Digital transformation in the management of training and professional development for cadres and civil servants
TS. Phạm Quang Quyền
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: quyenpq@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích yêu cầu đổi mới quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số khu vực công. Trên cơ sở tiếp cận chuyển đổi số như một quá trình tái cấu trúc quy trình quản lý đào tạo dựa trên dữ liệu, bài viết đề xuất mô hình hệ thống quản lý học tập liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã, gắn với cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và đơn vị sử dụng cán bộ, công chức. Mô hình này hướng tới quản lý thống nhất nhu cầu bồi dưỡng, hồ sơ học tập, lộ trình phát triển năng lực, kết quả học tập và đánh giá sau bồi dưỡng. Bài viết đồng thời làm rõ yêu cầu quản trị dữ liệu và sử dụng dữ liệu phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
Từ khóa: Chuyển đổi số; quản lý đào tạo, bồi dưỡng; cán bộ, công chức; hệ thống quản lý học tập; chính quyền địa phương hai cấp; quản trị dữ liệu đào tạo.
Abstract: This article analyzes the need for innovation in the management of training and professional development for officials and civil servants in the context of a two-tier local government system and the acceleration of digital transformation in the public sector. Based on an approach to digital transformation as a process of restructuring data-driven training management processes, the article proposes a model for an integrated learning management system linking the provincial and commune levels, connecting training institutions, administrative agencies, and the organizations that employ officials and civil servants. This model aims to provide unified management of training needs, learning records, competency development pathways, learning outcomes, and post-training evaluations. The article also clarifies the requirements for data governance and data utilization to enhance the quality of training and professional development.
Keywords: Digital transformation; training management; cadres and civil servants; learning management system; two-tier local government; training data governance.
1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số mở ra điều kiện quan trọng để đổi mới quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong lĩnh vực này không nên hiểu đơn giản là tổ chức lớp học trực tuyến, số hóa tài liệu hay sử dụng phần mềm điểm danh, mà cần được tiếp cận như một quá trình tái cấu trúc quy trình quản lý đào tạo dựa trên dữ liệu. Điều đó đòi hỏi phải hình thành hệ thống quản lý học tập có khả năng liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã, kết nối với cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý cán bộ, công chức và đơn vị sử dụng cán bộ, công chức. Thông qua hệ thống này, các dữ liệu về vị trí việc làm, nhu cầu bồi dưỡng, hồ sơ học tập, kết quả đánh giá, lộ trình phát triển năng lực và mức độ vận dụng sau bồi dưỡng có thể được quản lý thống nhất, cập nhật thường xuyên và khai thác phục vụ ra quyết định.
Đối với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu liên thông dữ liệu và phối hợp giữa các chủ thể càng trở nên cấp thiết. Cấp tỉnh cần dữ liệu để hoạch định, điều phối và giám sát chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; cấp xã cần dữ liệu để xác định nhu cầu thực tế, theo dõi năng lực đội ngũ và đánh giá hiệu quả vận dụng sau học tập; cơ sở đào tạo cần dữ liệu để thiết kế chương trình, học liệu và phương pháp phù hợp hơn. Vì vậy, bài viết tập trung phân tích yêu cầu đổi mới quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp; đề xuất mô hình hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp; đồng thời làm rõ yêu cầu quản trị dữ liệu đào tạo nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng, phát triển năng lực số và đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền số, chính quyền phục vụ.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của chuyển đổi số trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chuyển đổi số trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức không phải là một yêu cầu mang tính kỹ thuật đơn lẻ, mà là kết quả của sự hội tụ giữa chủ trương đổi mới quản trị quốc gia, cải cách nền công vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính, phát triển chính quyền số và quản trị dữ liệu trong khu vực công. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu này có cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn rõ ràng.
Trước hết, về cơ sở chính trị. Chuyển đổi số đã được xác định là một trong những động lực quan trọng để đổi mới phương thức quản trị quốc gia, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới. Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác định chuyển đổi số là quá trình đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và phương thức sống, làm việc của người dân (Thủ tướng Chính phủ, 2020a). Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển chính phủ số dựa trên dữ liệu, cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn và phục vụ người dân tốt hơn (Thủ tướng Chính phủ, 2020b).
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi (Bộ Chính trị, 2024). Điều này cho thấy, phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức không chỉ là một nội dung bồi dưỡng chuyên môn, mà còn là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công chuyển đổi số trong hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước.
