Digital governance in public service institutions: resource optimization lessons from Electric Power University
Trần Thị Kim Thanh
Trung tâm Thực hành – Thí nghiệm, Trường Đại học Điện lực
Email: thanhttk@epu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập là nguồn lực nội sinh quan trọng, phản ánh sức mạnh kinh tế và tạo tiền đề vật chất phục vụ các hoạt động sự nghiệp. Hiện nay, việc chuyển đổi từ phương thức quản trị truyền thống sang quản trị số đóng vai trò then chốt giúp tối ưu hóa việc phân bổ, khai thác và bảo tồn các nguồn lực này. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về quản trị số trong mối tương quan, so sánh với quản trị truyền thống; đồng thời nghiên cứu thực trạng quản trị nguồn lực tài sản công tại các phòng thực hành, thí nghiệm của Trường Đại học Điện lực nhằm nhận diện các điểm nghẽn cần được thay đổi. Từ đó, đề xuất hệ thống giải pháp quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản trị số tại các cơ sở giáo dục đại học và các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay.
Từ khóa: Quản trị số; quản trị truyền thống; tối ưu hóa nguồn lực; tài sản công; đơn vị sự nghiệp công lập; phòng thực hành thí nghiệm; Trường Đại học Điện lực.
Abstract: Public assets at public service units are an important endogenous resource, reflecting economic strength and providing the material foundation for public service activities. Currently, the transition from traditional management methods to digital management plays a pivotal role in optimizing the allocation, utilization, and preservation of these resources. This article analyzes the theoretical foundations of digital governance in relation to and in comparison with traditional governance; it also examines the current state of public asset management in the practical training and laboratory facilities at the University of Electricity to identify bottlenecks that need to be addressed. Based on this analysis, the article proposes a system of public administration solutions aimed at enhancing the effectiveness of digital governance at higher education institutions and public service units today.
Keywords: Digital governance; traditional governance; resource optimization; public assets; public service units; practice laboratories; Electric Power University.
1. Đặt vấn đề
Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2025, tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm trụ sở, máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư hoặc giao quản lý. Chi tiết thi hành được quy định tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 và Thông tư số 120/2025/TT-BTC ngày 18/12/2025 của Bộ Tài chính. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản công, còn các đơn vị sự nghiệp công lập không có quyền sở hữu mà chỉ được giao quyền quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức quy định. Tài sản công đóng vai trò là yếu tố vật chất quan trọng để đơn vị sự nghiệp thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao; việc quản lý hiệu quả nguồn lực này không chỉ giúp chống lãng phí, thất thoát mà còn thể hiện mức độ hiện đại hóa của nền hành chính.
Trong hệ thống các cơ sở giáo dục đại học công lập, thiết bị dạy học và hệ thống phòng thực hành, thí nghiệm là cầu nối vật chất trực tiếp giữa lý thuyết và thực tiễn. Việc sử dụng hiệu quả các thiết bị này giúp đẩy mạnh phương pháp dạy học tích cực, đáp ứng yêu cầu “học đi đôi với hành”, nâng cao tính chủ động và kỹ năng thực hành cho người học, tránh tình trạng “dạy chay, dạy suông” gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực. Trường Đại học Điện lực là đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, do đó, áp lực tối ưu hóa chi phí đầu tư và nâng cao hiệu quả khai thác tài sản công (đặc biệt là hệ thống các phòng thực hành – thí nghiệm đắt tiền) trở thành nhân tố sống còn quyết định sự phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh của nhà trường.
