Solutions to promote cooperation between Vietnam and the Federal Republic of Germany in science, technology, and innovation today
ThS. Lê Thị Kim Oanh
Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ
Email: vxo181102@yahoo.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Hợp tác giữa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng được mở rộng và trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước. Hai bên đã thúc đẩy hợp tác trong chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu chung ở các lĩnh vực, như: năng lượng tái tạo, chuyển đổi số, y sinh và công nghiệp thông minh. Những kết quả đạt được góp phần nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam; đồng thời, hỗ trợ quá trình chuyển đổi số và phát triển bền vững. Trên cơ sở phân tích thực trạng hợp tác, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mối quan hệ hợp tác này trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời gian tới.
Từ khóa: Hợp tác khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; Việt Nam; CHLB Đức.
Abstract: Cooperation between Vietnam and the Federal Republic of Germany in science, technology, and innovation has expanded significantly and become an important pillar of the two countries’ Strategic Partnership. Bilateral collaboration has focused on technology transfer, the development of high-quality human resources, and joint research in areas such as renewable energy, digital transformation, biomedicine, and smart manufacturing. These achievements have contributed to strengthening Vietnam’s scientific and technological capacity while supporting digital transformation and sustainable development. Based on an assessment of the current state of cooperation, this article proposes several recommendations to further enhance cooperation between Vietnam and the Federal Republic of Germany in science, technology, and innovation in the future.
Keywords: Science and technology cooperation; innovation; Vietnam; Federal Republic of Germany.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Việt Nam xác định hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực này là một trong những động lực quan trọng nhằm nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số và hỗ trợ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những năm qua, hợp tác Việt Nam – CHLB Đức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (STI) đã đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hợp tác song phương vẫn còn đối mặt với không ít thách thức như sự khác biệt về cơ chế, khả năng huy động nguồn lực, mức độ kết nối giữa các tổ chức khoa học, công nghệ và doanh nghiệp hai nước. Do đó, việc phân tích thực trạng, đánh giá tiềm năng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa hợp tác giữa Việt Nam và CHLB Đức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết, góp phần định hướng các hoạt động hợp tác trong thời gian tới, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của hai quốc gia.
2. Kết quả hợp tác giữa Việt Nam – CHLB Đức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Thứ nhất, hợp tác trong triển khai các dự án nghiên cứu chung. Đây là một trong những nội dung trọng tâm trong quan hệ hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và CHLB Đức. Trên cơ sở quan hệ Đối tác chiến lược được thiết lập từ năm 2011, hai nước đã xây dựng mạng lưới hợp tác nghiên cứu rộng khắp với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Các chương trình hợp tác không chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ bản mà còn hướng đến nghiên cứu ứng dụng, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phù hợp với mô hình liên kết giữa Nhà nước – viện nghiên cứu – trường đại học – doanh nghiệp mà Đức đang áp dụng. Kết quả, giai đoạn 2005 – 2019, hai bên đã triển khai 4 chương trình hợp tác nghiên cứu chung trong các lĩnh vực: đối tác quốc tế về đổi mới sáng tạo bền vững; y tế và phát triển đô thị bền vững; kinh tế sinh học; và liên kết hàn lâm – doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo (Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt – Đức, 23/11/2021); từ năm 2026, hai bên thống nhất triển khai nhiều hoạt động hợp tác trọng tâm, bao gồm xây dựng các chương trình đào tạo và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp khởi nghiệp; đồng tổ chức các diễn đàn công nghệ, hội thảo chuyên đề và cuộc thi khởi nghiệp; thúc đẩy hoạt động ươm tạo và tăng tốc doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; tăng cường trao đổi startup, sinh viên, chuyên gia và nhà nghiên cứu; đồng thời phối hợp thực hiện các dự án nghiên cứu trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược mà hai bên cùng quan tâm như AI, chuyển đổi số và công nghệ sâu (Văn phòng Chính phủ, 24/03/2026).