Thứ hai, về cơ sở pháp lý. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã (Quốc hội, 2025). Sự thay đổi này làm thay đổi căn bản cơ chế tổ chức, phân công, phân cấp và vận hành chính quyền địa phương. Cùng với đó, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 (Quốc hội, 2025b), Nghị định số 170/2025/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, Nghị định số 171/2025/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức và Thông tư số 03/2026/TT-BNV hướng dẫn một số quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho việc quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức trong bối cảnh mới. Những văn bản này đặt ra yêu cầu quản lý công chức theo vị trí việc làm, gắn đào tạo, bồi dưỡng với tiêu chuẩn, điều kiện, chức trách, nhiệm vụ và nhu cầu phát triển năng lực. Đây là cơ sở để chuyển đổi công tác đào tạo, bồi dưỡng từ cách làm định kỳ, hành chính sang cách làm có căn cứ dữ liệu, có khả năng theo dõi, đánh giá và điều chỉnh liên tục.
Thứ ba, về cơ sở pháp lý liên quan đến dữ liệu. Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Nghị định số 85/2016/NĐ-CP về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ tạo lập nền tảng pháp lý cho việc xây dựng, quản trị, kết nối, chia sẻ, khai thác và bảo vệ dữ liệu trong cơ quan nhà nước. Đối với quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, các quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dữ liệu đào tạo, bồi dưỡng không phải là dữ liệu đơn giản về lớp học, lịch học hoặc điểm danh, mà bao gồm thông tin liên quan đến hồ sơ cá nhân, vị trí việc làm, quá trình công tác, năng lực, kết quả học tập, chứng chỉ, đánh giá của người học, đánh giá của cơ quan sử dụng và mức độ vận dụng sau bồi dưỡng. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống quản lý học tập liên thông phải bảo đảm đồng thời hai yêu cầu: khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng quản lý và bảo vệ dữ liệu để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Thứ tư, về cơ sở thực tiễn. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp làm gia tăng mạnh nhu cầu bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng thiết thực, kịp thời, linh hoạt và cá nhân hóa. Khi nhiều nhiệm vụ được phân cấp về cấp xã, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải trực tiếp tiếp nhận, xử lý, giải quyết các công việc vốn trước đây có sự tham gia của cấp huyện. Điều này dẫn đến 3 thay đổi đáng chú ý. Một là, yêu cầu năng lực của công chức cấp xã tăng lên cả về chiều rộng và chiều sâu. Công chức không chỉ nắm quy trình hành chính, mà còn phải hiểu pháp luật chuyên ngành, sử dụng hệ thống thông tin, khai thác dữ liệu, giao tiếp với người dân, phối hợp với sở, ngành cấp tỉnh và xử lý tình huống phát sinh. Hai là, khối lượng công việc và áp lực thời hạn giải quyết thủ tục hành chính tăng lên, khiến việc bố trí cán bộ, công chức tham gia các lớp bồi dưỡng tập trung dài ngày trở nên khó khăn hơn. Ba là, nhu cầu học tập trở nên phân hóa mạnh theo địa bàn, lĩnh vực, nhiệm vụ và trình độ cá nhân. Những thay đổi này đòi hỏi mô hình đào tạo, bồi dưỡng phải linh hoạt hơn, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, giữa học tập đồng bộ và học tập theo tiến độ cá nhân, giữa bồi dưỡng kiến thức nền tảng và bồi dưỡng kỹ năng xử lý tình huống.
Thứ năm, thực tiễn chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Nhiều cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và địa phương đã bước đầu triển khai lớp học trực tuyến, kho học liệu điện tử, phần mềm quản lý lớp học, điểm danh bằng công nghệ, kiểm tra trực tuyến hoặc cấp chứng nhận điện tử. Tuy nhiên, các hoạt động này trong nhiều trường hợp mới dừng ở mức tin học hóa từng khâu, chưa hình thành hệ sinh thái quản lý đào tạo dựa trên dữ liệu. Việc học trực tuyến nhiều khi chỉ thay thế phòng học vật lý bằng phòng học trực tuyến, trong khi quy trình khảo sát nhu cầu, thiết kế chương trình, cá nhân hóa nội dung, theo dõi tiến trình học tập, đánh giá sau bồi dưỡng và liên thông với hồ sơ cán bộ, công chức chưa được đổi mới tương ứng. Do đó, cần phân biệt rõ giữa ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Ứng dụng công nghệ thông tin chủ yếu hỗ trợ thực hiện nhanh hơn một số tác nghiệp hiện có; còn chuyển đổi số đòi hỏi thiết kế lại quy trình, tổ chức lại dữ liệu, thay đổi cách ra quyết định và hình thành phương thức quản trị mới.