2. Quản trị số và sự khác biệt với quản trị truyền thống trong tối ưu hóa nguồn lực đơn vị sự nghiệp công lập
2.1. Quản lý nguồn lực tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập
Trọng tâm trong quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay gắn liền với mô hình đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính. Khi chuyển sang cơ chế tự chủ, Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn, đồng thời cho phép khai thác, sử dụng tài sản công vào mục đích sản xuất, kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chuyển đổi sang cơ chế giao vốn/tài sản đòi hỏi năng lực quản trị số của đơn vị tự chủ tài chính phải tiệm cận với trình độ quản trị doanh nghiệp. Đơn vị không chỉ dừng lại ở việc quản lý hiện vật mang tính thủ công, mà còn phải hạch toán chi phí đầy đủ, quản lý hao mòn và trích khấu hao tài sản chính xác, tính toán hiệu suất sử dụng (công suất khai thác thực tế) và tối ưu hóa chi phí vận hành trong suốt vòng đời của tài sản. Việc áp dụng quản trị số giúp đơn vị tự chủ theo dõi tỷ lệ khấu hao thực tế theo tần suất vận hành, minh bạch hóa các chỉ số tài chính, từ đó tạo nền tảng hạch toán đúng, tính đủ giá dịch vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính, tài sản công hình thành chủ yếu từ ngân sách nhà nước cấp hoặc do Nhà nước giao, việc quản lý và sử dụng tài sản công được thực hiện chặt chẽ theo dự toán và định mức tương tự như cơ quan nhà nước. Dù ở mô hình nào, quản lý tài sản công đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc: xác định rõ chủ thể quản lý, sử dụng đúng mục đích, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa hợp lý; và công khai, minh bạch toàn bộ quá trình đầu tư, mua sắm, khai thác để chịu sự giám sát của cán bộ, công chức và xã hội.
2.2. So sánh quản trị số và quản trị truyền thống trong tối ưu hóa nguồn lực
Bảng 1. So sánh quản trị số và quản trị truyền thống trong tối ưu hoá nguồn lực
| Tiêu chí so sánh | Quản trị truyền thống (Traditional Governance) | Quản trị số (Digital Governance) |
| Cơ chế ra quyết định | Phụ thuộc chủ yếu vào kinh nghiệm tích lũy hoặc cảm tính của nhà quản lý. | Dựa trên dữ liệu thực được thu thập và phân tích liên tục từ hệ thống. |
| Kiến trúc hệ thống dữ liệu | Phân mảnh, rời rạc giữa các phòng ban, tồn tại dạng “ốc đảo dữ liệu”. | Tích hợp đồng bộ, quản trị trên nền tảng số và quản trị dữ liệu tập trung. |
| Theo dõi và kiểm soát tài sản | Kê khai, báo cáo thủ công theo định kỳ; khó nắm bắt hiện trạng và công suất sử dụng thực tế. | Giám sát và cập nhật theo thời gian thực về hiện trạng, tần suất vận hành và vị trí tài sản. |
| Kế hoạch bảo trì và mua sắm | Lập kế hoạch mang tính thụ động, chưa sát với nhu cầu thực tế của tổ chuyên môn, dễ dẫn đến mua sắm trùng lặp. | Lập kế hoạch chủ động, ưu tiên bảo dưỡng dựa trên tần suất sử dụng thực tế và đề xuất từ cơ sở. |
| Nguy cơ lãng phí và “Bẫy công nghệ” | Dễ rơi vào “bẫy công nghệ”: đầu tư thiết bị hiện đại nhưng thiếu năng lực quản trị và cán bộ vận hành. | Tối ưu hóa việc chia sẻ tài nguyên dùng chung, nâng cao năng lực thích ứng và phát huy tối đa hiệu quả đầu tư. |
Quản trị số đóng vai trò là cơ chế điều phối trung tâm, giúp kết nối hạ tầng công nghệ, năng lực tổ chức và các quy định thể chế, từ đó chuyển hóa các khoản đầu tư tài sản công thành giá trị sử dụng thực tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
3. Thực tiễn kinh nghiệm tại các phòng thực hành, thí nghiệm của Trường Đại học Điện lực
3.1. Một số kết quả
Trường Đại học Điện lực là cơ sở giáo dục đại học công lập đào tạo đa ngành, trong đó các ngành kỹ thuật – công nghệ, như: kỹ thuật điện, điều khiển và tự động hóa, năng lượng mới, điện tử – viễn thông, quản lý công nghiệp và năng lượng, công nghệ thông tin, cơ khí – ô tô và xây dựng… đóng vai trò nòng cốt. Nhận thức rõ tài sản công, đặc biệt là hệ thống phòng thực hành, thí nghiệm là nguồn lực vật chất nội sinh quyết định chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu khoa học, trong những năm qua, Nhà trường đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong công tác đầu tư.