Thứ hai, hợp tác trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Đức là một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chương trình của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) tập trung vào quản lý tổng hợp tài nguyên nước, tăng cường khả năng chống chịu của đồng bằng sông Cửu Long trước tác động của biến đổi khí hậu, phát triển các giải pháp thích ứng dựa vào thiên nhiên, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và ứng dụng công nghệ số trong giám sát tài nguyên, môi trường. Đặc biệt, dự án “Hỗ trợ Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris giai đoạn II” do Chính phủ Đức tài trợ với tổng kinh phí 10 triệu euro, triển khai giai đoạn 2023 – 2028, đang hỗ trợ Việt Nam lồng ghép các mục tiêu về khí hậu, đa dạng sinh học và phát triển bền vững vào quá trình xây dựng chính sách; đồng thời nâng cao năng lực quản lý phát thải, phát triển giao thông các-bon thấp và các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp (German Agency for International Cooperation, 2025).
Ba là, hợp tác trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Đây là một lĩnh vực ưu tiên trong chính sách hợp tác phát triển của Chính phủ Đức tại Việt Nam. Thông qua các chương trình cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ tài chính và hỗ trợ kỹ thuật, Chính phủ Đức đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu chiến lược quốc gia của Việt Nam, bao gồm Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu với cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Ví dụ: (1) Sau cuộc đàm phán song phương giữa hai Chính phủ vào tháng 11/2023, Chính phủ Đức cung cấp 61 triệu Euro cho hợp tác phát triển với Việt Nam trong 2 nămđể hỗ trợ ba lĩnh vực trọng tâm: năng lượng, bảo vệ rừng và đào tạo nghề (Thảo Miên, 09/11/2023); (2)Tháng 01/2025, Bộ Công Thương Việt Nam và GIZ đã ký thỏa thuận triển khai Dự án “Thúc đẩy chuyển dịch ngành năng lượng tại Việt Nam (TEV)” với tổng kinh phí 4 triệu euro do Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ) tài trợ. Dự án tập trung hỗ trợ hoàn thiện khung pháp lý, phát triển thị trường điện cạnh tranh, nâng cao năng lực quản lý và thúc đẩy ứng dụng các công nghệ năng lượng sạch. Đến năm 2026, dự án tiếp tục được gia hạn đến cuối năm 2026 nhằm hỗ trợ nghiên cứu về lưu trữ năng lượng, lưới điện thông minh, chuyển đổi số trong ngành điện và thu hút trên 150 doanh nghiệp tham gia quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam (Tập đoàn Điện lực Việt Nam, 17/01/2025).
Bốn là, hợp tác trong chuyển giao công nghệ và hợp tác doanh nghiệp. Hợp tác này là động lực quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và CHLB Đức. Khác với nhiều mô hình hợp tác truyền thống chỉ tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật, hợp tác Việt Nam – CHLB ngày càng hướng đến xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của quá trình nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ. Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu bao gồm: tự động hóa, cơ khí chính xác, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, sản xuất thông minh và chuyển đổi xanh.
Nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu của Đức, như: Bosch, Siemens, SAP, Schaeffler và Festo tiếp tục mở rộng hoạt động đầu tư và nghiên cứu tại Việt Nam. Đến cuối năm 2024, Bosch Việt Nam có khoảng 6.000 nhân viên, vận hành Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Ô tô và Công ty Bosch Global Software Technologies tại Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực phần mềm ô tô, Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa công nghiệp (Bosch Vietnam, 2024).