3. Yêu cầu đổi mới quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Từ tháng 7/2025, việc vận hành chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp đã làm thay đổi căn bản phương thức quản trị, điều hành và thực thi nhiệm vụ, qua đó đặt ra yêu cầu đổi mới đồng bộ công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Trước hết, cần nhận diện đúng sự thay đổi về đối tượng bồi dưỡng. Trong mô hình mới, cán bộ, công chức cấp xã không còn chỉ thực hiện các nhiệm vụ hành chính cơ sở theo phạm vi truyền thống, mà trực tiếp vận hành một cấp chính quyền có quy mô lớn hơn, phạm vi nhiệm vụ rộng hơn và mức độ tương tác với người dân, doanh nghiệp cao hơn. Do đó, quản lý đào tạo, bồi dưỡng phải chuyển từ cách tiếp cận theo nhóm đối tượng chung sang cách tiếp cận theo vị trí việc làm, nhiệm vụ cụ thể và năng lực cần đạt, bởi cùng là công chức cấp xã nhưng yêu cầu năng lực đối với lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, tư pháp, hộ tịch hay đất đai, xây dựng là khác nhau.
Trên nền tảng đó, công tác khảo sát nhu cầu cần được đổi mới theo hướng dựa trên dữ liệu thay vì chỉ dựa vào phiếu đăng ký hoặc kế hoạch định kỳ. Nhu cầu bồi dưỡng phải được xác định từ nhiều nguồn như dữ liệu vị trí việc làm, kết quả đánh giá công chức, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, phản ánh của người dân và kết quả kiểm tra năng lực. Sự kết hợp này là cơ sở để thực hiện nguyên tắc thiếu gì bồi dưỡng nấy, tránh học trùng lặp hoặc học chỉ để hoàn thiện hồ sơ. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo đó cần được thiết kế thành hai tầng: tầng cấp tỉnh bảo đảm cập nhật chủ trương, chính sách và yêu cầu thống nhất trong toàn địa phương; tầng cấp xã đáp ứng nhu cầu của từng nhóm vị trí việc làm và năng lực còn thiếu. Kế hoạch không chỉ xác định số lớp, số học viên, mà phải làm rõ năng lực đầu ra, đối tượng ưu tiên, hình thức tổ chức và cơ chế theo dõi sau bồi dưỡng, đồng thời giữ tính linh hoạt để bổ sung nội dung khi phát sinh nhiệm vụ mới.
Cùng với kế hoạch, chương trình và học liệu cần giảm tính lý thuyết chung, tăng nội dung tình huống, quy trình nghiệp vụ và hướng dẫn thao tác trên hệ thống thông tin, giúp người học biết tìm kiếm, phân tích và vận dụng quy định vào công vụ. Học liệu nên được thiết kế theo dạng mô-đun, dễ cập nhật, kèm ngân hàng câu hỏi, ngân hàng tình huống, biểu mẫu và video hướng dẫn. Phương thức tổ chức cũng phải linh hoạt, kết hợp giữa bồi dưỡng trực tiếp, trực tuyến và tự học có hướng dẫn, phù hợp với áp lực công việc lớn ở cấp xã: nội dung cần trao đổi sâu giữ hình thức trực tiếp, còn nội dung cập nhật văn bản hoặc hướng dẫn quy trình có thể triển khai trực tuyến theo tiến độ cá nhân.
Quản lý người học cần vượt khỏi phạm vi lập danh sách, điểm danh và cấp chứng nhận. Mỗi cán bộ, công chức cần có hồ sơ học tập số gắn với hồ sơ năng lực, phản ánh quá trình tham gia, kết quả kiểm tra, năng lực đã đạt và nội dung cần học tiếp. Khi liên thông với dữ liệu vị trí việc làm và đánh giá công chức, bồi dưỡng trở thành một phần của quản lý và phát triển đội ngũ. Tương ứng, việc đánh giá chất lượng cần thực hiện theo nhiều cấp độ: phản ứng của người học, kết quả học tập, mức độ vận dụng sau bồi dưỡng và tác động đối với hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị, đòi hỏi dữ liệu trước, trong và sau bồi dưỡng cùng sự tham gia của các chủ thể liên quan.
Cuối cùng, hiệu quả của toàn bộ quá trình phụ thuộc vào cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cấp tỉnh, cấp xã và cơ sở đào tạo. Cấp tỉnh giữ vai trò quản lý nhà nước, chuẩn hóa dữ liệu và kiểm tra chất lượng; cấp xã là nơi phát sinh nhu cầu và đánh giá hiệu quả vận dụng; cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm chuyên môn về chương trình, học liệu và kết quả học tập. Như vậy, đổi mới quản lý đào tạo, bồi dưỡng trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một quá trình toàn diện, bao gồm đổi mới tư duy, dữ liệu, quy trình, chương trình, phương thức tổ chức, quản lý người học, đánh giá và phối hợp. Trong quá trình đó, hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp đóng vai trò hạ tầng quản trị trung tâm, nhưng chỉ có ý nghĩa khi được thiết kế đúng bản chất là công cụ quản lý đào tạo dựa trên dữ liệu, không phải chỉ là một phần mềm dạy học trực tuyến.