Thứ nhất, tập trung nguồn lực để hiện đại hóa hạ tầng thực hành kỹ thuật mũi nhọn. Nhà trường đã trang bị hệ thống phòng thực hành, thí nghiệm hiện đại, các mô hình mô phỏng hệ thống điện, năng lượng, tự động hóa và phần mềm chuyên dụng đắt tiền, đáp ứng nhu cầu học tập “học đi đôi với hành” của sinh viên khối ngành kỹ thuật.
Thứ hai, mở rộng quy mô hạ tầng đa cơ sở và đa dạng hóa danh mục đào tạo. Bên cạnh việc đầu tư các khu thực hành chuyên biệt tại Cơ sở 2 ở xã Sóc Sơn và Cơ sở 4 ở Láng – Hòa Lạc, sau khi sáp nhập Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thương mại trở thành Cơ sở 3, Nhà trường tiếp nhận và đưa vào khai thác hiệu quả hạ tầng thực hành phục vụ thêm các ngành mới, như quản trị du lịch – khách sạn, lữ hành, ngành hóa chất, xăng dầu.
Thứ ba, đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp và hợp tác quốc tế nhằm đa dạng hóa nguồn lực. Nhà trường chủ động mở rộng hợp tác với các doanh nghiệp, đối tác trong và ngoài nước nhằm thu hút các nguồn tài trợ về thiết bị, mẫu thử nghiệm và chuyển giao công nghệ, vừa giảm áp lực vốn đầu tư công, vừa giúp sinh viên sớm tiếp cận môi trường thực tế.
Trường Đại học Điện lực đã chủ động triển khai mô hình quản trị số trong quản lý tài sản công, đặc biệt tại hệ thống phòng thực hành, thí nghiệm, đạt được nhiều kết quả tích cực về mặt kinh tế và quản trị.
(1) Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung và quản trị điều phối thời gian thực
Trường Đại học Điện lực đã chuẩn hóa và số hóa toàn bộ dữ liệu tài sản công tại các phòng thí nghiệm, đưa lên hệ thống quản trị tập trung. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung này đã trở thành nút gỡ quan trọng cho bài toán quản lý đa cơ sở, giúp điều phối linh hoạt lịch thực hành liên cơ sở (inter-campus) trên nền tảng số giữa Cơ sở 1, Cơ sở 2, Cơ sở 3 (tiếp nhận sau sáp nhập) và Cơ sở 4 (khu mới Láng – Hòa Lạc). Nhờ đó, ban quản lý có thể theo dõi công suất vận hành, lịch sử bảo trì và hiện trạng kỹ thuật của từng thiết bị theo thời gian thực. Việc ra quyết định điều phối lịch thực hành được thực hiện trên nền tảng số, giúp tối ưu hóa việc dùng chung phòng thí nghiệm giữa các khoa chuyên môn, giải quyết dứt điểm tình trạng lãng phí công suất và nâng tỷ lệ khai thác công suất máy móc, thiết bị lên thêm từ 25% đến 30% so với giai đoạn quản lý thủ công trước đây.
(2) Cải tiến quy trình lập kế hoạch mua sắm và bảo trì dựa trên dữ liệu
Nhà trường đã đổi mới quy trình lập kế hoạch đầu tư từ dưới lên; các đề xuất mua sắm thiết bị dạy học bắt buộc phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đào tạo của tổ chuyên môn và khoa trình lên, qua đó giúp đảm bảo tính đồng bộ, chính xác, tiết kiệm và đúng chủng loại. Thông qua đối soát dữ liệu nhu cầu và hiện trạng thiết bị trên hệ thống số hóa, nhà trường đã tiết kiệm được khoảng 15% – 20% chi phí mua sắm trùng lặp và không thực sự cần thiết.
