Quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam

State management of the development of the elderly care profession in Vietnam

ThS. Hà Thị Trang
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Email: hatrang2310@gmail.com
ThS. Hoàng Văn Trung
Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ
Email: Hoangtrung310@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh, nhu cầu chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam ngày càng gia tăng, trong khi nghề chăm sóc người cao tuổi vẫn chưa được công nhận trong Danh mục nghề nghiệp Việt Nam và chưa có mã ngành đào tạo chính quy. Trên cơ sở phân tích tài liệu, phân tích chính sách và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi theo bốn nội dung: công nhận nghề; quản lý đào tạo; quản lý hành nghề; chính sách hỗ trợ và thanh tra, kiểm tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng trống trong thể chế công nhận nghề là điểm nghẽn căn bản, làm suy giảm hiệu lực của toàn bộ hệ thống quản lý đối với hoạt động đào tạo, hành nghề và phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất lộ trình hoàn thiện quản lý nhà nước theo hướng ưu tiên hoàn thiện thể chế, xây dựng khung pháp lý đồng bộ trước khi mở rộng các chính sách đầu tư và hỗ trợ tài chính; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi đến năm 2035.

Từ khóa: Chăm sóc người cao tuổi; quản lý nhà nước; công nhận nghề; già hóa dân số; tiêu chuẩn kỹ năng nghề.

Abstract: Demand for elderly care in Vietnam is rising rapidly as the population ages, yet elderly caregiving has not been recognized in the national occupational classification and has no formal training codes. Using document analysis, policy analysis, and international comparison, this article examines state management of the elderly care profession through four components: occupational recognition, training management, practice management, and support policy with inspection. The findings show that the gap in occupational recognition deprives the entire downstream management chain of its legal basis. The article proposes a sequencing approach that prioritizes institutional development before expanding public expenditure, and an assignment of responsibilities among ministries and local governments toward 2035.

Keywords: Elderly care; occupational recognition; occupational skills standards; population aging; state management.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống chăm sóc người cao tuổi. Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, cả nước có khoảng 14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên (Tổng cục Thống kê, 2025); đến giữa năm 2026, số người cao tuổi đã tăng lên gần 17 triệu (Báo điện tử Chính phủ, 2026). Cùng với sự gia tăng nhanh về quy mô dân số cao tuổi, nhu cầu chăm sóc cũng tăng mạnh. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo số người cao tuổi cần chăm sóc thường xuyên sẽ tăng từ 2,5 triệu người năm 2019 lên hơn 10 triệu người vào năm 2049; nhu cầu dịch vụ chăm sóc y tế và điều dưỡng đến năm 2040 có thể tăng lần lượt gấp 5,7 lần và 4,1 lần so với năm 2019 (WB, 2021). Đáng chú ý, người Việt Nam ở tuổi 60 có kỳ vọng sống thêm 22,7 năm nhưng chỉ khoảng 17,2 năm sống khỏe mạnh, khiến nhu cầu chăm sóc dài hạn và chi phí y tế đối với nhóm dân số này ngày càng gia tăng (WB, 2021).

Xu hướng già hóa dân số đòi hỏi phải phát triển đội ngũ nhân lực chăm sóc người cao tuổi có trình độ chuyên môn và được quản lý theo chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên, nghề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện vẫn chưa được công nhận là một nghề độc lập trong Danh mục nghề nghiệp Việt Nam, chưa có bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chưa có mã ngành đào tạo chính quy từ trình độ sơ cấp đến đại học (Báo VietNamNet, 2025). Trong khi đó, lực lượng đang thực hiện công việc chăm sóc người cao tuổi chủ yếu hoạt động theo hình thức phi chính thức, chưa được thống kê đầy đủ và chưa chịu sự điều chỉnh bởi một khung quản lý nghề nghiệp thống nhất. Thực trạng này dẫn đến việc các công cụ quản lý nhà nước, như: quy hoạch nhân lực, đào tạo, cấp chứng chỉ, kiểm định chất lượng, chính sách hỗ trợ và thanh tra, kiểm tra thiếu cơ sở pháp lý để triển khai đồng bộ. Bên cạnh đó, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng từng cảnh báo Việt Nam có nguy cơ thiếu từ 40.000 – 50.000 điều dưỡng viên và hộ sinh vào năm 2030 (Báo Nhân Dân điện tử, 2020) cho thấy, áp lực ngày càng lớn đối với nguồn nhân lực chăm sóc trong bối cảnh già hóa dân số.