Bên cạnh đó, hợp tác doanh nghiệp giữa hai nước còn được kết nối, chuyển giao công nghệ và mở rộng hợp tác nghiên cứu ứng dụng thông qua các hoạt động triển lãm tại hội chợ công nghiệp lớn nhất thế giới (Hannover Messe 2026). Đồng thời, chương trình “Vietnam Night: Vietnam – Germany Industry & Tech Connect” đã tạo diễn đàn kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp hai nước trong các lĩnh vực cơ khí, công nghệ số, logistics, công nghệ môi trường, AI và sản xuất thông minh (NAFOSTED, 28/04/2026). Những kết quả hợp tác trên cho thấy, quan hệ Việt Nam – CHLB Đức trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ đã từng bước chuyển từ hình thức hợp tác song phương giữa các cơ quan quản lý sang mô hình liên kết đa chủ thể. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ tiên tiến, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Năm là, hợp tác trong lĩnh vực chuyển đổi số, phát triển và chuyển giao các công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0. Trên cơ sở thế mạnh của Đức về công nghiệp chế tạo, tự động hóa và công nghệ số, hai nước đã từng bước mở rộng hợp tác theo hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển giao công nghệ và thúc đẩy nghiên cứu, phát triển các công nghệ chiến lược phục vụ quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa nền kinh tế. Đặc biệt, việc ký kết Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam với các đối tác của Đức tại Diễn đàn Công nghiệp Công nghệ cao Việt Nam – Đức năm 2025 đã tạo động lực thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu của Đức, như: Hermle AG, Bosch Rexroth, Heidenhain, Walter Tools và Blum Novotest với các doanh nghiệp Việt Nam trong kết nối chuyển giao công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm về chuyển đổi số, xây dựng nhà máy thông minh, tự động hóa, phát triển AI, điện tử, bán dẫn và công nghiệp hỗ trợ.
Hợp tác trong lĩnh vực này tiếp tục được mở rộng theo hướng nghiên cứu và phát triển các công nghệ chiến lược, như: triển khai các chương trình nghiên cứu chung về bán dẫn; trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số; chuyển đổi năng lượng xanh và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao; tăng cường kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khai thác hiệu quả các phòng thí nghiệm và cơ sở hạ tầng nghiên cứu nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ giữa hai nước (Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 30/6/2026).
Bên cạnh hợp tác cấp Chính phủ, nhiều doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu của Đức cũng mở rộng hợp tác với các đối tác Việt Nam trong lĩnh vực AI, vi điện tử và công nghệ số. Tiêu biểu là Fraunhofer ENAS đã hợp tác với FPT nhằm thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ bán dẫn, AI, cảm biến thông minh và đào tạo nhân lực công nghệ cao; đồng thời các địa phương như Đà Nẵng cũng tăng cường hợp tác với thành phố Chemnitz (Đức) trong nghiên cứu bán dẫn, AI và công nghệ xanh. Những hoạt động này góp phần tăng cường kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số của ngành công nghiệp Việt Nam theo mô hình sản xuất thông minh của Đức (Tập đoàn FPT, 03/6/2026).
Nhìn chung, hợp tác giữa Việt Nam và Đức trong lĩnh vực này đang chuyển từ các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật đơn lẻ sang mô hình hợp tác toàn diện về nghiên cứu, phát triển công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Điều này không chỉ góp phần nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam mà còn tạo nền tảng quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
3. Một số giải pháp
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và CHLB Đức. Trong bối cảnh Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, việc hoàn thiện thể chế cần được triển khai đồng bộ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với việc thực thi hiệu quả Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 và Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025. Trên cơ sở đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, chia sẻ dữ liệu nghiên cứu, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các công nghệ mới. Đồng thời, xây dựng các cơ chế tài chính linh hoạt cho các chương trình nghiên cứu chung với CHLB Đức; hình thành các quỹ đồng tài trợ nghiên cứu giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức khoa học của hai nước; mở rộng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai đối với các dự án hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, cần duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp hai nước nhằm kịp thời tháo gỡ các rào cản trong quá trình triển khai các chương trình hợp tác.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược. Thực hiện chủ trương của Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác với CHLB Đức trong đào tạo kỹ sư, chuyên gia và nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực bán dẫn, AI, khoa học dữ liệu, vi điện tử, tự động hóa, công nghệ sinh học và công nghệ xanh. Trên cơ sở thế mạnh của Đức về đào tạo nghề và mô hình đào tạo kép, cần mở rộng các chương trình liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hai nước; tăng cường trao đổi giảng viên, nghiên cứu sinh, kỹ sư và chuyên gia; đồng thời, có cơ chế thu hút, sử dụng hiệu quả đội ngũ nhân lực được đào tạo tại Đức, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
Ba là, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và tăng cường chuyển giao công nghệ. Phù hợp với định hướng của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 về lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, Việt Nam cần phát huy hiệu quả mô hình liên kết giữa Nhà nước – viện nghiên cứu – trường đại học – doanh nghiệp theo kinh nghiệm của Đức. Cần ưu tiên xây dựng các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm dùng chung và các nền tảng chuyển giao công nghệ có sự tham gia của các đối tác Đức; đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp Đức mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam. Bên cạnh đó, cần khai thác hiệu quả vai trò của Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), Đại học Việt – Đức, các chương trình của GIZ, NAFOSTED và các mạng lưới hợp tác doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.
