Truyền thông trong hoạt động thư viện tại các cơ sở giáo dục đại học công lập trong bối cảnh chuyển đổi số

Library communication in public higher education institutions in the context of digital transformation

ThS. Nguyễn Văn Thủy
Học viện Hành chính và Quản trị công

(Quanlynhanhuoc.vn) – Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đại học, thư viện đang chuyển dịch từ mô hình cung cấp tài liệu truyền thống sang không gian tri thức, học liệu số và dịch vụ học thuật đa nền tảng. Sự chuyển dịch đó đặt ra yêu cầu đổi mới truyền thông thư viện, không chỉ ở việc quảng bá nguồn lực và dịch vụ mà còn ở khả năng kết nối, hướng dẫn, đối thoại và duy trì quan hệ với người học, giảng viên, nhà nghiên cứu và các bên liên quan. Trên cơ sở tổng quan tài liệu, phân tích chính sách và tham chiếu một số thực hành công khai tại các thư viện đại học công lập ở Việt Nam, bài viết làm rõ nội hàm truyền thông thư viện trong môi trường số, nhận diện những xu hướng nổi bật và các vấn đề đang đặt ra, từ đó, đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng truyền thông thư viện đại học công lập trong tiến trình chuyển đổi số.

Từ khóa: Truyền thông thư viện; thư viện đại học; chuyển đổi số; quan hệ công chúng; truyền thông số.

Abstract: Against the backdrop of digital transformation in higher education, libraries are shifting from a traditional model of providing materials to becoming spaces for knowledge, digital learning resources, and cross-platform academic services. This shift necessitates innovation in library communication—not only in promoting resources and services but also in the ability to connect with, guide, engage in dialogue with, and maintain relationships with students, faculty, researchers, and other stakeholders. Based on a review of the literature, policy analysis, and a reference to selected public practices at public university libraries in Vietnam, this article clarifies the essence of library communication in the digital environment, identifies prominent trends and emerging challenges, and proposes several directions to enhance the quality of library communication at public universities during the digital transformation process.

Keywords: Library communication; academic libraries; digital transformation; public relations; digital communication.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang làm thay đổi toàn diện hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, từ quản trị, đào tạo, nghiên cứu đến cung cấp học liệu và dịch vụ hỗ trợ người học. Trong cấu trúc đó, thư viện là một trong những bộ phận chịu tác động trực tiếp và rõ nét nhất. Tài nguyên in được bổ sung bởi tài nguyên số; hoạt động mượn – trả được mở rộng bằng truy cập từ xa; không gian vật lý được kết nối với thư viện số, cơ sở dữ liệu, kho học liệu và các nền tảng hỗ trợ nghiên cứu. Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2020);  Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo (Thủ tướng Chính phủ, 2022); cùng Thông tư số 14/2023/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn thư viện cơ sở giáo dục đại học đã tạo nền tảng chính sách quan trọng cho quá trình này (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023).

Tuy nhiên, số hóa tài nguyên và xây dựng hạ tầng công nghệ chưa đồng nghĩa với chuyển đổi số thành công. Một cơ sở dữ liệu có giá trị nhưng người học không biết đến; một cổng thư viện số có nhiều chức năng nhưng khó sử dụng; một chương trình tập huấn hữu ích nhưng thông tin không đến đúng nhóm đối tượng; hay một kênh mạng xã hội thường xuyên cập nhật nhưng thiếu tương tác đều cho thấy, khoảng cách giữa năng lực cung cấp của thư viện và khả năng tiếp nhận của công chúng. Khoảng cách này đặt truyền thông vào vị trí không thể xem nhẹ trong quản trị thư viện hiện đại.

Trong nhiều năm, hoạt động này thường được gọi dưới các tên như: marketing thư viện, quảng bá thư viện, tuyên truyền giới thiệu sách, hướng dẫn người dùng tin hoặc truyền thông dịch vụ. Mỗi cách gọi phản ánh một góc độ khác nhau. Marketing nhấn mạnh nhu cầu và khả năng đưa sản phẩm, dịch vụ đến người sử dụng; nghiệp vụ thư viện chú trọng cung cấp và hướng dẫn khai thác nguồn tin; trong khi quan hệ công chúng quan tâm nhiều hơn tới nhận thức, đối thoại, niềm tin, sự hài lòng và chất lượng mối quan hệ giữa tổ chức với các nhóm công chúng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, truyền thông thư viện cần tích hợp các chiều cạnh đó và chuyển từ logic “thông báo những gì thư viện có” sang logic “giúp công chúng nhận biết, tiếp cận, sử dụng và đồng hành với giá trị mà thư viện tạo ra”.