Về phương diện nghiên cứu, các công trình trong nước chủ yếu tập trung vào chính sách an sinh xã hội, chăm sóc người cao tuổi hoặc phát triển hệ sinh thái chăm sóc (Tạ Thị Hương, 2025), trong khi các nghiên cứu quốc tế chủ yếu phân tích nhu cầu nhân lực và mô hình chăm sóc dài hạn (ILO, 2018; WB, 2021). Đến nay, quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi với tư cách là một nghề độc lập vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ thể chế, quản lý đào tạo, quản lý hành nghề và chính sách phát triển nghề. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà bài viết hướng tới làm rõ.

Trên cơ sở đó, bài viết phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi theo bốn nội dung: công nhận nghề, quản lý đào tạo, quản lý hành nghề và chính sách hỗ trợ gắn với thanh tra, kiểm tra; đồng thời, tham chiếu kinh nghiệm của Nhật Bản và Trung Quốc để đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế, cơ chế quản lý và phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước đến năm 2035. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích tài liệu, phân tích chính sách và so sánh kinh nghiệm quốc tế trên cơ sở các văn bản của Đảng, Nhà nước, số liệu thống kê chính thức và báo cáo của các tổ chức quốc tế công bố chủ yếu trong giai đoạn 2018 – 2026.

2. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển nhân lực chăm sóc người cao tuổi

Thích ứng với già hóa dân số và phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi là một trong những định hướng quan trọng trong chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định yêu cầu “chuẩn bị các điều kiện thích ứng với già hóa dân số”, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Tiếp đó, Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đã chuyển mạnh tư duy từ bảo đảm an sinh sang phát triển hệ thống chính sách xã hội toàn diện, bền vững, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển các dịch vụ chăm sóc xã hội chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu của quá trình già hóa dân số. Đặc biệt, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển mạng lưới chăm sóc người cao tuổi theo hướng kết hợp hiệu quả giữa hệ thống y tế và các cơ sở chăm sóc chuyên biệt, tạo cơ sở chính trị quan trọng cho việc phát triển đội ngũ nhân lực chăm sóc người cao tuổi.

Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước từng bước hoàn thiện khung chính sách về người cao tuổi và phát triển dịch vụ chăm sóc. Luật Người cao tuổi năm 2009 tạo nền tảng pháp lý cho công tác phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi. Trên cơ sở đó, Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng yêu cầu già hóa dân số. Đồng thời, Chính phủ cũng định hướng chuyển từ tư duy chỉ tập trung chăm sóc sang kết hợp hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, gắn với phát triển hệ sinh thái kinh tế bạc như một động lực tăng trưởng mới trong bối cảnh già hóa dân số (Báo điện tử Chính phủ, 2026).

Để cụ thể hóa các định hướng trên, Bộ Y tế đang xây dựng Đề án phát triển nhân viên chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng và cơ sở chăm sóc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề xuất bổ sung nghề nhân viên chăm sóc người cao tuổi vào Danh mục nghề nghiệp Việt Nam; đồng thời, xây dựng tiêu chuẩn nghề nghiệp, chuẩn hóa đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực chăm sóc chuyên nghiệp (Báo VietNamNet, 2025). Đây được xem là bước chuyển quan trọng từ định hướng chính sách sang hoàn thiện thể chế quản lý nghề.

Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đã từng bước hình thành cơ sở chính trị và pháp lý cho phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi. Tuy nhiên, các định hướng này mới chủ yếu dừng ở cấp độ chiến lược và chính sách, trong khi hệ thống công cụ quản lý nhà nước đối với nghề chăm sóc người cao tuổi, như: công nhận nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, quản lý đào tạo, quản lý hành nghề và cơ chế giám sát chất lượng dịch vụ, vẫn chưa được hoàn thiện đồng bộ. Đây chính là khoảng trống cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện trong quá trình xây dựng hệ thống quản lý nhà nước đối với nghề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam.

3. Khung phân tích quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi

Quản lý nhà nước đối với một nghề trong nền kinh tế được thực hiện thông qua hệ thống thể chế, chính sách và các công cụ quản lý nhằm định hướng, điều tiết và kiểm soát quá trình hình thành, phát triển cũng như bảo đảm chất lượng dịch vụ nghề nghiệp. Theo lý thuyết điều tiết nghề nghiệp, Nhà nước can thiệp vào thị trường lao động thông qua các công cụ, như: công nhận nghề, tiêu chuẩn nghề nghiệp, cấp phép hành nghề và giám sát nhằm khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin, bảo vệ người sử dụng dịch vụ và bảo đảm lợi ích công (ILO, 2018; WB, 2021). Đối với nghề chăm sóc người cao tuổi, sự can thiệp này càng có ý nghĩa vì đối tượng sử dụng dịch vụ là nhóm dễ bị tổn thương, khó tự đánh giá chất lượng dịch vụ và phụ thuộc nhiều vào trình độ chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp của người cung cấp dịch vụ.

Trên cơ sở tổng hợp lý luận về quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và các nghiên cứu về điều tiết nghề nghiệp, bài viết xây dựng khung phân tích gồm bốn nội dung cơ bản, phản ánh toàn bộ chu trình quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi.

Một là, thể chế công nhận nghề. Đây là nội dung nền tảng của quản lý nhà nước, bao gồm: việc đưa nghề chăm sóc người cao tuổi vào Danh mục nghề nghiệp Việt Nam, ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và xác lập địa vị pháp lý của nghề. Việc công nhận nghề là tiền đề để triển khai các hoạt động quản lý tiếp theo như đào tạo, cấp chứng chỉ và quản lý hành nghề.

Hai là, quản lý đào tạo. Nội dung này bao gồm việc xây dựng mã ngành đào tạo, ban hành chuẩn chương trình theo từng trình độ đào tạo, tổ chức kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo nhằm bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nghề.

Ba là, quản lý hành nghề. Quản lý hành nghề tập trung vào việc thiết lập chế độ chứng chỉ hành nghề, đăng ký hành nghề và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đội ngũ nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Đây là cơ sở để thống kê, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; đồng thời, bảo vệ quyền lợi của cả người hành nghề và người sử dụng dịch vụ.

Bốn là, chính sách hỗ trợ gắn với thanh tra, kiểm tra. Nội dung này bao gồm các chính sách về tiền lương, phụ cấp nghề, tín dụng, học bổng đào tạo, cùng với cơ chế thanh tra, kiểm tra và giám sát chất lượng dịch vụ nhằm bảo đảm việc thực thi các quy định của Nhà nước và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi.

Bốn nội dung trên có mối quan hệ kế thừa và bổ trợ lẫn nhau theo trình tự từ xây dựng thể chế, phát triển nguồn nhân lực, quản lý hoạt động hành nghề đến kiểm soát chất lượng và tạo động lực phát triển nghề. Trong đó, thể chế công nhận nghề giữ vai trò nền tảng, quyết định tính hợp pháp và hiệu lực của các công cụ quản lý nhà nước khác.

