Tổ chức chính quyền địa phương hai cấp sau một năm thực hiện – Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên số

The two-tier local government model after one year of implementation: opportunities and challenges in the digital era

TS. Vũ Đăng Minh
Trường Đại học Thành Đô
Email: vdminh@thanhdouni.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu bối cảnh khoa học và hệ giải pháp chiến lược nhằm đổi mới mô hình tổ chức, phương thức vận hành của chính quyền địa phương tại Việt Nam trước các yêu cầu khách quan mang tính thời đại: hội nhập quốc tế sâu rộng, sự chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế số và yêu cầu gia tăng chỉ số đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở phân tích hệ thống thể chế hành chính theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2025, 28 nghị định của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ, bài viết đánh giá toàn diện, sâu sắc kết quả thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau một năm vận hành.

Từ khóa: Chính quyền địa phương; chính quyền hai cấp; phân cấp, phân quyền; quản trị địa phương; chính quyền số; đổi mới sáng tạo.

Abstract: This research paper examines the scientific context and a set of strategic solutions aimed at reforming the organizational model and operational methods of local governments in Vietnam in light of the objective demands of the current era: deep and extensive international integration, the rapid shift toward a digital economy, and the need to increase innovation indices. Based on an analysis of the administrative institutional system under the Constitution of 2013 (amended and supplemented in 2025), the Law on the Organization of the Government of 2025, the Law on the Organization of Local Governments of 2025, and 28 Government Decrees regulating decentralization, devolution of authority, and the delineation of state management powers by sector, field, and territory—particularly the clear definition of the specific functions, tasks, and powers of commune-level governments—with the guiding principle that each policy decision should genuinely create new development capabilities and that new reforms should build trust and momentum for the next phase of development. This article provides a comprehensive and in-depth assessment of the results of implementing the two-tier local government model after one year of operation.

Keywords: Local government, two-tier government model, decentralization, devolution of authority, delineation of authority, local governance, e-government, digital government, digital capabilities, digital economy, innovation.

1. Đặt vấn đề

Tiến trình cải cách và hoàn thiện thể chế hành chính nhà nước tại Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu khách quan về đổi mới tư duy, cấu trúc mô hình tổ chức và phương thức vận hành của chính quyền địa phương. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), xu thế hội nhập quốc tế toàn diện, đòi hỏi chính quyền địa phương không chỉ là cơ quan thực hiện các chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện quyền lực nhà nước trên địa bàn lãnh thổ hay thi hành pháp luật của nhà nước trong việc quyết định những việc được giao ở địa phương mà phải trở thành chủ thể kiến tạo, bảo đảm thực quyền tham gia của người dân vào quy trình chính sách; đồng thời, chính quyền địa phương phải nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm thích ứng với các chuẩn mực quản trị hiện đại.

Trước yêu cầu đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương bảo đảm thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia; phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp; kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ; tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với điều kiện, đặc điểm nông thôn, đô thị và hải đảo bảo đảm yêu cầu quản trị địa phương chuyên nghiệp, hiện đại; thực hiện hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, để cao trách nhiệm giải trình gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu mọi giao dịch, thủ tục và dòng chảy công việc được vận hành trên môi trường số để không còn khoảng cách địa lý giữa tỉnh và xã,… thì việc nhận diện được cơ hội, thách thức trong việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau một năm thực hiện làm cơ sở đề xuất giải pháp tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số là đòi hỏi bức thiết, có tính quy luật từ thực tiễn phát triển của Việt Nam.

2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Tiến trình cải cách hành chính ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương điển hình như các nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn của Đảng, nhất là Bộ Nội vụ, cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức chính quyền địa phương với các nhóm nghiên cứu sau: (1) Luận giải các quan điểm của Đảng qua các kỳ Đại hội (đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW khóa XIII ngày 09/11/2022), vấn đề phân cấp, phân quyền, ủy quyền và bảo đảm tính thống nhất của thể chế hành chính nhà nước; (2) Mô hình tổ chức chính quyền địa phương, chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn, hải đảo và việc tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế; (3) Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở trong điều kiện đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và kiểm soát quyền lực ở chính quyền địa phương (đây là đội ngũ trực tiếp triển khai các chính sách đến người dân).