Từ cách tiếp cận trên, bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: (1) Nội hàm và vai trò của truyền thông thư viện tại các cơ sở giáo dục đại học công lập trong bối cảnh chuyển đổi số; (2) Một số biểu hiện và xu hướng thực tiễn nhìn từ những thư viện đại học có hoạt động số và truyền thông tương đối rõ nét ở ba khu vực Bắc – Trung – Nam; (3) Những vấn đề đặt ra và định hướng nâng cao chất lượng truyền thông thư viện trong giai đoạn tới. Các thư viện được đề cập trong bài chỉ đóng vai trò ví dụ tham khảo từ nguồn công khai, không được sử dụng như một mẫu khảo sát đại diện hay căn cứ để xếp hạng giữa các cơ sở.

2. Cơ sở lý luận về truyền thông thư viện trong môi trường số

Truyền thông thư viện có thể được hiểu là quá trình thư viện chủ động tạo lập, tổ chức và trao đổi thông tin với các nhóm công chúng nhằm giúp họ nhận biết, hiểu, tiếp cận và sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản phẩm, dịch vụ và các giá trị học thuật mà thư viện cung cấp; đồng thời tạo cơ chế tiếp nhận phản hồi để cải thiện hoạt động và duy trì quan hệ lâu dài. Khái niệm này rộng hơn quảng bá, bởi truyền thông không chỉ diễn ra ở giai đoạn giới thiệu sản phẩm mà xuyên suốt hành trình người dùng: từ khi hình thành nhu cầu, tìm kiếm thông tin, truy cập hệ thống, sử dụng dịch vụ, nhận hỗ trợ đến đánh giá và quay lại sử dụng.

Các nghiên cứu về marketing và mạng xã hội trong thư viện cho thấy kênh số đã trở thành một bộ phận quan trọng của hoạt động giao tiếp với người sử dụng. Thư viện đại học sử dụng Facebook, Twitter, blog, wiki, YouTube và các công cụ nhắn tin cho nhiều mục tiêu, từ thông báo đến hỗ trợ trực tuyến. Mức độ hiện diện của mạng xã hội tại các thư viện đại học gia tăng theo thời gian nhưng chiến lược sử dụng không đồng nhất, nội dung và cách thể hiện có quan hệ với mức độ tham gia của người dùng, sự hiện diện trên nhiều nền tảng là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để tạo nên truyền thông hiệu quả.

Dưới góc độ quan hệ công chúng, khác biệt giữa truyền thông một chiều và truyền thông hai chiều nói lên niềm tin, sự hài lòng, cam kết và quyền kiểm soát lẫn nhau để đánh giá chất lượng quan hệ, phát triển nguyên tắc truyền thông đối thoại trên môi trường web, trong đó vòng phản hồi và thông tin hữu ích có vai trò quan trọng. Khi vận dụng vào thư viện đại học, các tiếp cận này cho phép nhìn truyền thông không chỉ bằng số bài đăng, lượt xem hoặc lượt tiếp cận, mà bằng khả năng hình thành quan hệ tin cậy, hỗ trợ học tập – nghiên cứu và duy trì hành vi sử dụng dịch vụ.

Trong môi trường học thuật số, thư viện đồng thời là nơi cung cấp tài nguyên, hỗ trợ năng lực thông tin, kết nối hoạt động đào tạo – nghiên cứu và tham gia kiến tạo cộng đồng học thuật. Vì vậy, truyền thông thư viện cần được tích hợp với quá trình thiết kế dịch vụ, quản trị dữ liệu, hỗ trợ người dùng và phát triển trải nghiệm. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa truyền thông thư viện trong bối cảnh chuyển đổi số với mô hình tuyên truyền, giới thiệu sách hoặc thông báo nghiệp vụ theo cách truyền thống.