Đặc biệt, việc ứng dụng mô-đun quản lý kho thông minh tích hợp trên phần mềm quản trị đã tháo gỡ hiệu quả điểm nghẽn về vật tư đặc thù: tự động cảnh báo định mức an toàn phòng chống cháy nổ đối với hóa chất, xăng dầu, dầu mỡ nhờn; đồng thời hỗ trợ lập kế hoạch mua sắm vật tư tươi sống theo tuần dựa trên thời khóa biểu và lịch học thực tế của các ngành Quản trị Du lịch – Khách sạn, Lữ hành. Kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị dạy học được xây dựng dựa trên việc theo dõi tần suất sử dụng thực tế. Các thiết bị có tần suất vận hành cao được đưa vào danh mục ưu tiên bảo dưỡng kịp thời, giúp ngăn ngừa sự cố kỹ thuật, kéo dài tuổi thọ tài sản công và tối ưu hóa chi phí bảo trì dựa trên dữ liệu thực tế (giảm khoảng 15% – 20% chi phí sửa chữa đột xuất do hỏng hóc nghiêm trọng).
(3) Bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ con người
Trường Đại học Điện lực xác định cán bộ quản lý, giảng viên và kỹ thuật viên là nhân tố quyết định hiệu quả trong việc sử dụng thiết bị dạy học. Nhà trường thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng vận hành thiết bị hiện đại và kỹ năng khai thác các phần mềm quản trị cho đội ngũ này.
Nhà trường đẩy mạnh phong trào tự chế, tự làm đồ dùng, thiết bị dạy học của giảng viên và sinh viên. Hoạt động này huy động tiềm năng trí tuệ, tạo hứng thú nghề nghiệp và giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng thực hành. Gắn kết nghiên cứu khoa học với thực tiễn giảng dạy. Khuyến khích giáo viên và sinh viên đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học xuất phát từ chính nhu cầu của môn học. Nhiều đề tài đã thành công trong việc chế tạo các bộ thí nghiệm thực hành ảo hoặc các phần mềm mô phỏng, giúp trực quan hóa các kiến thức phức tạp. Ưu tiên các sáng kiến sử dụng nguyên vật liệu sẵn có, chi phí thấp và linh kiện cũ để lắp ráp thành các thiết bị dạy học mới. Điều này không chỉ tiết kiệm ngân sách mà còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, các em đã có sân chơi bổ ích, thúc đẩy phong trào nghiên cứu, chế tạo, giúp sinh viên vận dụng lý thuyết vào thực hành, tự nâng cao tay nghề và tạo ra các học cụ có giá trị, phục vụ thực tiễn cho các phòng thí nghiệm.
3.2. Những bất cập, hạn chế
Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình vận hành hạ tầng thực hành, thí nghiệm quy mô lớn, đa cơ sở theo phương thức quản trị truyền thống trước đây đã bộc lộ 4 “điểm nghẽn” chính:
Một là, sự phân mảnh dữ liệu tài sản giữa các cơ sở.Hệ thống máy móc, thiết bị trải rộng trên 4 cơ sở địa lý khác nhau. Dữ liệu quản lý bị phân tán giữa các Khoa chuyên môn và Phòng chức năng, khiến Ban lãnh đạo Trường khó theo dõi chính xác tổng thể hiện trạng kỹ thuật và công suất vận hành theo thời gian thực của tài sản.
Hai là, hiệu suất khai thác chưa tối ưu và lãng phí công suất cục bộ. Việc phân bổ lịch thực hành mang tính thủ công và nặng về tư tưởng “sở hữu cục bộ”. Dẫn đến tình trạng lệch tải: một số phòng thí nghiệm, thực hành dịch vụ rơi vào tình trạng quá tải lịch học vào tuần cao điểm, trong khi một số phòng khác lại để thiết bị trống.