4. Mô hình hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có thể được hiểu là một nền tảng số được thiết kế để quản lý thống nhất hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giữa cấp tỉnh và cấp xã, đồng thời kết nối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, cơ quan quản lý cán bộ, công chức và cơ quan sử dụng cán bộ, công chức. Mục tiêu của hệ thống không chỉ là tổ chức lớp học trực tuyến, mà là quản lý toàn bộ chu trình đào tạo, bồi dưỡng: từ xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch, thiết kế chương trình, phân bổ người học, tổ chức học tập, kiểm tra, đánh giá, cấp xác nhận hoàn thành, lưu trữ hồ sơ học tập, đánh giá sau bồi dưỡng đến khai thác dữ liệu phục vụ quản lý đội ngũ.
Mô hình này cần được thiết kế theo nguyên tắc liên thông hai chiều, trong đó liên thông dọc là sự kết nối giữa cấp tỉnh và cấp xã. Cấp tỉnh có thể theo dõi tổng thể tình hình bồi dưỡng của toàn địa phương, phân tích nhu cầu theo từng xã, phường, đặc khu, từng nhóm vị trí việc làm, từng lĩnh vực chuyên môn và từng nhóm năng lực. Cấp xã có thể cập nhật nhu cầu, đề xuất cán bộ, công chức tham gia bồi dưỡng, theo dõi kết quả học tập, xác nhận mức độ vận dụng sau bồi dưỡng và phản hồi chất lượng chương trình. Liên thông ngang là sự kết nối giữa các chủ thể cùng tham gia vào chu trình đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm cơ quan nội vụ, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức, giảng viên, báo cáo viên và người học. Sự liên thông này giúp giảm tình trạng dữ liệu phân tán, trùng lặp hoặc không thống nhất giữa các hệ thống.
Về chủ thể, mô hình hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp bao gồm ít nhất sáu nhóm. Nhóm thứ nhất là cơ quan quản lý cán bộ, công chức cấp tỉnh, có vai trò quản trị tổng thể, phê duyệt kế hoạch, ban hành quy chế vận hành, phân quyền khai thác dữ liệu và sử dụng dữ liệu để tham mưu chính sách phát triển đội ngũ. Nhóm thứ hai là các sở, ngành chuyên môn cấp tỉnh, có vai trò xác định yêu cầu năng lực chuyên ngành, cung cấp nội dung cập nhật, phối hợp xây dựng học liệu và hỗ trợ giải đáp nghiệp vụ. Nhóm thứ ba là chính quyền cấp xã, có vai trò cập nhật nhu cầu thực tế, đề xuất người học, bố trí thời gian tham gia, đánh giá khả năng vận dụng và phản hồi tác động của bồi dưỡng. Nhóm thứ tư là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, có vai trò thiết kế chương trình, tổ chức lớp học, quản lý giảng viên, xây dựng học liệu, kiểm tra, đánh giá và cập nhật kết quả học tập. Nhóm thứ năm là cán bộ, công chức tham gia học tập, có vai trò tự đánh giá năng lực, tham gia lộ trình học tập, hoàn thành yêu cầu bồi dưỡng và phản hồi chất lượng chương trình. Nhóm thứ sáu là bộ phận quản trị hệ thống và quản trị dữ liệu, có vai trò bảo đảm vận hành kỹ thuật, an toàn thông tin, chuẩn hóa dữ liệu, hỗ trợ người dùng và giám sát chất lượng dữ liệu.
Về cấu trúc chức năng, hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp cần có các phân hệ cơ bản (xem Hình 1):
Hình 1: Cấu trúc chức năng hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp

Từ Hình 1, cho thấy:
Phân hệ thứ nhất là phân hệ quản lý hồ sơ học tập và hồ sơ năng lực của cán bộ, công chức. Phân hệ này lưu trữ thông tin về người học, vị trí việc làm, đơn vị công tác, nhiệm vụ được phân công, chương trình đã tham gia, kết quả học tập, chứng nhận hoàn thành, năng lực đã đạt và các nội dung cần tiếp tục bồi dưỡng. Dữ liệu trong phân hệ này cần được liên thông với dữ liệu cán bộ, công chức theo thẩm quyền và quy định pháp luật, tránh việc người học phải khai báo lặp lại nhiều lần ở nhiều hệ thống khác nhau.