3. Truyền thông thư viện đại học công lập trong bối cảnh chuyển đổi số

Quan sát từ các kênh công khai cho thấy, truyền thông thư viện đại học ở Việt Nam đang dịch chuyển theo ba hướng đáng chú ý. Thứ nhất, thư viện ngày càng mở rộng hệ sinh thái kênh, kết nối website, cổng tra cứu, thư viện số, cơ sở dữ liệu, mạng xã hội, video hướng dẫn, email, chương trình tập huấn và sự kiện học thuật. Thứ hai, nội dung truyền thông dần vượt ra ngoài thông báo giờ mở cửa, sách mới hay nội quy để bao gồm hướng dẫn khai thác cơ sở dữ liệu, kỹ năng tìm kiếm, liêm chính học thuật, công bố khoa học, văn hóa đọc và sử dụng công nghệ. Thứ ba, một số thư viện bắt đầu tái định vị vai trò từ “nơi lưu giữ và cung cấp tài liệu” sang “không gian tri thức”, “trung tâm học liệu”, “trung tâm tri thức số” hoặc đầu mối hỗ trợ nghiên cứu.

Bảng 1. Một số thư viện đại học được sử dụng làm ví dụ tham khảo

Khu vựcĐơn vị thư việnKhía cạnh tham chiếu
BắcTrung tâm Thư viện và Tri thức số – Đại học Quốc gia Hà NộiĐịnh vị tri thức số, hệ sinh thái học liệu và dịch vụ.
BắcThư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách khoa Hà NộiKết nối website, OPAC, thư viện số và nội dung hướng dẫn người dùng.
TrungTrung tâm Học liệu số – Đại học HuếCông khai tài nguyên, cơ sở dữ liệu, không gian và hướng dẫn khai thác.
TrungTrung tâm CNTT và Học liệu – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà NẵngMô hình tích hợp công nghệ thông tin, học liệu và truyền thông.
NamThư viện Trung tâm – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí MinhDịch vụ trực tuyến, tập huấn, hoạt động học thuật và hệ thống liên thư viện.
NamThư viện Đại học Cần ThơTruyền thông được xác lập trong chức năng, gắn với dịch vụ và kỹ năng thông tin.

Ở khu vực phía Bắc, Trung tâm Thư viện và Tri thức số – Đại học Quốc gia Hà Nội là ví dụ về xu hướng tái định vị thư viện trong hệ sinh thái tri thức số. Việc sử dụng khái niệm “tri thức số”, cùng các nội dung giới thiệu hệ sinh thái học liệu, không gian học thuật và dịch vụ số, cho thấy truyền thông được sử dụng như một công cụ định vị vai trò tổ chức. Thư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách khoa Hà Nội thể hiện một hướng khác, khi các kênh website, OPAC, thư viện số, Facebook, YouTube và tài liệu hướng dẫn hỗ trợ trực tiếp hành trình sử dụng dịch vụ của sinh viên. Hai ví dụ này cho thấy, truyền thông số không chỉ nhằm tăng mức độ hiện diện mà còn có thể tham gia giải thích cách sử dụng và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực thư viện.

Tại miền Trung, Trung tâm Học liệu số – Đại học Huế cho thấy lợi thế của việc công khai tương đối rõ tài nguyên, cơ sở dữ liệu, không gian học tập và hướng dẫn khai thác. Đây là dạng truyền thông nhấn mạnh tính minh bạch và khả năng định hướng sử dụng. Trong khi đó, Trung tâm Công nghệ thông tin và Học liệu – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng là ví dụ về mô hình tổ chức tích hợp công nghệ thông tin, học liệu và truyền thông. Mô hình này gợi mở khả năng phối hợp chặt hơn giữa hạ tầng số, nội dung, website và hoạt động truyền thông của nhà trường, đồng thời đặt ra yêu cầu nhận diện rõ vai trò riêng của truyền thông thư viện trong một cấu trúc đa chức năng.

Ở phía Nam, Thư viện Trung tâm – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện sự đa dạng của truyền thông gắn với dịch vụ trực tuyến, cơ sở dữ liệu, tập huấn, hoạt động văn hóa đọc, hội nghị chuyên môn và kết nối hệ thống thư viện thành viên. Thư viện Đại học Cần Thơ đáng chú ý ở việc chức năng truyền thông quảng bá dịch vụ, tài nguyên và hoạt động thư viện được nêu trong nhiệm vụ chính thức; cùng với đó là các hoạt động hỗ trợ kỹ năng thông tin và kết nối học thuật. Những ví dụ này phản ánh xu hướng thư viện ngày càng chủ động xác lập vai trò truyền thông như một phần của chức năng phục vụ, thay vì hoạt động bổ trợ phát sinh.