Việc tổ chức thực hiện khung quản lý này diễn ra trên hai trục chủ yếu: (1) Quản lý liên ngành, bởi nghề chăm sóc người cao tuổi liên quan đến lĩnh vực y tế (tiêu chuẩn chuyên môn và chất lượng dịch vụ), giáo dục và đào tạo (đào tạo, kiểm định), nội vụ (danh mục nghề nghiệp và chính sách đối với người hành nghề) cùng các cơ quan quản lý về lao động, an sinh xã hội; (2) Phân cấp giữa trung ương và địa phương, trong đó cơ quan trung ương thống nhất ban hành thể chế, tiêu chuẩn và chính sách, còn chính quyền địa phương tổ chức thực hiện, quản lý đội ngũ hành nghề, thanh tra, kiểm tra và phát triển dịch vụ phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Khung phân tích này không chỉ phản ánh đầy đủ các nội dung quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi mà còn là cơ sở để đánh giá thực trạng, xác định những điểm nghẽn trong hệ thống quản lý và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế phù hợp với bối cảnh già hóa dân số và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam (WB, 2021).

4. Thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi

Thứ nhất, về thể chế công nhận nghề: khoảng trống nền tảng của hệ thống quản lý

Thể chế công nhận nghề hiện là điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam. Đến nay, nhân viên chăm sóc người cao tuổi vẫn chưa được đưa vào Danh mục nghề nghiệp Việt Nam; đồng thời, chưa có mã nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và hệ thống đào tạo chính quy từ trình độ sơ cấp đến đại học (Báo VietNamNet, 2025). Ngân hàng Thế giới (WB) cũng nhận định nghề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam chưa được công nhận là một nghề chuyên môn độc lập với hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp riêng (WB, 2021). Khoảng trống thể chế này tạo ra hiệu ứng dây chuyền đối với toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước. Khi chưa có mã nghề và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, cơ quan quản lý thiếu căn cứ để xây dựng chuẩn chương trình đào tạo, thiết lập cơ chế cấp chứng chỉ hành nghề, xác định vị trí việc làm, xây dựng chính sách tiền lương và phụ cấp nghề cũng như ban hành quy chuẩn thanh tra, kiểm tra chất lượng dịch vụ. Điều đó cho thấy, hạn chế hiện nay không chỉ nằm ở thiếu nguồn nhân lực mà trước hết xuất phát từ việc đối tượng quản lý chưa được xác lập đầy đủ về mặt pháp lý.

Thứ hai, về quản lý đào tạo: thiếu chuẩn hóa và liên thông

Do nghề chưa được công nhận chính thức, hoạt động đào tạo nhân lực chăm sóc người cao tuổi hiện được triển khai phân tán dưới nhiều hình thức khác nhau. Một số cơ sở đào tạo y dược lồng ghép nội dung chăm sóc người cao tuổi trong chương trình điều dưỡng; một số bệnh viện, cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tổ chức quốc tế tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn theo nhu cầu thực tiễn hoặc theo chuẩn của đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa hình thành chương trình đào tạo thống nhất, chưa có chuẩn đầu ra và chưa có cơ chế kiểm định chất lượng chuyên ngành. Bên cạnh đó, năng lực đào tạo thực hành còn hạn chế khi số lượng cơ sở lão khoa chuyên sâu chưa nhiều; cả nước mới có trên 100 bệnh viện có khoa lão khoa (Tạ Thị Hương, 2025). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo và khả năng phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp. Việc thiếu cơ chế liên thông giữa các trình độ đào tạo cũng làm giảm sức hấp dẫn của nghề, hạn chế cơ hội phát triển nghề nghiệp lâu dài của người học.