Các nghiên cứu nêu trên sẽ làm rõ bản chất của chính quyền địa phương trong mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN: chính quyền địa phương không phải là một “nhà nước thu nhỏ”, mà là cấp chính quyền đại diện và thực thi quyền lực nhà nước tại địa phương, dưới sự quản lý thống nhất của Trung ương.; phân biệt rõ nét hơn giữa quản trị nông thôn, đô thị và hải đảo; tác động tích cực của việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) huyện, quận, phường (được thực hiện tại 67 huyện, 32 quận, 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết số 26/2008/QH12, ngày 15/11/2008 của Quốc hội khóa XII)… góp phần quan trọng vào việc cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn làm cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa Trung ương – địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương.

Mặc dù đã có nhiều đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn, song các công trình trước đây vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định, như: thiếu tính tổng thể, đồng bộ về tổ chức chính quyền địa phương; thiếu sự kết nối toàn diện giữa tổ chức và hoạt động trong bức tranh chung về nhà nước pháp quyền; tập trung quá nhiều vào cơ chế đặc thù và mô hình chính quyền đô thị lớn, trong khi chưa đầu tư đúng mức cho sự chuyển đổi mô hình và phương thức hoạt động của chính quyền địa phương ở cấp xã nơi trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc cho người dân; một số nghiên cứu chỉ nêu yêu cầu kiểm soát quyền lực ở địa phương nhưng giải pháp còn mang tính nguyên tắc, chưa thiết kế được công cụ kiểm soát cụ thể đối với người đứng đầu chính quyền địa phương.

Mô hình tổ chức chính quyền địa phương (gồm 2 cơ quan là HĐND và UBND) được thành lập ở tất cả các đơn vị hành chính trong một thời gian dài. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp chưa luận giải được mối quan hệ giữa chuyển đổi số với đổi mới phương thức tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương và những vẫn đề đặt ra, như: năng lực thích ứng và kỹ năng số của đội ngũ công chức cấp; cơ chế phân quyền gắn với tự chủ tài chính và kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng lãng phí; phương thức đo lường sự độ hài lòng của người dân trên nền tảng số… nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp xã trong kỷ nguyên số.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp kết hợp phân tích số liệu thực chứng, cùng với kinh nghiệm trên 30 năm công tác trong lĩnh vực Nội vụ, tác giả bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật kết hợp so sánh luật học giữa chủ trương của Đảng với các văn bản luật của Quốc hội; đồng thời, đối chiếu với các nghị định quy định chi tiết thi hành để luận giải và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương cũng như các yếu tố các động đến hiệu lực, hiệu quả của chính quyền địa phương trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế số, chuyển đổi số và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền trong quản trị hiện đại nhằm mục tiêu xây dựng chính quyền địa phương tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Phân tích cơ sở khoa học và thực tiễn tổ chức hoạt động mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau một năm hoạt động để thấy rõ được những chuyển biến căn bản về tinh gọn bộ máy, mở rộng không gian liên kết vùng, giảm tầng nấc trung gian; đồng thời, nhận diện các điểm nghẽn chuyển tiếp về tính đồng bộ của thể chế, áp lực công việc gia tăng ở cấp cơ sở và sự bất cập về năng lực số của đội ngũ công chức. Thông qua đó, khuyến nghị và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực số cho công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên số.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Cơ sở luận về tổ chức chính quyền địa phương

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2010 của Viện Ngôn ngữ học, khái niệm “Địa phương” được định nghĩa là: (1) Khu vực trong quan hệ với các vùng, khu vực khác; (2) Vùng, khu vực trong quan hệ với trung ương và cả nước. Còn “đơn vị hành chính” là đơn vị được phân chia trên lãnh thổ của một quốc gia để tổ chức quản lý nhà nước về hành chính; mỗi đơn vị hành chính trên lãnh thổ quốc gia được phân định phải bảo đảm sự phối hợp, sự quản lý tập trung thống nhất của nhà nước trung ương và quyền tự chủ của địa phương theo quy định của pháp luật. Cũng theo Từ điển này, bộ máy “chính quyền” được hiểu là: “Bộ máy điều khiển, quản lý công việc của nhà nước”.