Các trường hợp trên không đủ để khái quát định lượng cho toàn bộ hệ thống thư viện đại học công lập. Tuy nhiên, chúng có giá trị tham chiếu ở chỗ cho thấy sự đa dạng về mô hình tổ chức và cách thức truyền thông: có thư viện nhấn mạnh tái định vị tri thức số; có thư viện tập trung vào hướng dẫn hành trình sử dụng; có đơn vị nổi bật ở minh bạch nguồn lực; có mô hình tích hợp giữa công nghệ, học liệu và truyền thông; có hệ thống liên thư viện đa tầng; và có đơn vị xác lập truyền thông như một nhiệm vụ tổ chức chính thức. Từ đó có thể nhận diện một số vấn đề chung cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

4. Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông thư viện đại học công lập

Thứ nhất, truyền thông thư viện cần chuyển từ tư duy phát tin sang tư duy nghiên cứu công chúng. Người học năm thứ nhất, sinh viên làm khóa luận, học viên cao học, nghiên cứu sinh, giảng viên và nhà nghiên cứu có nhu cầu rất khác nhau. Nếu cùng một nội dung được gửi tới mọi nhóm theo một cách giống nhau, khả năng tạo giá trị sẽ thấp. Phân đoạn công chúng, nhận diện nhu cầu, rào cản, năng lực số và thời điểm phát sinh nhu cầu là điều kiện để thư viện thiết kế thông điệp và dịch vụ phù hợp.

Thứ hai, chất lượng nội dung phải trở thành yếu tố trung tâm. Trong môi trường dư thừa thông tin, thư viện không chỉ cạnh tranh về sự chú ý mà còn có trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác, rõ ràng, hữu ích và có khả năng hành động. Nội dung truyền thông cần giúp người dùng giải quyết vấn đề cụ thể: tìm tài liệu cho một học phần, truy cập cơ sở dữ liệu từ xa, quản lý trích dẫn, nhận diện nguồn tin đáng tin cậy, sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, tránh vi phạm bản quyền hoặc chuẩn bị công bố khoa học.

Thứ ba, đa kênh cần đi cùng tích hợp. Việc có website, fanpage, YouTube, email và thư viện số không bảo đảm trải nghiệm liền mạch nếu thông điệp không nhất quán, đường dẫn rời rạc, thông tin cập nhật khác nhau hoặc người dùng phải lặp lại nhiều bước. Truyền thông tích hợp đòi hỏi sự phối hợp về nhận diện, nội dung, lịch truyền thông, quản trị tài khoản, phản hồi và dữ liệu đo lường.

Thứ tư, đối thoại và hỗ trợ phải được coi là một chức năng cốt lõi. Mạng xã hội và các nền tảng số cho phép thư viện tiếp nhận câu hỏi, phản hồi, gợi ý và tổ chức cộng đồng người dùng. Nếu chỉ sử dụng các kênh này để đăng thông báo, thư viện chưa khai thác đầy đủ năng lực tương tác của môi trường số. Các hình thức tư vấn trực tuyến, hỏi – đáp, lịch hẹn với cán bộ thư viện, đại sứ thư viện hoặc cộng đồng học thuật có thể giúp tăng chất lượng quan hệ và mức độ tham gia.

Thứ năm, truyền thông thư viện gắn trực tiếp với quản trị dữ liệu, bản quyền và an ninh mạng. Hoạt động truyền thông số có thể liên quan đến tài khoản, dữ liệu truy cập, hình ảnh người dùng, tài liệu điện tử và nội dung có quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, phát triển truyền thông phải song hành với nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, phân quyền, bảo mật, tuân thủ bản quyền, kiểm chứng thông tin và có quy trình xử lý sự cố. Đây không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là nền tảng của niềm tin.

Thứ sáu, đo lường hiệu quả cần vượt khỏi các chỉ số bề mặt. Số lượng bài đăng, lượt tiếp cận, lượt thích hoặc số người tham dự phản ánh đầu ra, nhưng chưa cho biết truyền thông có giúp người dùng hiểu hơn, tìm nhanh hơn, sử dụng nhiều hơn, hài lòng hơn hay tin tưởng thư viện hơn hay không. Trong dài hạn, thư viện cần kết hợp các chỉ số kỹ thuật với khảo sát người dùng, phản hồi sau dịch vụ và dữ liệu vận hành đã được quản trị phù hợp để đánh giá tác động thực chất.