Thứ ba, về quản lý hành nghề: chưa hình thành cơ chế quản lý đội ngũ

Một trong những hạn chế nổi bật là Việt Nam chưa thiết lập được hệ thống quản lý hành nghề đối với nhân viên chăm sóc người cao tuổi. Hiện chưa có quy định về chứng chỉ hành nghề, đăng ký hành nghề và cơ sở dữ liệu quốc gia về đội ngũ nhân lực chăm sóc. Phần lớn lao động chăm sóc người cao tuổi hoạt động trong khu vực phi chính thức, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tiễn và chưa được quản lý theo tiêu chuẩn nghề nghiệp thống nhất. Đáng chú ý, công việc chăm sóc hiện chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm. Theo World Bank (2026), phụ nữ Việt Nam dành thời gian cho công việc chăm sóc không được trả công cao gấp 2,87 lần nam giới; gánh nặng chăm sóc người cao tuổi có thể làm giảm từ 8 -12 điểm phần trăm tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ. Tuy nhiên, do chưa có cơ chế đăng ký và thống kê nghề nghiệp, cơ quan quản lý chưa có cơ sở xác định quy mô, cơ cấu, trình độ và nhu cầu phát triển đội ngũ nhân lực chăm sóc theo từng địa phương. Điều này làm giảm hiệu quả quy hoạch nguồn nhân lực và hoạch định chính sách phát triển nghề.

Thứ tư, về chính sách hỗ trợ và thanh tra, kiểm tra: chưa tạo động lực phát triển nghề

Hệ thống chính sách hiện hành chủ yếu tập trung vào trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, trong khi các chính sách dành riêng cho phát triển nghề chăm sóc còn thiếu và chưa đồng bộ. Cả nước hiện có 425 cơ sở trợ giúp xã hội, trong đó chỉ 46 cơ sở chuyên chăm sóc người cao tuổi; số giường phục vụ mới đáp ứng khoảng 1,2-1,5% nhu cầu thực tế (Tạ Thị Hương, 2025). Mặc dù mạng lưới chăm sóc cộng đồng ngày càng được mở rộng với hơn 9.000 câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau và tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế của người cao tuổi đạt mức cao, các mô hình này chủ yếu dựa vào lực lượng tình nguyện viên và chưa thể thay thế đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp đối với người cao tuổi mất khả năng tự chăm sóc.

Đối với người hành nghề, chưa có chính sách riêng về tiền lương, phụ cấp nghề hoặc cơ chế khuyến khích đào tạo. Công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng dịch vụ chủ yếu dựa trên các quy định chung đối với cơ sở trợ giúp xã hội, chưa có bộ tiêu chuẩn riêng đối với dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc tại nhà. Trong khi đó, chi phí sử dụng dịch vụ chăm sóc tư nhân còn cao, vượt khả năng chi trả của đa số hộ gia đình; khoảng 90% chi phí chăm sóc vẫn do gia đình tự chi trả và Việt Nam chưa hình thành cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn (WB, 2021). Thực trạng này làm cho cả cung và cầu dịch vụ chăm sóc đều phát triển chậm, hạn chế động lực đầu tư của cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và người lao động.

4. Kinh nghiệm quốc tế và tham khảo cho Việt Nam

4.1. Kinh nghiệm quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi đều bắt đầu từ việc thể chế hóa và công nhận nghề, sau đó mới từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, cấp chứng chỉ, quản lý hành nghề và cơ chế tài chính bảo đảm tính bền vững.

Tại Nhật Bản, nghề chăm sóc được luật hóa từ năm 1987 và được xác lập là nghề chuyên môn quốc gia với hệ thống đào tạo, cấp chứng chỉ bắt buộc và chuẩn năng lực thống nhất (WB, 2021). Điểm nổi bật của mô hình này là gắn chuẩn nghề với bảo hiểm chăm sóc dài hạn, theo đó chỉ các dịch vụ do nhân lực đạt chuẩn cung cấp mới được bảo hiểm thanh toán. Cách tiếp cận tương tự cũng được Đức và Hàn Quốc áp dụng, tạo cơ chế tài chính bảo đảm việc tuân thủ chuẩn nghề nghiệp. Theo Ngân hàng Thế giới, tại các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu công cho chăm sóc dài hạn bình quân đạt khoảng 1,7% GDP và lực lượng lao động chăm sóc chiếm khoảng 1-2% tổng lao động, dự kiến tiếp tục tăng trong bối cảnh già hóa dân số (WB, 2021).