Theo Từ điển Luật học năm 2006, chính quyền là “Bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước; chính quyền được phân thành chính quyền trung ương và các cấp chính quyền địa phương”. Chính quyền trung ương là tập hợp tất cả các cơ quan nhà nước trung ương. Chính quyền địa phương là tập hợp tất cả các cơ quan nhà nước ở địa phương. Chính quyền địa phương gồm có chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã”. Tuy chưa thực sự đầy đủ, song Từ điển Tiếng Việt và Từ điển Luật học đã thể hiện quan điểm của Việt Nam về chính quyền địa phương, đó là nhấn mạnh yếu tố thống nhất quyền lực (chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương là quản lý các công việc của nhà nước).

Về mặt thực tiễn, từ Đại hội VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra yêu cầu cần phải: “Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại tổ chức của mỗi cấp”. Kế thừa và phát triển tư duy chiến lược đó trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (tháng 01/2026) tiếp tục nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương”.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động của chính quyền địa phương qua các thời kỳ, ngày 15/11/2008, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số địa phương, có hiệu lực từ ngày 25/4/2009. Cùng với sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ đã tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt Nghị quyết số 26, tiến hành tổng kết, đánh giá làm cơ sở đề xuất phương án tổ chức mô hình chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế khi xây dựng Hiến pháp năm 2013 và nội dung này đã được Quốc hội thông qua.

Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết số 194/2025/QH15, ngày 16/6/2025, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã hiến định việc thiết lập không gian tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao hơn, gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan đại biểu và cơ quan hành chính ở địa phương; đồng thời, xác lập mô hình quản trị địa phương hiện đại. Theo đó, việc tổ chức chính quyền địa phương không đơn thuần là phân chia địa giới hành chính, mà là một cấu trúc linh hoạt, tinh gọn nhằm giảm thiểu thời gian ra quyết định và tạo ra không gian pháp lý để thử nghiệm các mô hình phát triển mới. Cấu trúc này vừa bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo và sự tự chủ về tài chính cũng như nhân lực của từng địa phương.

Xét về tính chất pháp lý, chính quyền địa phương được nhìn nhận trên hai phương diện có quan hệ gắn bó với nhau:

Thứ nhất, chính quyền địa phương là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương. Điều này có nghĩa là trong quan hệ quyền lực nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương là một cấu trúc quyền lực có tính bộ phận trong hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ, xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước (tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân).

Thứ hai, chính quyền địa phương không chỉ là thiết chế đại diện cho quyền lực nhà nước ở địa phương mà còn là thiết chế đại diện cho lợi ích, ý chí và nguyện vọng của các cộng đồng dân cư trong phạm vi lãnh thổ. Do vậy, chính quyền địa phương ở mỗi đơn vị hành chính – lãnh thổ còn là hình thức tổ chức thực hiện dân chủ của Nhân dân địa phương trong một phạm vi lãnh thổ cụ thể.

Từ lý luận và thực tiễn tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam, có thể khẳng định, địa phương là một phạm trù không gian lãnh thổ gắn với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán và lối sống của con người. Tùy thuộc vào mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở mỗi quốc gia khác nhau mà có các hình thức tổ chức cơ quan quản lý phù hợp, song đều có điểm chung là cơ quan nhà nước ở địa phương được lập ra để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước trên địa bàn lãnh thổ hoặc thực thi pháp luật của nhà nước trong việc quyết định những việc được trung ương giao cho địa phương. Theo đó, có thể đi đến thống nhất quan niệm: “chính quyền địa phương là những thiết chế nhà nước hoặc tự quản của cộng đồng lãnh thổ, có tư cách pháp nhân, có quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến và hợp pháp, để quản lý, điều hành mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trong giới hạn thẩm quyền”.