Ba là, bất cập trong việc lập kế hoạch mua sắm, bảo trì và quản lý vật tư tiêu hao đặc thù. Kế hoạch mua sắm chưa xuất phát từ việc đối soát dữ liệu nhu cầu thực tế. Đặc biệt, quy trình mua sắm công tập trung còn bộc lộ sự thiếu linh hoạt đối với một số nhóm vật tư đặc thù. Vật tư thực hành ngành Du lịch – Khách sạn có thời hạn bảo quản ngắn (thực phẩm tươi sống, nguyên liệu pha chế), dễ hư hỏng nếu mua tập trung số lượng lớn hoặc vướng thủ tục chứng từ hóa đơn khi mua nhỏ lẻ. Vật tư học phần Xăng dầu, Phân tích & kiểm định dầu mỡ nhờn thuộc nhóm nguy cơ cháy nổ cao và dễ bay hơi/biến tính theo thời gian, đòi hỏi điều kiện lưu trữ nghiêm ngặt về phòng cháy chữa cháy và quy trình xử lý chất thải nguy hại phức tạp.
Bốn là, năng lực khai thác thiết bị hiện đại chưa đồng đều. Kỹ năng quản lý, vận hành các tính năng nâng cao trên các thiết bị hiện đại của một bộ phận cán bộ kỹ thuật, giảng viên chưa theo kịp tốc độ đầu tư hạ tầng.
Những bất cập trên xuất phát từ sự kết hợp của các nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Về nguyên nhân chủ quan. (1) Chậm đổi mới tư duy quản trị tài sản công. Mô hình quản lý vẫn nặng tính hành chính thủ công (kê khai, kiểm kê định kỳ) thay vì tư duy quản trị số hợp nhất, chưa xây dựng quy chế mua sắm linh hoạt cho các loại vật tư tiêu hao đặc thù. (2) Chưa hoàn thiện quy chế hạch toán và điều phối việc sử dụng chung nội bộ. Thiếu cơ chế hạch toán chi phí sử dụng nội bộ và quy trình điều phối số hóa dùng chung phòng thực hành, thí nghiệm giữa các đơn vị trên toàn hệ thống 4 cơ sở. (3) Chưa đồng bộ giữa đầu tư hạ tầng và phát triển năng lực số. Đào tạo kỹ năng quản trị số và vận hành phần mềm cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật chưa được tiến hành tương xứng với tốc độ mua sắm trang thiết bị.
Về nguyên nhân khách quan. (1) Rào cản địa lý và lịch sử sáp nhập. Việc hợp nhất dữ liệu từ các đơn vị sáp nhập và quản lý đồng thời 4 cơ sở cách xa nhau có thể gây chậm trễ trong công tác quản lý nếu thiếu công cụ số hỗ trợ. (2) Sự ràng buộc của quy định pháp lý và đặc tính của tài sản. Rào cản từ quy định về thủ tục đấu thầu công, cùng với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Luật Phòng, chống cháy nổ, Luật Hóa chất/Môi trường đối với việc lưu trữ và xử lý hóa chất/xăng dầu thải.
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và quy chế quản lý tài sản công trong môi trường số.
Các đơn vị sự nghiệp công lập cần rà soát, ban hành quy chế quản lý và sử dụng tài sản công phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính. Phân định rõ ràng thẩm quyền và trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị, lãnh đạo bộ phận và từng cá nhân trực tiếp vận hành tài sản. Cụ thể hóa các quy định nội bộ về hạch toán chi phí đào tạo, tạo hành lang pháp lý để áp dụng kết quả từ mô-đun quản lý khấu hao tài sản số hóa vào việc xác định học phí và phân bổ ngân sách, qua đó giải quyết triệt để bài toán tự chủ tài chính của nhà trường. Quy định rõ cơ chế phân bổ, điều phối việc sử dụng chung tài sản công (đặc biệt là phòng thực hành, máy móc chuyên sâu) giữa các đơn vị nội bộ nhằm triệt tiêu tình trạng lãng phí, “sở hữu cục bộ”. Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc công khai, minh bạch triệt để từ khâu xây dựng kế hoạch, mua sắm tập trung đến khâu xử lý, thanh lý tài sản.