Trung Quốc là trường hợp có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về quy mô dân số và tốc độ già hóa. Trước tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực chăm sóc, nước này đã triển khai chính sách phát triển đội ngũ nhân viên chăm sóc theo hướng liên ngành với ba giải pháp trọng tâm: ban hành chính sách thống nhất giữa nhiều bộ, ngành; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo lộ trình; đồng thời phát triển cơ chế chi trả thông qua bảo hiểm chăm sóc dài hạn và đặt hàng dịch vụ xã hội (Wang, 2026).

4.2. Tham khảo cho Việt Nam

Một là, công nhận nghề là điều kiện tiên quyết để hình thành hệ thống quản lý nhà nước đối với nghề chăm sóc người cao tuổi. Chỉ khi nghề được định danh và chuẩn hóa mới có cơ sở xây dựng chương trình đào tạo, cấp chứng chỉ, quản lý hành nghề và phát triển nguồn nhân lực.

Hai là, quản lý nghề chăm sóc đòi hỏi cơ chế phối hợp liên ngành với đầu mối điều phối rõ ràng. Việc ban hành chính sách, xây dựng tiêu chuẩn nghề, tổ chức đào tạo, quản lý hành nghề và phát triển thị trường dịch vụ cần được triển khai đồng bộ giữa các bộ, ngành liên quan.

Ba là, chuẩn nghề nghiệp cần gắn với cơ chế tài chính, như: bảo hiểm chăm sóc dài hạn hoặc cơ chế Nhà nước đặt hàng, mua dịch vụ công. Đây là yếu tố tạo động lực để các cơ sở cung ứng dịch vụ và người lao động tuân thủ tiêu chuẩn nghề nghiệp; đồng thời, bảo đảm tính bền vững của hệ thống chăm sóc.

Bên cạnh đó, phát triển nghề chăm sóc còn là một chiến lược tạo việc làm trong bối cảnh già hóa dân số. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) dự báo đầu tư vào kinh tế chăm sóc có thể tạo thêm khoảng 475 triệu việc làm trên toàn cầu vào năm 2030 (ILO, 2018). Đối với Việt Nam, chuẩn hóa nghề chăm sóc người cao tuổi không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc trong nước mà còn tạo điều kiện tham gia thị trường lao động quốc tế. Tuy nhiên, việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế cần phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng ngân sách của Việt Nam; điều quan trọng cần tham khảo là trình tự thể chế hóa và cơ chế quản lý, không phải mức chi tiêu cụ thể của từng quốc gia.

5. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế công nhận nghề (giai đoạn 2026 – 2027). Đây là giải pháp ưu tiên nhằm tạo nền tảng pháp lý cho toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước đối với phát triển nghề chăm sóc người cao tuổi. Trước hết, cần sớm phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ nhân viên chăm sóc người cao tuổi của Bộ Y tế; bổ sung nghề “nhân viên chăm sóc người cao tuổi” vào Danh mục nghề nghiệp Việt Nam; đồng thời, xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia theo cấu trúc đa bậc, tham khảo kinh nghiệm Nhật Bản và Trung Quốc, bao gồm: các yêu cầu về kiến thức lão khoa, kỹ năng chăm sóc, giao tiếp với người sa sút trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp. Quá trình xây dựng tiêu chuẩn nghề cần được triển khai đồng thời với việc bổ sung danh mục nghề để rút ngắn thời gian thực hiện. Về lâu dài, khi sửa đổi Luật Người cao tuổi năm 2009, cần bổ sung quy định về dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp và điều kiện hành nghề, tạo cơ sở pháp lý ở cấp luật.