5. Định hướng nâng cao chất lượng truyền thông thư viện trong tiến trình chuyển đổi số

Một là, xây dựng định hướng truyền thông gắn với chiến lược phát triển thư viện và chiến lược chuyển đổi số của cơ sở giáo dục đại học. Mục tiêu truyền thông cần xuất phát từ mục tiêu đào tạo, nghiên cứu, phát triển văn hóa đọc, nâng cao năng lực thông tin và phục vụ cộng đồng. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng truyền thông chỉ chạy theo số lượng tin, bài hoặc sự kiện mà thiếu tiêu chí về giá trị tạo ra cho người dùng.

Hai là, tổ chức nội dung theo hành trình và nhu cầu của công chúng. Thay vì chỉ phân loại nội dung theo chức năng nghiệp vụ, thư viện có thể thiết kế các chuỗi truyền thông tương ứng với những thời điểm quan trọng như nhập học, bắt đầu học phần, làm khóa luận, học sau đại học, triển khai đề tài, chuẩn bị công bố hoặc khai thác tài liệu chuyên sâu. Cách tiếp cận theo hành trình giúp thông tin xuất hiện đúng lúc, đúng đối tượng và gắn với hành động cụ thể.

Ba là, phát triển nội dung học thuật có giá trị cao. Bên cạnh thông báo dịch vụ, thư viện cần tăng tỷ trọng nội dung hướng dẫn tìm kiếm và đánh giá thông tin, quản lý trích dẫn, dữ liệu nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, liêm chính học thuật, xuất bản khoa học, sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm và nhận diện các nguồn không đáng tin cậy. Đây là nhóm nội dung thể hiện năng lực chuyên môn và củng cố vị thế của thư viện như một đối tác học thuật.

Bốn là, tăng cường cơ chế tương tác hai chiều. Các kênh số nên được thiết kế để tiếp nhận câu hỏi, tư vấn, phản hồi và gợi ý cải tiến. Thư viện có thể phát triển dịch vụ tham khảo trực tuyến, phiên tư vấn định kỳ, nhóm cộng đồng, mạng lưới cộng tác viên hoặc đại sứ thư viện trong sinh viên. Điều quan trọng không phải là tạo thêm nhiều kênh, mà là bảo đảm người dùng biết hỏi ở đâu, nhận phản hồi khi nào và phản hồi của họ được sử dụng như thế nào.

Năm là, chuẩn hóa quản trị kênh và bảo đảm an toàn thông tin. Mỗi thư viện cần xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm, quy trình biên tập – phê duyệt, nguyên tắc sử dụng hình ảnh và dữ liệu, phân quyền tài khoản, quy trình lưu trữ, xử lý phản hồi tiêu cực và sự cố. Việc chuẩn hóa này đặc biệt cần thiết trong các mô hình tích hợp hoặc liên thư viện, nơi một thông tin có thể được chia sẻ qua nhiều đơn vị và nền tảng.

Sáu là, xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả truyền thông theo nhiều tầng. Ở tầng đầu ra có thể theo dõi số nội dung, mức tiếp cận, lượt truy cập và tham dự. Ở tầng kết quả cần đo mức nhận biết, khả năng tìm thấy và sử dụng dịch vụ, mức độ hài lòng, niềm tin, ý định tiếp tục sử dụng và giới thiệu thư viện. Việc đánh giá định kỳ sẽ giúp truyền thông chuyển từ hoạt động mang tính kinh nghiệm sang hoạt động quản trị dựa trên dữ liệu.

6. Giá trị và hướng nghiên cứu tiếp theo

Giá trị của bài viết nằm ở việc đặt truyền thông thư viện trong mối quan hệ trực tiếp với chuyển đổi số và quản trị quan hệ công chúng, thay vì chỉ xem đây là hoạt động quảng bá. Cách tiếp cận này mở rộng phạm vi nghiên cứu từ “kênh truyền thông” sang toàn bộ quá trình tạo giá trị, gồm: nghiên cứu công chúng, thiết kế nội dung, kết nối dịch vụ, tương tác, bảo đảm dữ liệu và đánh giá hiệu quả. Đồng thời, việc tham chiếu một số thư viện ở ba khu vực giúp minh họa sự đa dạng của thực tiễn mà không tạo ra những kết luận vượt quá dữ liệu hiện có.