Phân hệ thứ hai là phân hệ khảo sát và phân tích nhu cầu bồi dưỡng. Phân hệ này cho phép cấp xã, cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý và bản thân cán bộ, công chức cập nhật nhu cầu bồi dưỡng. Nhu cầu có thể được xác định thông qua phiếu khảo sát, tự đánh giá năng lực, đánh giá của thủ trưởng cơ quan, kết quả kiểm tra đầu vào, yêu cầu của vị trí việc làm, nhiệm vụ mới được phân cấp hoặc các sai sót nghiệp vụ phát sinh trong thực tế. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, hệ thống có thể tổng hợp nhu cầu theo địa bàn, lĩnh vực, nhóm chức danh, nhóm năng lực và mức độ ưu tiên. Đây là cơ sở để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng có trọng tâm, tránh dàn trải.
Phân hệ thứ ba là phân hệ xây dựng và quản lý kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Phân hệ này hỗ trợ cơ quan quản lý lập kế hoạch bồi dưỡng hằng năm, kế hoạch theo chuyên đề, kế hoạch đột xuất và kế hoạch theo nhóm vị trí việc làm. Kế hoạch cần thể hiện rõ mục tiêu năng lực, đối tượng, số lượng, thời gian, hình thức, cơ sở đào tạo, nguồn kinh phí, yêu cầu đầu ra và cơ chế đánh giá. Việc quản lý kế hoạch trên hệ thống giúp cấp tỉnh theo dõi tiến độ triển khai, tránh trùng lặp lớp học, phân bổ hợp lý nguồn lực và kịp thời điều chỉnh khi có thay đổi về nhiệm vụ hoặc nhu cầu.
Phân hệ thứ tư là phân hệ quản lý chương trình, chuyên đề và học liệu số. Phân hệ này lưu trữ, phân loại và cập nhật các chương trình bồi dưỡng, chuyên đề, bài giảng, tài liệu, video, tình huống, câu hỏi, biểu mẫu và hướng dẫn nghiệp vụ. Học liệu cần được phân loại theo lĩnh vực, vị trí việc làm, cấp độ năng lực và hình thức sử dụng. Ví dụ, học liệu về tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cần gắn với quy trình thao tác trên hệ thống thông tin; học liệu về đất đai, xây dựng cần có tình huống hồ sơ cụ thể; học liệu về văn hóa, xã hội cần có hướng dẫn xử lý chính sách với các nhóm đối tượng khác nhau; học liệu về chuyển đổi số cần có bài tập thực hành, công cụ tự kiểm tra và hướng dẫn bảo đảm an toàn thông tin. Việc quản lý học liệu số dùng chung giúp tránh tình trạng mỗi lớp học, mỗi giảng viên, mỗi địa phương tự xây dựng tài liệu rời rạc, khó kiểm soát chất lượng và khó cập nhật.
Phân hệ thứ năm là phân hệ tổ chức lớp học và quản lý tiến trình học tập. Phân hệ này cho phép tổ chức lớp học trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp; quản lý danh sách người học; theo dõi tiến độ học tập; ghi nhận sự tham gia; tổ chức thảo luận; giao bài tập; chấm điểm; phản hồi kết quả; lưu trữ bài làm; cấp xác nhận hoàn thành. Đối với học trực tuyến, hệ thống cần hỗ trợ học theo thời gian thực và học theo tiến độ cá nhân. Đối với học kết hợp, hệ thống cần kết nối giữa hoạt động trước lớp, trong lớp và sau lớp. Ví dụ, người học có thể tự học tài liệu trước, tham gia buổi trao đổi tình huống trực tiếp hoặc trực tuyến, sau đó hoàn thành bài tập vận dụng và nhận phản hồi từ giảng viên. Cách tổ chức này giúp nâng cao hiệu quả học tập và giảm áp lực thời gian cho cán bộ, công chức.
Phân hệ thứ sáu là phân hệ kiểm tra, đánh giá và xác nhận kết quả. Phân hệ này cần cho phép thiết kế nhiều hình thức đánh giá, bao gồm câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi tự luận, bài tập tình huống, bài thực hành trên hồ sơ giả định, sản phẩm công việc, bài thu hoạch, thuyết trình nhóm hoặc đánh giá đồng đẳng. Đánh giá không chỉ nhằm xác định người học đạt hay không đạt, mà còn nhằm nhận diện mức độ hình thành năng lực, phát hiện nội dung cần bồi dưỡng bổ sung và điều chỉnh chương trình. Kết quả đánh giá cần được lưu vào hồ sơ học tập, đồng thời có thể tổng hợp theo lớp, theo chuyên đề, theo nhóm vị trí việc làm, theo địa phương và theo cơ sở đào tạo.
