức liên kết hợp tác nhằm thu hút mọi lực lượng, thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia; chú trọng phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị – xã hội, vai trò của cư dân nông thôn, nhất là nông dân trong tham gia phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; đặc biệt, quan tâm, đề cao và phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong tham gia phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới.

5. Kết luận

Để có thể thực hiện thành công công cuộc xây dựng nông thôn mới và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trong xây dựng nông thôn mới hiện nay, cần đòi hỏi có cơ sở lý luận khoa học vững chắc, soi đường, định hướng đúng và được đánh giá đúng thực trạng hiện tại cả về thành tựu, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân; đồng thời phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp. Việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân mà nòng cốt là cư dân ở khu vực nông thôn vì mục tiêu xây dựng nông thôn Việt Nam phồn vinh, văn minh, giàu đẹp – thực sự là những miền quê đáng sống.

Tài liệu tham khảo:
Ban chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 (2025). Báo cáo Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 (Tài liệu Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 tại Hà Nội).
Chính phủ (2019). Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 19/11/2019 về triển khai thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị về tình hình thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thông kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Chính phủ (2025). Báo cáo số 736/BC -CP ngày 21/11/2025 về tổng kết 05 năm triển khai, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025.
C.Mác và Ph. Ăngghen (1995a). Toàn tập (Tập 23). Nxb Chính trị quốc gia.
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995b). Toàn tập (Tập 24). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2012). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/1/2012 của Ban chấp hành Trung ương đảng về Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng hệ thông kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2024). Kết luận số 72-KL/TW, ngày 23/12/2024 về “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thông kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 8). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011đ). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 11). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011h). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011i). Toàn tập (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011k). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 07/2022/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025.