Bốn là, ưu tiên mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược gắn với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trên cơ sở các định hướng phát triển ngành công nghiệp công nghệ số và công nghệ chiến lược của Việt Nam, cần tập trung mở rộng hợp tác với CHLB Đức trong các lĩnh vực mà Đức có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu phát triển, như: AI, bán dẫn, sản xuất thông minh, tự động hóa, công nghệ lượng tử, công nghệ môi trường, năng lượng tái tạo, hydro xanh và chuyển đổi số. Đồng thời, cần thúc đẩy triển khai các chương trình nghiên cứu chung, chia sẻ cơ sở dữ liệu và hạ tầng nghiên cứu, phát triển các phòng thí nghiệm liên kết, tăng cường hợp tác giữa các trung tâm đổi mới sáng tạo, địa phương và doanh nghiệp hai nước. Việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược không chỉ góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 mà còn nâng cao năng lực tự chủ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo:
Bosch Vietnam (2024). Bosch tại Việt Nam. https://www.bosch.com.vn/our-company/bosch-in-vietnam/
Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2026). Việt Nam và Đức mở rộng hợp tác trong lĩnh vực bán dẫn và nguồn nhân lực công nghệ cao. https://mst.gov.vn/viet-nam-duc-mo-rong-hop-tac-ve-ban-dan-va-nhan-luc-cong-nghe-cao-197260630162526784.htm
FPT (2026). Viện nghiên cứu điện tử nano và hệ thống vi mô hàng đầu của Đức khám phá cơ hội hợp tác về lượng tử và bán dẫn với FPT tại Việt Nam. https://fpt.com/vi/tin-tuc/tin-fpt/vien-nghien-cuu-nano-va-vi-dien-tu-hang-dau-cua-duc-trao-doi-ve-co-hoi-hop-tac-voi-fp
German Agency for International Cooperation (2025). Support to Viet Nam for the implementation of the Paris Agreement II. https://www.international-climate-initiative.com/en/project/support-to-viet-nam-for-the-implementation-of-the-paris-agreement-ii-23-i-508-vnm-g-implementing-pa-ii-ifp/
NAFOSTED (2026). NAFOSTED thúc đẩy hợp tác nghiên cứu ứng dụng và kết nối doanh nghiệp tại CHLB Đức. https://nafosted.gov.vn/nafosted-thuc-day-hop-tac-nghien-cuu-ung-dung-va-ket-noi-doanh-nghiep-tai-chlb-duc/
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2025). Ký kết thỏa thuận triển khai dự án “Thúc đẩy chuyển đổi ngành năng lượng tại Việt Nam”. https://evn.com.vn/d/vi-VN/news/Ky-ket-thoa-thuan-thuc-hien-du-an-Thuc-day-chuyen-dich-nganh-nang-luong-tai-Viet-Nam-60-635-501081
Thảo Miên (2023). Đức sẽ cung cấp 61 triệu Euro cho hợp tác phát triển với Việt Nam trong 2 năm tới. Thời báo Tài chính. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/duc-se-cung-cap-61-trieu-euro-cho-hop-tac-phat-trien-voi-viet-nam-trong-2-nam-toi-139202.html
Văn phòng Chính phủ (2026). NIC bắt tay với TU Berlin thúc đẩy kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp giữa Việt Nam – Đức. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/nic-bat-tay-voi-tu-berlin-thuc-day-ket-noi-he-sinh-thai-doi-moi-sang-tao-va-khoi-nghiep-giua-viet-nam-duc-102260324203351041.htm