Phân hệ thứ bảy là phân hệ đánh giá sau bồi dưỡng. Đây là phân hệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ. Sau khi hoàn thành chương trình, người học cần được theo dõi mức độ vận dụng trong công việc. Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức có thể đánh giá sự thay đổi về khả năng xử lý hồ sơ, khả năng tham mưu, khả năng sử dụng hệ thống thông tin, khả năng phối hợp liên thông, thái độ phục vụ và mức độ giảm sai sót nghiệp vụ. Người học cũng có thể tự đánh giá những nội dung đã vận dụng được, những khó khăn còn gặp phải và nhu cầu hỗ trợ tiếp theo. Cơ sở đào tạo có thể sử dụng dữ liệu này để cải tiến chương trình, phương pháp và học liệu. Cấp tỉnh có thể sử dụng dữ liệu này để đánh giá hiệu quả đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng.
Phân hệ thứ tám là phân hệ báo cáo, phân tích và hỗ trợ ra quyết định. Phân hệ này cung cấp các bảng tổng hợp dữ liệu về nhu cầu bồi dưỡng, số lượng cán bộ, công chức tham gia học tập, tỷ lệ hoàn thành, kết quả đánh giá, khoảng trống năng lực, mức độ vận dụng sau bồi dưỡng, chất lượng chương trình, chất lượng giảng viên và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Dữ liệu có thể được trình bày theo cấp tỉnh, cấp xã, lĩnh vực, vị trí việc làm, nhóm năng lực hoặc thời gian. Khi dữ liệu được tổ chức tốt, cơ quan quản lý có thể phát hiện những lĩnh vực đang thiếu năng lực, những địa bàn có nhu cầu bồi dưỡng cao, những chương trình có tác động tốt, những chương trình cần điều chỉnh và những nhóm cán bộ, công chức cần hỗ trợ thêm.
Phân hệ thứ chín là phân hệ tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu. Hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp không nên tồn tại như một hệ thống độc lập, tách rời các cơ sở dữ liệu khác. Theo lộ trình và thẩm quyền pháp luật cho phép, hệ thống cần có khả năng kết nối với hệ thống thông tin về cán bộ, công chức, hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, hệ thống đánh giá công chức, hệ thống quản lý chứng chỉ và các nền tảng dùng chung của địa phương. Sự kết nối này phải được thực hiện trên cơ sở quy chế rõ ràng, chuẩn dữ liệu thống nhất, phân quyền chặt chẽ và bảo đảm an toàn thông tin.
Về nguyên tắc vận hành, mô hình cần tuân thủ 6 nguyên tắc cơ bản. Một là, lấy vị trí việc làm và năng lực thực thi công vụ làm trung tâm. Mọi hoạt động từ khảo sát nhu cầu đến đánh giá kết quả đều phải hướng vào năng lực cần có để thực hiện nhiệm vụ. Hai là, lấy người học làm trung tâm nhưng không tách người học khỏi yêu cầu của cơ quan sử dụng. Cán bộ, công chức cần được hỗ trợ học tập theo nhu cầu cá nhân, đồng thời việc học phải phục vụ yêu cầu công vụ. Ba là, quản lý theo vòng đời học tập, tức là theo dõi từ nhu cầu, quá trình học, kết quả, vận dụng đến phát triển tiếp theo. Bốn là, liên thông dữ liệu nhưng phân quyền rõ ràng, bảo đảm mỗi chủ thể chỉ được khai thác dữ liệu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Năm là, bảo đảm an toàn, bảo mật, bảo vệ dữ liệu cá nhân và lưu vết quá trình xử lý dữ liệu. Sáu là, đánh giá dựa trên kết quả và tác động, không chỉ dựa trên số lượng lớp học, số lượt người học hoặc số chứng chỉ đã cấp.
5. Yêu cầu quản trị dữ liệu đào tạo trong vận hành hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp
Một là, chuẩn hóa dữ liệu, do dữ liệu được tạo lập và khai thác bởi nhiều chủ thể khác nhau. Cần thống nhất các danh mục cơ bản như đơn vị, vị trí việc làm, chương trình bồi dưỡng, nhóm năng lực và trạng thái hoàn thành, nhằm tạo nền tảng chung để các địa phương vẫn cập nhật dữ liệu đặc thù mà bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và phân tích.
Hai là, bảo đảm chất lượng dữ liệu, gồm tính chính xác, đầy đủ, cập nhật, nhất quán và khả năng truy xuất nguồn gốc. Để đạt được điều này, cần quy định rõ trách nhiệm: cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về dữ liệu chương trình và kết quả học tập; cấp xã về dữ liệu nhu cầu và đánh giá vận dụng; cơ quan quản lý về dữ liệu vị trí việc làm; bộ phận quản trị hệ thống kiểm soát tính nhất quán và phát hiện trùng lặp.