Các nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển theo ba hướng. Thứ nhất, khảo sát định lượng người sử dụng tại một số cơ sở giáo dục đại học công lập để đo nhận biết, trải nghiệm, niềm tin, sự hài lòng và hành vi sử dụng dịch vụ thư viện số. Thứ hai, nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn lãnh đạo thư viện, cán bộ truyền thông – công nghệ và người dùng để làm rõ cơ chế tổ chức, nguồn lực và quy trình phối hợp. Thứ ba, phân tích nội dung và dữ liệu số theo cùng một hệ tiêu chí để so sánh mô hình truyền thông giữa các loại hình trường, khu vực hoặc giai đoạn. Những hướng này sẽ cung cấp cơ sở thực chứng vững chắc hơn cho việc xây dựng mô hình truyền thông thư viện đại học công lập ở Việt Nam.

7. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số, truyền thông thư viện tại các cơ sở giáo dục đại học công lập Việt Nam đang đứng trước yêu cầu thay đổi cả về tư duy, nội dung và phương thức tổ chức. Thư viện không chỉ cần “có mặt” trên môi trường số mà phải làm cho tài nguyên và dịch vụ trở nên dễ nhận biết, dễ tiếp cận, dễ sử dụng và có khả năng tạo ra quan hệ bền vững với công chúng học thuật. Những ví dụ tham khảo từ một số thư viện ở  3 khu vực Bắc – Trung – Nam cho thấy xu hướng chung là mở rộng hệ sinh thái kênh, phát triển dịch vụ số, tăng nội dung hướng dẫn và từng bước tái định vị vai trò thư viện trong hệ sinh thái tri thức của nhà trường.

Để truyền thông thực sự trở thành động lực của chuyển đổi số thư viện, trọng tâm cần chuyển từ quảng bá đơn lẻ sang quản trị công chúng và trải nghiệm; từ số lượng nội dung sang chất lượng và giá trị sử dụng; từ truyền tin một chiều sang đối thoại; từ hiện diện đa kênh sang tích hợp; và từ đo lượt tiếp cận sang đánh giá thay đổi trong nhận thức, hành vi, niềm tin và sự hài lòng. Đây cũng là hướng tiếp cận cần được tiếp tục kiểm chứng bằng khảo sát thực địa và dữ liệu thực chứng trong các nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Thông tư số 14/2023/TT-BGDĐT ngày 17/7/2023 quy định tiêu chuẩn thư viện cơ sở giáo dục đại học.
Phan Thị Hà Thanh (2021). Thư viện đại học và hoạt động thông tin trong môi trường học thuật số. Thông tin và Tư liệu, (4), 20-27.
Quốc hội (2019). Luật Thư viện số 46/2019/QH14 ngày 21/11/2019.
Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022–2025, định hướng đến năm 2030.
Trung tâm Công nghệ thông tin và Học liệu – Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng (2026). Giới thiệu chức năng, nhiệm vụ. Truy cập ngày 06/8/2026, từ https://itlr.ufl.udn.vn/?page_id=262.
Trung tâm Học liệu số – Đại học Huế. (2026). Tài nguyên – Cơ sở vật chất. Truy cập ngày 06/8/2026, từ https://lrc.hueuni.edu.vn/Page/tai-nguyen-co-so-vat-chat
Trung tâm Thư viện và Tri thức số – Đại học Quốc gia Hà Nội. (2025). Tổng quan học liệu Trung tâm Thư viện và Tri thức số. https://lic.vnu.edu.vn/.
Thư viện Đại học Cần Thơ (2025). Giới thiệu chung và chức năng, nhiệm vụ. https://lrc.ctu.edu.vn/index.php/mnu-gioi-thieu.
Thư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách khoa Hà Nội (2023). Hướng dẫn sử dụng thư viện dành cho sinh viên khóa 68. https://library.hust.edu.vn/
Thư viện Trung tâm – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Cổng thông tin, dịch vụ và tin tức thư viện. Truy cập ngày 06/8/2026, từ https://vnulib.edu.vn/.
Vũ Quỳnh Nhung (2017). Marketing thư viện trong thời đại số. Kỷ yếu hội thảo Sự nghiệp Thông tin – Thư viện Việt Nam đổi mới và hội nhập quốc tế.