4.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quá trình hình thành và phát triển của chính quyền địa phương từ năm 1946 đến nay, mô hình chính quyền địa phương đã tổ chức sắp xếp thu gọn các đơn vị hành chính, đa dạng hóa mô hình chính quyền địa phương đô thị, nông thôn và hải đảo; cùng với việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường và mô hình chính quyền đô thị tại một số địa phương, hệ thống pháp luận về chính quyền địa phương đã từng bước cụ thể hóa các chủ trương phân cấp, phân quyền của Đảng thông qua Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2025) nhằm tổ chức chính quyền địa phương hợp lý, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng địa phương.

Theo đó, tại Điều 110 và Điều 111 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 (tại Nghị quyết số 203/2025/QH15, ngày 16/6/2025 Quốc hội) đã xác định chính quyền địa phương là: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức thành hai cấp, gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các đơn vị hành chính dưới tỉnh; chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND, được tổ chức ở đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo”. Tiếp đó, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, đã xác định chính quyền địa phương gồm hai cấp: cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) và cấp xã (gồm xã, phường, đặc khu).

Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam đã chuyển sang vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp với 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh và 3.321 đơn vị hành chính cấp xã. Thực tiễn sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã và việc kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương. Tinh gọn bộ máy, mở rộng không gian phát triển; bảo đảm vận hành thông suốt, không gián đoạn; phân định rõ vai trò cấp tỉnh và cấp xã; nâng cao hiệu quả giải quyết công việc tại cơ sở; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong trên môi trường số (xử lý công việc dự trên dữ liệu); từng bước nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp của chính quyền cơ sở.

Đến ngày 30/4/2026, sau khi Quốc hội quyết định thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh (gồm 27 tỉnh và 7 thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai) và 3.321 đơn vị hành chính cấp xã gồm 2.611 xã, 697 phường, 13 đặc khu (Cô Tô, Vân Đồn, Cát Hải, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu). Cơ cấu đơn vị hành chính tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng đô thị, tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới và mở rộng không gian phát triển của các địa phương.

Mặt khác, việc kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện đã giảm được 8.289 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; đồng thời, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh cũng được rà soát, sắp xếp lại bảo đảm tinh gọn triệt để, theo đó đã giảm được 709 đơn vị (tương ứng giảm 60,3%). Theo đó, toàn quốc còn 467 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh (gồm 12 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất tại 34 tỉnh, thành phố và 59 cơ quan chuyên môn đặc thù tại một số địa phương) và có 10.066 phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã; đồng thời, tổ chức 3.189 Trung tâm Phục vụ hành chính công được hình thành đồng bộ trên phạm vi cả nước để đáp ứng yêu cầu giao dịch của tổ chức và công dân.

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từng bước chuyển từ phương thức quản lý theo địa giới hành chính nhỏ lẻ sang quản trị theo không gian phát triển rộng hơn, tạo dư địa mới cho quy hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh (khai thác hiệu quả hơn các tiềm năng về kinh tế biển, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, du lịch và năng lượng).

4.3. Những tác động tích cực đối với kinh tế – xã hội

Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã và kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương, mở rộng không gian phát triển (nhiều địa phương có điều kiện phát huy tốt hơn các lợi thế tổng hợp về vị trí địa lý, dân số, tài nguyên và hạ tầng), tăng cường liên kết vùng, tạo điều kiện tổ chức lại các nguồn lực phát triển theo quy mô lớn hơn; đồng thời, giảm đáng kể tầng nấc trung gian trong hệ thống hành chính nhà nước; các địa phương đã khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, công chức, viên chức, sắp xếp cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin được thực hiện kịp thời, bảo đảm duy trì hoạt động liên tục của bộ máy. Hoạt động quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công và giải quyết thủ tục hành chính tại địa phương cơ bản được duy trì ổn định, không để xảy ra khoảng trống trong quản lý và phục vụ người dân, doanh nghiệp, đưa dịch vụ công đến gần người dân hơn

Nhiều địa phương chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; phương thức phục vụ người dân, doanh nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị; phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng và phong trào phổ cập kỹ năng số, góp phần nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ số của người dân; tăng cường tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân; nâng cao tính công khai, minh bạch và mức độ tương tác giữa chính quyền với người dân thông qua các nền tảng số nâng cao hiệu quả phục vụ của  chính quyền cơ sở.