Ba là, phân quyền truy cập, khai thác dữ liệu theo nguyên tắc đúng thẩm quyền, đúng mục đích và đúng phạm vi, đồng thời lưu vết để bảo đảm trách nhiệm giải trình. Yêu cầu thứ tư là liên thông dữ liệu đào tạo với dữ liệu cán bộ, công chức và dữ liệu thực thi công vụ; khi được kết nối hợp lý, hệ thống có thể trả lời các câu hỏi quản lý then chốt về việc ai cần bồi dưỡng, nội dung gì, chương trình nào phù hợp và năng lực có cải thiện sau bồi dưỡng hay không.
Bốn là, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, thông qua kiểm soát truy cập, xác thực người dùng, lưu vết thao tác và sao lưu, phục hồi dữ liệu; đặc biệt không sử dụng dữ liệu học tập để đánh giá cá nhân một cách cơ học, thiếu bối cảnh.
Năm là, quản lý vòng đời dữ liệu, bởi mỗi nhóm dữ liệu đều có quá trình hình thành, sử dụng, cập nhật và thay thế. Cần quy định thời hạn cập nhật, thời hạn lưu giữ và cơ chế loại bỏ dữ liệu không còn giá trị, tránh tích lũy dữ liệu cũ gây nhiễu cho phân tích. Yêu cầu thứ bảy là khai thác dữ liệu để cải tiến liên tục, sử dụng dữ liệu nhằm phát hiện nhu cầu, điều chỉnh chương trình, cải tiến học liệu, đánh giá giảng viên và dự báo khoảng trống năng lực.
Từ các yêu cầu trên, có thể khẳng định quản trị dữ liệu đào tạo là nền tảng bảo đảm giá trị thực chất của hệ thống. Giá trị ấy không nằm ở số lượng chức năng kỹ thuật, mà ở khả năng tạo lập dữ liệu tin cậy, kết nối dữ liệu đúng quy định và khai thác dữ liệu để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
6. Điều kiện triển khai mô hình hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp
Thứ nhất, cần hoàn thiện quy chế quản lý đào tạo, bồi dưỡng trên môi trường số, xác định rõ phạm vi áp dụng, chủ thể tham gia, quy trình nghiệp vụ, trách nhiệm cập nhật dữ liệu, phân quyền khai thác và công nhận kết quả học tập. Nếu thiếu quy chế thống nhất, mỗi địa phương hoặc cơ sở đào tạo dễ vận hành theo cách riêng, làm cho dữ liệu thiếu đồng bộ. Trên nền tảng thể chế đó, cần xây dựng khung năng lực và bản đồ năng lực theo vị trí việc làm, bao gồm năng lực chung, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý và năng lực số, phản ánh đặc điểm đa nhiệm của cấp xã trong mô hình hai cấp. Khung năng lực rõ ràng là cơ sở để hệ thống xác định khoảng trống năng lực và đề xuất nội dung bồi dưỡng phù hợp.
Thứ hai, cần chuẩn hóa quy trình khảo sát nhu cầu, lập kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng và đánh giá sau bồi dưỡng theo hướng dữ liệu được tạo lập một lần, sử dụng nhiều lần và cập nhật tại nguồn phát sinh, tạo thành vòng khép kín tránh vận hành rời rạc. Về hạ tầng kỹ thuật, hệ thống cần ổn định, an toàn, dễ sử dụng và có khả năng tích hợp, đáp ứng yêu cầu truy cập của nhiều nhóm người dùng kể cả nơi điều kiện mạng còn hạn chế, đồng thời tránh thiết kế khép kín hoặc phụ thuộc quá mức vào một nhà cung cấp. Đặc biệt, cần xây dựng kho học liệu số dùng chung có kiểm định chất lượng, phân loại theo lĩnh vực, vị trí việc làm và mức độ năng lực, gắn với những vấn đề thực tiễn như giải quyết thủ tục hành chính, xử lý hồ sơ đất đai, hộ tịch và sử dụng hệ thống thông tin.
Để vận hành các điều kiện trên, cần nâng cao năng lực số cho các chủ thể tham gia, gồm cán bộ quản lý đào tạo, giảng viên, người học và bộ phận kỹ thuật. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa cấp tỉnh, cấp xã và cơ sở đào tạo, trong đó các chủ thể cùng tham gia chu trình phát triển năng lực thay vì chỉ giao chỉ tiêu, cử người học hoặc cung cấp chương trình có sẵn. Việc triển khai cũng cần bảo đảm nguồn lực tài chính và lộ trình phù hợp, bắt đầu từ các chức năng cốt lõi rồi mở rộng dần. Cuối cùng, cần hình thành văn hóa học tập số và quản trị dựa trên dữ liệu, xác lập nhận thức rằng học tập là quá trình phát triển năng lực thường xuyên, dữ liệu là căn cứ quản lý và chuyển đổi số là phương thức đổi mới quản trị đào tạo trong nền hành chính hiện đại.