Thứ hai, xây dựng kiến trúc quản trị số tích hợp và hạ tầng dữ liệu tập trung.
Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia/nội bộ về tài sản công có khả năng liên thông dữ liệu giữa quản trị cơ sở vật chất, quản lý đào tạo và kế hoạch tài chính. Đề xuất tích hợp trực tiếp mô-đun quản trị tài chính – khấu hao tài sản vào phần mềm quản lý phòng thí nghiệm số hóa. Giải pháp này giúp tự động trích lập khấu hao dựa trên tần suất và thời gian khai thác thực tế của từng thiết bị, từ đó cung cấp số liệu chính xác phục vụ trực tiếp cho bài toán tự chủ tài chính, giúp nhà trường tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo. Chuyển đổi từ mô hình quản lý thủ công sang quản trị nền tảng; ứng dụng công nghệ để theo dõi hiện trạng và tần suất sử dụng tài sản theo thời gian thực, làm căn cứ ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Thứ ba, chú trọng phát triển “hạ tầng mềm” và năng lực tổ chức.
Đơn vị sự nghiệp cần tránh rơi vào “bẫy công nghệ” – tức là chỉ chú trọng mua sắm máy móc đắt tiền nhưng bỏ qua việc nâng cao năng lực quản trị. Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ và năng lực số cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm. Xây dựng văn hóa tổ chức đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực lãnh đạo số ở cấp quản lý.
Thứ tư, đổi mới phương thức lập kế hoạch và phát huy phong trào đổi mới sáng tạo.
Kế hoạch đầu tư mua sắm trang thiết bị phải được tổng hợp từ các đề xuất thực tế của các tổ chuyên môn, bảo đảm tính đồng bộ, tính kỹ thuật và tiết kiệm ngân sách. Kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa phải dựa trên tần suất vận hành thực tế của máy móc và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng. Đẩy mạnh phong trào tự làm, tự chế thiết bị dạy học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cho người học nhằm vừa bổ sung nguồn lực học cụ, vừa nâng cao chất lượng đào tạo thực hành.
5. Kết luận
Chuyển đổi từ quản trị truyền thống sang quản trị số là con đường tất yếu giúp các đơn vị sự nghiệp công lập tối ưu hóa nguồn lực tài sản công, nâng cao hiệu quả hoạt động và thực hiện thành công cơ chế tự chủ. Bài học thực tiễn tại các phòng thực hành, thí nghiệm của Trường Đại học Điện lực khẳng định, tối ưu hóa nguồn lực không chỉ đơn thuần là việc cắt giảm chi phí hay mua sắm thêm máy móc mà là một quá trình tái cấu trúc toàn diện dựa trên sự kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế tài sản công, ứng dụng quản trị số dựa trên dữ liệu và nâng cao năng lực cho đội ngũ con người. Việc nhân rộng các giải pháp quản trị số này sẽ góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học và hiện đại hóa nền quản trị nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
ISO 21001:2018. Educational organizations – Management systems for educational organizations – Requirements with guidance for use.
Võ Thị Kim Hoa (2023). Xu thế chuyển đổi số trong giáo dục đại học khối ngành kỹ thuật – Đề xuất một số giải pháp phát triển. Tạp chí Thiết bị Giáo dục.
Nguyễn Thị Huệ (2024). Chuyển đổi số trong giáo dục đại học – Những thách thức. Tạp chí Khoa học và Giáo dục Việt Nam.
Nguyễn Thanh Hải (2025). Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thiết bị dạy học tại Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung. Tạp chí Tâm lý – Giáo dục.
Trần Thị Toàn, Nguyễn Xuân Lâm (2022). Quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập: thực trạng và một số khuyến nghị. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán.
Trần Bích Thuận (2022). Xây dựng hệ thống quản lý thiết bị số hóa tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học và Công nghệ.
Nguyễn Thị Hải Vân, Nguyễn Khắc Linh (2021). Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội.