Cơ chế phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh; cấp xã từng bước khẳng định vai trò là cấp chính quyền trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp. Theo đó, cấp tỉnh tập trung vào những vấn đề mang tính quy hoạch, chiến lược, đầu tư lớn, điều phối nguồn lực, quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính thống nhất, liên kết trong toàn địa bàn, trong vùng; cấp xã tập trung giải quyết các công việc trực tiếp gắn với người dân, doanh nghiệp, địa bàn, đời sống hằng ngày, an sinh xã hội, trật tự cơ sở, thủ tục thiết yếu và các yêu cầu cấp bách đặt ra từ thực tiễn (hiện tại cấp xã đang thực hiện khoảng 1.065 nhiệm vụ).

5. Thảo luận

Bên cạnh những kết quả bước đầu mang tính tích cực, việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng gặp một số khó khăn, nút thắt (điểm nghẽn) được tập trung tháo gỡ:

5.1. Hệ thống thể chế vận hành mô hình mới chưa thực sự hoàn thiện, đồng bộ

Khối lượng văn bản cần sửa đổi, bổ sung còn lớn (mới chỉ đạt 55,29% mục tiêu đề ra), còn tới 38 văn bản chưa được hoàn thiện; đồng thời phát sinh thêm 16 văn bản khác cần sửa đổi để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Việc sử dụng cơ chế điều chỉnh thẩm quyền thông qua các nghị định chuyên đề theo phương thức “ủy quyền lập pháp” đã đáp ứng yêu cầu cấp bách trong giai đoạn chuyển tiếp, nhưng về lâu dài vẫn cần được luật hóa để bảo đảm tính ổn định, minh bạch và sự thống nhất của hệ thống pháp luật.

Còn chậm, thiếu thống nhất trong việc hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật. Trong khi các luật chuyên ngành chưa được sửa đổi tương ứng, vẫn tồn tại tình trạng quy định tại luật và quy định tại nghị định chưa hoàn toàn đồng bộ, gây khó khăn nhất định trong quá trình áp dụng và tổ chức thực hiện tại địa phương. Mặt khác, việc ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết ở một số lĩnh vực còn chậm hoặc chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến tình trạng địa phương phải xin ý kiến nhiều lần.

5.2. Hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ

Chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các địa phương còn lớn; hạ tầng số, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực chưa đồng bộ. Việc chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số còn hạn chế. Quản trị và phát triển dựa trên dữ liệu còn chiếm tỷ lệ rất thấp, mới chỉ đạt dưới 5% so với chỉ tiêu 30% mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đề ra vào tháng 01/2026.

5.3. Hạn chế và thiếu đồng bộ về năng lực của đội ngũ công chức cấp xã

Thực tế đã có một khối lượng lớn hồ sơ, nhiệm vụ chuyên môn sâu từ cấp huyện  chuyển về xã, song lại thiếu hụt công chức có chuyên sâu theo từng lĩnh vực để xử lý. Trong khi đó, năng lực tổ chức thực thi của đội ngũ công chức ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu nên vừa làm, vừa mò mẫm; cộng với tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, điều này ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc.

Công tác bố trí, sử dụng đội ngũ công chức chưa phù hợp với chuyên ngành đào tạo và kinh nghiệm công tác (thống kê tại 24 địa phương tháng 6/2026, cho thấy, có 3.286 trường hợp chưa phù hợp về chuyên ngành đào tạo và 2.777 trường hợp chưa phù hợp về kinh nghiệm công tác, chủ yếu tập trung ở các vị trí chuyên môn, nghiệp vụ).

Chưa có khung năng lực số gắn với vị trí việc làm và chưa có đánh giá, xếp loại công chức cấp xã nên chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức cấp xã còn mang tính lý thuyết, chưa sát với chuyên môn và đặc thù công việc của từng vị trí việc làm trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.

Nhận thức về chuyển đổi số, năng lực quản trị dữ liệu và kỹ năng số của đội ngũ công chức cấp xã còn hạn chế (chủ yếu dừng ở mức thao tác cơ bản, thiếu kỹ năng phân tích dữ liệu, xử lý sự cố công nghệ và bảo mật thông tin). Tình trạng vừa làm trên phần mềm, vừa lưu hồ sơ giấy gây lãng phí và tạo thêm áp lực cho công chức.