7. Một số khuyến nghị
Trước hết, cần xác định ứng dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực này là nhiệm vụ đổi mới quản trị công vụ. Trọng tâm là tái cấu trúc quy trình quản lý đào tạo, bồi dưỡng dựa trên dữ liệu, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và hiệu quả thực thi công vụ. Do đó, khi xây dựng kế hoạch triển khai, cơ quan quản lý cần làm rõ mục tiêu quản trị, dữ liệu cần thu thập, quy trình cần chuẩn hóa, chủ thể chịu trách nhiệm và kết quả đầu ra cần đo lường.
Trên cơ sở định hướng đó, cần xây dựng bộ dữ liệu cốt lõi về đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm dữ liệu người học, nhiệm vụ được giao, nhu cầu bồi dưỡng, chương trình, kết quả học tập và đánh giá sau bồi dưỡng. Dữ liệu phải được chuẩn hóa để bảo đảm liên thông giữa các chủ thể, thực hiện theo lộ trình từ các trường dữ liệu cơ bản nhằm tránh tạo áp lực nhập liệu quá lớn cho cơ sở. Đồng thời, cần ưu tiên phát triển khung năng lực số phù hợp với mô hình hai cấp, trong đó năng lực số được hiểu không chỉ là khả năng sử dụng thiết bị, phần mềm, mà còn gồm năng lực khai thác dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và giao tiếp số với người dân. Khung năng lực này cần được phân tầng theo chức danh và vị trí việc làm để làm căn cứ thiết kế chương trình.
Về nội dung bồi dưỡng, cần phát triển các chương trình ngắn, linh hoạt, theo mô-đun và theo tình huống. Tập trung vào những năng lực cụ thể với học liệu dễ truy cập và bài tập sát thực tiễn, phù hợp với áp lực thời gian của cán bộ, công chức cấp xã. Bên cạnh đó, cần gắn đánh giá sau bồi dưỡng với cải tiến chương trình và phát triển đội ngũ; việc đánh giá không dừng ở mức độ hài lòng sau khóa học mà phải đo lường mức độ vận dụng vào công việc, từ đó điều chỉnh chương trình, học liệu và xác định nhu cầu tiếp theo. Quá trình này phải đi kèm yêu cầu bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền riêng tư của người học, với việc thu thập, xử lý, chia sẻ dữ liệu đúng mục đích, đúng thẩm quyền, có phân quyền và lưu vết rõ ràng.
Cùng với đó, cần nâng cao vai trò của cơ sở đào tạo trong thiết kế học liệu và đổi mới phương pháp, chuyển từ vai trò tổ chức lớp học sang thiết kế giải pháp phát triển năng lực cho khu vực công, với sự tham gia của giảng viên, chuyên gia thực tiễn và công chức có kinh nghiệm. Cuối cùng, cần tạo cơ chế khuyến khích cán bộ, công chức học tập thường xuyên và hình thành văn hóa học tập số; kết quả học tập và mức độ vận dụng có thể được sử dụng làm căn cứ tham khảo trong bố trí, phân công đội ngũ, nhưng phải bảo đảm công bằng và phù hợp với bối cảnh công tác. Khi học tập trở thành nhu cầu tự thân, hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp mới thực sự phát huy giá trị trong nâng cao năng lực công vụ và chất lượng phục vụ Nhân dân.
8. Kết luận
Việc vận hành chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp đặt ra yêu cầu mới đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trong đó đội ngũ cấp xã cần được bồi dưỡng kịp thời, đúng nhu cầu, đúng vị trí việc làm và gắn với năng lực thực thi công vụ. Trong bối cảnh đó, ứng dụng chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu. Bài viết đã đề xuất mô hình hệ thống quản lý học tập liên thông hai cấp như một công cụ kết nối cấp tỉnh, cấp xã, cơ sở đào tạo và cơ quan sử dụng trong một chu trình dữ liệu thống nhất, qua đó chuyển từ quản lý lớp học sang quản lý năng lực, từ bồi dưỡng đại trà sang bồi dưỡng theo nhu cầu. Để mô hình vận hành hiệu quả, quản trị dữ liệu đào tạo phải được đặt ở vị trí trung tâm, đồng thời hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa quy trình và hình thành văn hóa học tập số. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp và phục vụ Nhân dân.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Nội vụ (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BNV ngày 26/3/2026 hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Chính phủ (2016). Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.
Chính phủ (2020). Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước.
Chính phủ (2023). Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân
Chính phủ (2025). Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chính phủ (2025). Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Chính phủ (2025). Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Quốc hội (2023). Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2020a). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 về việc phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2020b). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
Lê Thị Kim Liên (03/06/2026). Bồi dưỡng công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp từ góc nhìn thực tiễn. Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/03/boi-duong-cong-chuc-cap-xa-dap-ung-yeu-cau-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-tu-goc-nhin-thuc-tien/.