Thứ hai, chuẩn hóa và mở rộng đào tạo (giai đoạn 2027 – 2029). Trên cơ sở nghề đã được công nhận, cần xây dựng hệ thống đào tạo từ trình độ sơ cấp đến đại học; ban hành chuẩn chương trình theo hướng tăng cường thực hành và bảo đảm liên thông giữa các bậc đào tạo; đồng thời, giao hệ thống kiểm định giáo dục nghề nghiệp thực hiện kiểm định chất lượng. Theo mục tiêu của dự thảo Đề án, đến năm 2030 có ít nhất 30% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo nghề này và 50% trạm y tế cấp xã có điều dưỡng phụ trách chăm sóc người cao tuổi (Báo VietNamNet, 2025). Song song với đó, cần mở rộng đào tạo lão khoa trong các cơ sở đào tạo y dược và phát triển khoa lão tại bệnh viện tuyến tỉnh để nâng cao năng lực thực hành.

Thứ ba, xây dựng hệ thống quản lý hành nghề trên nền tảng số (giai đoạn 2028 – 2030). Cần thiết lập cơ chế cấp và quản lý chứng chỉ hành nghề theo các cấp độ kỹ năng; thực hiện đăng ký hành nghề tại địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân lực chăm sóc người cao tuổi dưới dạng chứng chỉ điện tử, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống định danh điện tử. Đây không chỉ là công cụ bảo đảm minh bạch, bảo vệ người sử dụng dịch vụ mà còn hỗ trợ thống kê, dự báo và quy hoạch nguồn nhân lực, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong quản lý nhà nước.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách hỗ trợ và cơ chế chi trả (giai đoạn 2029 – 2035). Sau khi thiết lập khung pháp lý và hệ thống quản lý nghề, cần từng bước ban hành chính sách về phụ cấp nghề, bảo hiểm xã hội và hỗ trợ đào tạo đối với nhân viên chăm sóc người cao tuổi, ưu tiên phụ nữ, lao động nông thôn và lao động trung niên chuyển đổi nghề. Đồng thời, xây dựng quy chuẩn dịch vụ chăm sóc tại nhà, tăng cường thanh tra chuyên ngành và nghiên cứu thí điểm bảo hiểm chăm sóc dài hạn tại một số địa phương, gắn điều kiện chi trả với việc sử dụng nhân lực đạt chuẩn. Trong giai đoạn chưa hình thành bảo hiểm chăm sóc dài hạn, Nhà nước có thể áp dụng cơ chế đặt hàng hoặc mua dịch vụ của các cơ sở ngoài công lập sử dụng nhân lực có chứng chỉ nhằm tạo động lực phát triển thị trường dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp (Wang, 2026).

Thứ năm, nâng cao nhận thức xã hội và tăng cường hợp tác quốc tế. Cần đẩy mạnh truyền thông nhằm thay đổi nhận thức về nghề chăm sóc người cao tuổi, khẳng định đây là nghề chuyên môn có yêu cầu cao về kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp; đồng thời, đưa nội dung về già hóa dân số và nghề chăm sóc vào hoạt động hướng nghiệp, kịp thời biểu dương các điển hình tiêu biểu. Bên cạnh đó, cần mở rộng hợp tác với các quốc gia có hệ thống chăm sóc phát triển, như: Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức trong đào tạo, chuyển giao chuẩn năng lực và phát triển nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế, qua đó, đáp ứng nhu cầu trong nước và nâng cao khả năng tham gia thị trường lao động quốc tế.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp trong quản lý nhà nước. Bộ Y tế cần chủ trì xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn và quy chuẩn dịch vụ; Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì về mã ngành, chuẩn chương trình và bảo đảm chất lượng đào tạo; Bộ Nội vụ phối hợp trình cấp có thẩm quyền bổ sung nghề vào Danh mục nghề nghiệp Việt Nam và tham mưu chính sách đối với người hành nghề; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức đăng ký hành nghề, quản lý, thanh tra, kiểm tra và phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu địa phương. Để khắc phục tình trạng phân tán trong quản lý, cần ban hành một đề án hoặc văn bản liên ngành do Chính phủ phê duyệt, quy định rõ mục tiêu, lộ trình, trách nhiệm của từng cơ quan và cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ.