6. Khuyến nghị, giải pháp

6.1. Một số khuyến nghị

Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật và cải cách quy trình hành chính số (Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị gắn với đặc thù của các trung tâm đổi mới sáng tạo; chuyển đổi phương thức hoạt động của HĐND và UBND; nghiên cứu tổ chức lại các phòng chuyên môn để không lặp lại tình trạng quá tải đối với công chức).

Tăng cường phân cấp, ủy quyền gắn với cơ chế thử nghiệm chính sách – cơ hội và thách thức trong Kỷ nguyên số (phân cấp, ủy quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; phân cấp và trao quyền cho chính quyền cấp xã; thiết lập thể chế phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp và các tổ chức khởi nghiệp công nghệ vận hành mô hình kinh tế mới, mô hình thí điểm).

Khai thác tối đa nguồn lực tài sản công dôi dư phục vụ phát triển (đẩy nhanh xử lý, khai thác hiệu quả trụ sở, nhà đất, tài sản công dôi dư sau sắp xếp; hạn chế tối đa tình trạng lãng phí tài sản công).

Nâng cao vai trò kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp của chính quyền cơ sở (cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh ở cấp địa phương; xây dựng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp theo chuỗi; giải quyết triệt để các phản ánh, kiến nghị của nhà đầu tư).

Phát triển các mô hình kinh tế mới hướng tới mục tiêu tăng trưởng đột phá (nghiên cứu và triển khai các mô hình; tăng cường thu hút nguồn lực từ mọi thành phần kinh tế, tạo động lực).

6.2. Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ công chức cấp xã

Một là, xây dựng và ban hành khung năng lực số gắn với vị trí việc làm của từng chức danh công chức cấp xã.

Hai là, đưa chỉ số năng lực số và hiệu quả xử lý công việc trên môi trường số vào tiêu chí đánh giá, xếp loại công chức cấp xã hàng năm (KPIs số).

Ba là, đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng, chuyển từ đào tạo tập trung lý thuyết sang bồi dưỡng thực hành dựa trên tình huống thực tế; đồng thời áp dụng mô hình học tập linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.

Bốn là, nâng cao vai trò, trách nhiệm và tính nêu gương của lãnh đạo UBND cấp xã trong việc ứng dụng công nghệ.

Năm là, có chế độ thu hút, đãi ngộ hoặc biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với công chức có sáng kiến số ở cơ sở.

Sáu là, quan tâm đầu tư trang thiết bị đồng bộ, bảo đảm hạ tầng, công cụ làm việc và hỗ trợ kỹ thuật cho công chức ở cơ sở để phục vụ tốt hơn tổ chức và công dân.

7. Kết luận

Đổi mới và tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương tại Việt Nam trong giai đoạn tới không đơn thuần là việc sắp xếp lại cơ cấu phòng ban mang tính cơ học, mà là một cuộc cách mạng sâu sắc về phương thức quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số. Thực tiễn sau một năm triển khai cho thấy, mô hình mới đã đem lại những xung lực phát triển to lớn, tinh gọn bộ máy và giảm tầng nấc trung gian, song cũng đặt ra những yêu cầu cấp bách về hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực số cho đội ngũ công chức cấp xã trong kỷ nguyên số.

Một mô hình chính quyền địa phương tinh gọn, linh hoạt, kiến tạo và dựa trên dữ liệu, được vận hành hiệu quả sẽ trở thành động lực then chốt giúp các địa phương hội nhập sâu rộng, làm chủ nền kinh tế số và hiện thực hóa khát vọng phát triển thịnh vượng của đất nước.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  XIII (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 01/11/2022 về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013
Quốc hội (2025). Hiến pháp sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025.
Chính phủ (2026). Báo cáo số 345-BC/ĐU ngày 09/6/2026 sơ kết 01 năm hoạt động của Chính phủ và Chính quyền địa phương hai cấp.
Bộ Nội vụ (2020). Báo cáo tổng kết công tác giai đoạn 2016 – 2020 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2021 của ngành Nội vụ.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của ngành Nội vụ.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2020). Báo cáo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam.