Thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ trước tác động của xâm nhập mặn

Implementing livelihood security policies for the Khmer ethnic community in Can Tho City under the impact of saltwater intrusion

ThS. Quách Văn Nghiêm
Học viện Chính trị khu vực IV
Email: quachnghiem2021@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ trước tác động của xâm nhập mặn nhằm làm rõ kết quả đạt được, những hạn chế và các vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi chính sách. Từ việc sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả, so sánh và phân tích chính sách; đồng thời, khai thác số liệu từ khảo sát thực tế và các báo cáo của cơ quan trung ương, địa phương, bài viết đã chỉ ra những hạn chế trong tổ chức triển khai, huy động và phối hợp nguồn lực cũng như tính bền vững của kết quả thực hiện chính sách.

Từ khóa: Thực hiện chính sách; bảo đảm sinh kế; đồng bào Khmer; xâm nhập mặn; thành phố Cần Thơ.

Abstract: This article analyzes the current implementation of livelihood security policies for the Khmer ethnic community in Can Tho City under the impact of saltwater intrusion, with the aim of clarifying the achievements, limitations, and emerging issues in the policy implementation process. By employing a combination of research methods, including document analysis and synthesis, descriptive statistics, comparative analysis, and policy analysis, while also utilizing data collected from field surveys and reports issued by central and local authorities, the article identifies shortcomings in policy implementation, resource mobilization and coordination, as well as the sustainability of policy outcomes.

Keywords: Policy implementation; livelihood security; Khmer ethnic community; saltwater intrusion; Can Tho City.

1. Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn đang trở thành thách thức lớn đối với phát triển bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long, tác động trực tiếp đến sản xuất, việc làm và sinh kế của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh đó, bảo đảm sinh kế cho đồng bào Khmer không chỉ là yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn là yêu cầu thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển bao trùm, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 47-48, 150).

Thực hiện chủ trương đó, Nhà nước nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ đồng bào Khmer phát triển sinh kế, giảm nghèo và nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trước diễn biến ngày càng phức tạp của xâm nhập mặn, quá trình thực hiện chính sách vẫn còn những hạn chế về tổ chức triển khai, phối hợp, khả năng tiếp cận và hiệu quả thụ hưởng, ảnh hưởng đến mục tiêu bảo đảm sinh kế bền vững.

Trong khi đó, các nghiên cứu, đánh giá về quá trình thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế đối với đồng bào Khmer trong điều kiện xâm nhập mặn ở cấp địa phương còn chưa đầy đủ. Từ thực tiễn thành phố Cần Thơ, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thực hiện chính sách, làm rõ kết quả, hạn chế và những vấn đề đặt ra nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong thời gian tới.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn

Thực hiện chính sách là quá trình chuyển hóa mục tiêu, nội dung và giải pháp của chính sách thành các hoạt động cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Theo Van Meter và Van Horn (1975), hiệu quả thực hiện chính sách chịu tác động của nhiều yếu tố như mục tiêu chính sách, nguồn lực, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, năng lực của cơ quan thực thi và môi trường kinh tế – xã hội (Van Meter & Van Horn, 1975). Quan điểm này cho thấy, hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào chất lượng thiết kế mà còn phụ thuộc quyết định vào quá trình tổ chức thực hiện và khả năng đưa chính sách vào cuộc sống.

Đối với chính sách bảo đảm sinh kế, quá trình thực hiện hướng tới việc tạo điều kiện để người dân duy trì và phát triển các nguồn lực sinh kế, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng cường khả năng thích ứng trước những rủi ro từ thiên tai, biến đổi khí hậu và các tác động của môi trường phát triển. Đối với đồng bào Khmer, mục tiêu này không chỉ mang ý nghĩa phát triển kinh tế mà còn góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hiện thực hóa quan điểm lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển mà Đảng đã xác định trong Văn kiện Đại hội XIII (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 47, 96, 150).

Quan điểm đó được cụ thể hóa thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 (Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó xác định các nhóm chính sách trọng tâm như hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế bền vững, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và tăng cường năng lực thích ứng của đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá việc tổ chức thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế đối với đồng bào Khmer tại thành phố Cần Thơ trong bối cảnh xâm nhập mặn.

Đặc biệt, được tiếp tục nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng với quan điểm: Chính sách xã hội phải hướng tới bao trùm, công bằng, hiệu quả, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng đời sống. Kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp và tầng lớp xã hội. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt, bao phủ toàn dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.33, 36-39, 108-109; Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.263).

Trên cơ sở đó, bài viết tiếp cận thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer như một quá trình tổ chức thực hiện của các cấp chính quyền và các chủ thể liên quan nhằm đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực, cải thiện sinh kế và tăng cường năng lực thích ứng của đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn. Để đánh giá quá trình này, bài viết tập trung phân tích năm nội dung: (1) Tổ chức triển khai chính sách; (2) Huy động và phối hợp nguồn lực thực hiện; (3) Kết quả thực hiện chính sách; (4) Những hạn chế trong thực hiện chính sách và nguyên nhân; (5) Những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và các nghiên cứu liên quan đến sinh kế, chính sách dân tộc và biến đổi khí hậu. Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để xử lý, phân tích số liệu từ cuộc khảo sát 188 hộ đồng bào Khmer và 156 cán bộ tham gia thực hiện chính sách tại thành phố Cần Thơ; đồng thời khai thác số liệu từ các báo cáo của cơ quan trung ương và địa phương. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh, đối chiếu và phân tích chính sách được sử dụng để đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chính sách, làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và các vấn đề đặt ra trong bối cảnh xâm nhập mặn.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Tổ chức triển khai chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn

Việc tổ chức triển khai chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn từng bước được thực hiện theo hướng đồng bộ, bảo đảm sự thống nhất từ cấp thành phố đến cơ sở thông qua việc cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, kiện toàn bộ máy tổ chức và tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành. Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia được kiện toàn, ban hành quy chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên và cơ quan thường trực, tạo nền tảng tổ chức để triển khai chính sách đến địa bàn và đối tượng thụ hưởng. Các cấp, các ngành cũng đã ban hành trên 170 văn bản quản lý, điều hành và hướng dẫn thực hiện, góp phần cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a).

Song song với việc kiện toàn bộ máy, công tác chỉ đạo, hướng dẫn và tuyên truyền được triển khai thường xuyên. Các địa phương đã tổ chức 45 lớp tập huấn cho khoảng 6.301 cán bộ và thành viên cộng đồng, góp phần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chính sách. Đồng thời, đã tổ chức hơn 12.057 cuộc tuyên truyền, với trên 293.392 lượt người tham dự, qua đó giúp phổ biến kịp thời chủ trương, chính sách dân tộc và Chương trình mục tiêu quốc gia; tạo sự đồng thuận và phát huy vai trò tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số trong quá trình thực hiện chính sách (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a; 2025b).

Kết quả khảo sát của tác giả cũng cho thấy, đa số cán bộ được khảo sát đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành, tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện chính sách đã được triển khai tương đối đồng bộ giữa các cấp, các ngành. Điều này chỉ rõ việc tổ chức triển khai chính sách không chỉ dừng ở việc hoàn thiện bộ máy và ban hành văn bản hướng dẫn mà còn từng bước hình thành cơ chế quản lý, điều hành thống nhất, tạo nền tảng quan trọng cho huy động nguồn lực và thực hiện hiệu quả các chính sách bảo đảm sinh kế đối với đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn.

3.2. Huy động và phối hợp nguồn lực thực hiện chính sách

Việc huy động và phối hợp nguồn lực thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn đã có bước chuyển từ sử dụng các nguồn lực đơn lẻ sang lồng ghép nhiều chương trình, nhiều chủ thể và nhiều nguồn lực, tạo điều kiện triển khai đồng bộ các chính sách dân tộc, giảm nghèo và thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn 2022 – 2025, ba địa phương trước sáp nhập đã huy động 1.517.701 triệu đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nguồn lực được ưu tiên phân bổ cho các xã, ấp đặc biệt khó khăn và vùng chịu tác động của xâm nhập mặn, góp phần triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, tín dụng ưu đãi, nước sinh hoạt, nhà ở và đầu tư hạ tầng thiết yếu (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a).

Bên cạnh nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực thực hiện chính sách từng bước được củng cố thông qua đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc. Theo Báo cáo sơ kết Chiến lược công tác dân tộc, có 5.164 cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đã được đào tạo, bồi dưỡng (đạt 85%), 3.645/6.076 cán bộ người dân tộc thiểu số được quy hoạch (60%) và 92% cán bộ, công chức cấp xã được bồi dưỡng kiến thức dân tộc, góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách ở cơ sở (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b).

Cùng với đó, cơ chế phối hợp nguồn lực giữa các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội và chính quyền cơ sở từng bước được tăng cường thông qua lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Kết quả khảo sát của tác giả cũng cho thấy, đa số cán bộ đánh giá việc phối hợp giữa các chủ thể đã tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai các chính sách hỗ trợ sinh kế đối với đồng bào Khmer. Những kết quả này cho thấy hiệu quả thực hiện chính sách không chỉ phụ thuộc vào quy mô nguồn lực được huy động mà còn gắn chặt với năng lực điều phối, phối hợp và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong toàn bộ quá trình thực thi chính sách.

3.3. Kết quả thực hiện chính sách

Việc thực hiện chính sách đã tạo chuyển biến tích cực trong mở rộng khả năng tiếp cận chính sách, cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực thích ứng của đồng bào Khmer trước tác động ngày càng gia tăng của xâm nhập mặn. Thông qua việc triển khai đầy đủ và kịp thời các chương trình, dự án, chính sách dân tộc, chính sách an sinh xã hội đã giúp đời sống vật chất, tinh thần đồng bào dân tộc ngày càng được nâng cao, khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng vững mạnh, các địa phương đã từng bước chuyển từ hỗ trợ trước mắt sang nâng cao năng lực sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b).

Hiệu quả của quá trình này còn được phản ánh qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng từ khoảng 51,7 triệu đồng/người năm 2020 lên 66 triệu đồng/người năm 2025, trong khi tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,75% xuống còn 1,58% (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b) cho thấy, khả năng tạo sinh kế và chống chịu trước rủi ro từng bước được cải thiện.

Kết quả điều tra xã hội học cũng ghi nhận sự chuyển biến tích cực từ góc nhìn người thụ hưởng. Có 96,6% hộ Khmer được khảo sát đánh giá ở mức từ “tạm hài lòng” trở lên đối với sự hỗ trợ của chính quyền trong ứng phó xâm nhập mặn; 94,7% bày tỏ tin tưởng vào vai trò của chính quyền địa phương trong bảo đảm hoạt động kinh tế và giữ vững ổn định xã hội; đồng thời 69,1% cho rằng việc thực hiện các chính sách được bảo đảm công bằng.

Những kết quả trên cho thấy việc thực hiện chính sách không chỉ cải thiện các chỉ tiêu kinh tế – xã hội mà còn góp phần nâng cao năng lực thích ứng, tăng cường niềm tin của đồng bào Khmer đối với chính quyền và củng cố nền tảng phát triển bao trùm trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.

3.4. Những hạn chế trong thực hiện chính sách và nguyên nhân

Trước hết, công tác tổ chức triển khai chính sách chưa thật sự đồng đều giữa các cấp và địa bàn. Việc cụ thể hóa, hướng dẫn thực hiện một số văn bản còn chậm, công tác kiểm tra, đôn đốc và tháo gỡ khó khăn chưa kịp thời; hoạt động tuyên truyền ở một số nơi còn thiên về phổ biến chủ trương, trong khi nội dung hướng dẫn chuyển đổi sinh kế và thích ứng với xâm nhập mặn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn của người dân (UBND thành phố Cần Thơ, 2025a; 2025b).

Thứ hai, việc huy động và phối hợp nguồn lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực hiện chính sách. Nguồn lực tài chính còn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước; việc lồng ghép, phân bổ và giải ngân một số chương trình còn chậm (UBND thành phố Cần Thơ, 2025b). Năng lực của đội ngũ cán bộ thực thi chưa đồng đều; cơ sở vật chất, nhất là hạ tầng cấp nước, thủy lợi và phục vụ chuyển đổi sản xuất ở một số địa bàn còn bất cập.

Thứ ba, kết quả thực hiện chính sách chưa thật sự bền vững. Hiệu quả tiếp cận và thụ hưởng chính sách giữa các nhóm đối tượng, địa bàn còn có sự khác biệt; khả năng thích ứng của một bộ phận hộ Khmer trước tác động của xâm nhập mặn còn hạn chế. Vai trò chủ thể của đồng bào Khmer trong tham gia thực hiện, giám sát và phản hồi chính sách chưa được phát huy đầy đủ. Kết quả khảo sát cũng cho thấy vẫn còn một bộ phận người dân chưa đánh giá cao tính công bằng và mức độ đáp ứng của chính sách trong bảo đảm sinh kế trước tác động của xâm nhập mặn.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khách quan là tác động ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, làm gia tăng rủi ro đối với sinh kế của đồng bào Khmer. Chủ quan là công tác tổ chức thực hiện ở một số nơi còn thiếu đồng bộ; cơ chế phối hợp, lồng ghép nguồn lực giữa các chương trình chưa thật sự hiệu quả; năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở và khả năng thích ứng, chuyển đổi sinh kế của người dân còn hạn chế. Đồng thời, việc phát huy vai trò chủ thể của đồng bào Khmer trong toàn bộ quá trình thực hiện chính sách chưa tương xứng với yêu cầu phát triển sinh kế bền vững, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính bền vững của chính sách.