6. Kết luận

Nghề chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện đang đứng trước yêu cầu phát triển cấp thiết: nhu cầu xã hội gia tăng nhanh chóng, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đã được xác định, song nghề vẫn chưa được định danh đầy đủ trong hệ thống pháp luật. Khoảng trống này làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước trên các phương diện: công nhận nghề, quản lý đào tạo, quản lý hành nghề, hỗ trợ và kiểm tra, giám sát. Phân tích thực trạng cho thấy, điểm nghẽn cốt lõi nằm ở việc chưa thiết lập nền tảng thể chế cho sự hình thành và phát triển nghề; trong khi kinh nghiệm quốc tế khẳng định công nhận nghề là bước khởi đầu để xây dựng hệ thống nhân lực chăm sóc chuyên nghiệp và bền vững.

Vì vậy, Việt Nam cần ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý, xác lập vị trí nghề nghiệp, chuẩn hóa năng lực, quy định cơ chế đào tạo, hành nghề và phối hợp quản lý liên ngành trước khi mở rộng các chính sách đầu tư, hỗ trợ tài chính. Cách tiếp cận này sẽ bảo đảm nguồn lực nhà nước được sử dụng hiệu quả; đồng thời, tạo nền tảng cho việc hình thành thị trường dịch vụ chăm sóc người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số. Khi nghề chăm sóc người cao tuổi được công nhận, chuẩn hóa và có cơ chế vận hành phù hợp, Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng lớn của xã hội mà còn mở ra một lĩnh vực việc làm mới, góp phần phát triển nền “kinh tế bạc”. Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu lượng hóa nhu cầu nhân lực chăm sóc theo từng địa bàn, đánh giá tác động ngân sách và xây dựng lộ trình triển khai phù hợp ở quy mô quốc gia.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Báo điện tử Chính phủ (06/6/2026). Phát triển hệ sinh thái “kinh tế bạc”, khơi dậy nguồn lực người cao tuổi. https://baochinhphu.vn/phat-trien-he-sinh-thai-kinh-te-bac-khoi-day-nguon-luc-nguoi-cao-tuoi-102260606114853426.htm.
Báo Nhân Dân điện tử (27/5/2020). Năm 2030, Việt Nam có thể thiếu gần 50 nghìn điều dưỡng – hộ sinh. https://nhandan.vn/tin-tuc-y-te/nam-2030-viet-nam-co-the-thieu-gan-50-nghin-dieu-duong-ho-sinh-459436/.
Báo VietNamNet (02/11/2025). Bộ Y tế đề xuất gì để phát triển mạng lưới điều trị, chăm sóc người cao tuổi? https://vietnamnet.vn/bo-y-te-de-xuat-gi-de-phat-trien-mang-luoi-dieu-tri-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-2451128.html.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
International Labour Organization (ILO) (2018). Care work and care jobs for the future of decent work. International Labour Office, Geneva. https://www.ilo.org/publications/care-work-and-care-jobs-future-decent-work.
Quốc hội (2009). Luật Người cao tuổi năm 2009.
Tạ Thị Hương (11/11/2025). Hình thành và phát triển hệ sinh thái chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam thích ứng với già hóa dân số. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/11/hinh-thanh-va-phat-trien-he-sinh-thai-cham-soc-nguoi-cao-tuoi-o-viet-nam-thich-ung-voi-gia-hoa-dan-so/.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 34/2020/QĐ-TTg ngày 26/11/2020 ban hành Danh mục nghề nghiệp Việt Nam.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Tổng cục Thống kê (2025). Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. Nxb Thống kê.
Wang, D. (2026). Development of the care workforce in China. Tài liệu trình bày tại Hội thảo quốc tế về chăm sóc người cao tuổi, Ngân hàng Thế giới.
World Bank (2021). Việt Nam: Thích ứng với xã hội già hóa. Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Washington, DC. http://documents.worldbank.org/curated/en/544371632385243499.
World Bank (2026). Demographic aging in Viet Nam: Crisis or opportunity. Tài liệu trình bày tại Hội thảo quốc tế, Ngân hàng Thế giới.