Như vậy, có thế thấy, việc bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer trước tác động của xâm nhập mặn không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách mà còn đòi hỏi nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực, phát huy vai trò chủ thể của người dân và tăng cường năng lực thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đây cũng là những vấn đề cần tiếp tục được giải quyết trong giai đoạn tới.

4. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế của đồng bào Khmer ở thành phố Cần Thơ trước tác động của xâm nhập mặn.

Một, đối với công tác tổ chức triển khai chính sách, vấn đề đặt ra là phải bảo đảm tính thống nhất, kịp thời và phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn và từng nhóm đối tượng thụ hưởng. Trong bối cảnh xâm nhập mặn có xu hướng diễn biến khó lường, việc tổ chức thực hiện chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản hay phổ biến chủ trương mà phải bảo đảm sự thông suốt trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và truyền thông chính sách. Đồng thời, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, hướng dẫn kỹ thuật và nhân rộng các mô hình sinh kế thích ứng cần được đổi mới theo hướng thiết thực, phù hợp với điều kiện, đặc thù của đồng bào Khmer. Không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt thông tin, quá trình này phải góp phần hình thành nhận thức, thay đổi tập quán sản xuất và phát huy vai trò chủ động của người dân trong thích ứng với xâm nhập mặn. Nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, giảm khoảng cách trong tiếp cận chính sách giữa các địa bàn, thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường niềm tin của đồng bào Khmer đối với hệ thống chính trị.

Hai, đối với việc huy động và phối hợp nguồn lực, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiệu quả điều phối và sử dụng đồng bộ các nguồn lực phục vụ thực hiện chính sách. Trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn có giới hạn, yêu cầu không chỉ là tăng quy mô nguồn lực mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả lồng ghép giữa các chương trình, phát huy vai trò phối hợp của các cấp, các ngành và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, nhân lực và cơ sở vật chất. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều kiện sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước, nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa bàn, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận các nguồn lực phát triển và giữ vững ổn định chính trị – xã hội ở vùng đồng bào Khmer.

Ba, đối với kết quả thực hiện chính sách, vấn đề đặt ra là phải nâng cao tính bền vững của sinh kế và phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của đồng bào Khmer trong toàn bộ quá trình thực hiện chính sách. Trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn tiếp tục tác động mạnh đến sản xuất và đời sống, hiệu quả của chính sách không chỉ được đánh giá thông qua mức tăng thu nhập hay giảm nghèo mà còn ở khả năng tự thích ứng, tính bền vững của sinh kế, mức độ tham gia của người dân vào quá trình thực hiện, giám sát và phản hồi chính sách, cũng như cảm nhận về tính công bằng trong thụ hưởng chính sách. Khi những yêu cầu này được đáp ứng, đồng bào Khmer sẽ không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà trở thành chủ thể tích cực của quá trình phát triển; quyền làm chủ của người dân được phát huy, niềm tin xã hội được củng cố, khối đại đoàn kết dân tộc được tăng cường và nền tảng cho phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội được bảo đảm bền vững trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn.

5. Kết luận

Bài viết khẳng định rằng, hiệu quả bảo đảm sinh kế không chỉ phụ thuộc vào nội dung chính sách mà còn chịu tác động của chất lượng tổ chức thực hiện, khả năng huy động và phối hợp nguồn lực cũng như mức độ tham gia của người dân trong quá trình thực thi chính sách.

Về mặt lý luận, bài viết góp phần bổ sung cách tiếp cận đánh giá thực hiện chính sách bảo đảm sinh kế gắn với mục tiêu phát triển bao trùm, thực hiện công bằng xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Về mặt thực tiễn, kết quả từ việc nghiên cứu đó là cơ sở tham khảo cho việc đánh giá quá trình thực hiện các chính sách dân tộc và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở những địa phương chịu tác động của xâm nhập mặn nói chung và của đồng bào dân tộc Khmer ở Cần Thơ nói riêng. Đây cũng là cơ sở để các nghiên cứu tiếp theo có thể tiếp tục đề xuất giải pháp hiệu quả cho công tác thực hiện chính sách và đánh giá sâu hơn tác động của việc thực hiện chính sách đối với tính bền vững của sinh kế và năng lực thích ứng của đồng bào dân tộc thiểu số trước biến đổi khí hậu.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 47-48, 96, 150.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 33, 36-39, 108-109.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.263.
Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ (2025). Báo cáo thực trạng công tác dân tộc, tôn giáo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021-2025.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021 – 2025.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2025a). Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2025b), Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Van Meter, D. S., & Van Horn, C. E. (1975). The Policy Implementation Process: A Conceptual Framework. Administration & Society, 6(4), 445 – 488.