Policies for promoting the resources of overseas Vietnamese from the perspective of developmental politics
ThS. Nguyễn Thu Nga
Sở Ngoại vụ TP. Hồ Chí Minh
Email: ngakiwivn19@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận của chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời là yêu cầu của chiến lược phát triển đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Bài viết tiếp cận chính sách này từ góc độ chính trị phát triển, tập trung vào 5 phương diện: tính bao trùm của cộng đồng chính trị; năng lực thể chế và tổ chức thực hiện; sự tham gia của đối tượng chính sách; niềm tin và tính chính danh; khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển. Trên cơ sở phân tích các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và một số nghiên cứu quốc tế về quan hệ nhà nước – cộng đồng ở ngoài lãnh thổ, bài viết chỉ ra bước chuyển từ tư duy vận động, thu hút sang tư duy đồng hành, đồng kiến tạo và thể chế hóa nguồn lực. Bài viết cũng nhận diện những hạn chế về phối hợp, dữ liệu, tham vấn chính sách, cơ chế trọng dụng và đánh giá kết quả; từ đó đề xuất các định hướng nhằm giúp chính sách vừa củng cố gắn kết dân tộc, vừa tạo động lực phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Người Việt Nam ở nước ngoài; nguồn lực; chính sách công; chính trị phát triển; đại đoàn kết toàn dân tộc.
Abstract: Promoting the resources of overseas Vietnamese is part of Vietnam’s national unity policy and an important requirement of the country’s development strategy amid deep international integration. This article examines the policy from a political development perspective through five dimensions: the inclusiveness of the political community; institutional and implementation capacity; stakeholder participation; trust and legitimacy; and the conversion of resources into development outcomes. Based on Party documents, state policies and laws, and selected international studies on state-diaspora relations, the article identifies a shift from one-way mobilization and resource attraction toward partnership, co-creation, and institutionalized resource connectivity. It also points out limitations in coordination, data governance, policy consultation, talent utilization, and outcome evaluation. Accordingly, the article proposes directions to ensure that the policy both strengthens national cohesion and generates effective momentum for rapid and sustainable development in the new period.
Keywords: Overseas Vietnamese; resources; public policy; political development; national unity.
1. Đặt vấn đề
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có hơn 6,5 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ; hơn 80% cư trú tại các nước phát triển. Cùng với sự gia tăng về quy mô, cơ cấu cộng đồng ngày càng đa dạng, trẻ hóa và có nhiều chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, lao động kỹ thuật cao giữ vị trí quan trọng trong xã hội sở tại (Bộ Chính trị, 2026; Nguyễn Trung Kiên, 2026). Vì vậy, nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ được nhận diện qua kiều hối hoặc vốn đầu tư mà còn bao gồm tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới thị trường, uy tín xã hội, năng lực kết nối quốc tế và sức mạnh văn hóa. Đây là một phần nguồn lực quốc gia hiện diện ngoài lãnh thổ nhưng có khả năng tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển trong nước.
Trong hơn hai thập niên qua, nhận thức và chính sách của Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã có những bước phát triển rõ rệt. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 xác lập quan điểm rằng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015, Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 và Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 31/12/2021 tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách, chăm lo cộng đồng, củng cố đại đoàn kết, thu hút nguồn lực trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ. Đặc biệt, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, đồng thời yêu cầu nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên đến đồng hành, kiến tạo cơ chế và huy động nguồn lực để tham gia sâu hơn vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Bước chuyển đó đặt ra một câu hỏi lớn về chất lượng của chính sách. Nếu chỉ thống kê số cuộc gặp, lượng kiều hối, số đoàn chuyên gia hay số chương trình kết nối, khó đánh giá được liệu chính sách có tạo ra sự gắn kết bền vững, có bảo đảm sự tham gia thực chất của cộng đồng và có chuyển hóa nguồn lực thành năng lực phát triển hay không. Cách tiếp cận chính trị phát triển cho phép nhìn vấn đề sâu hơn: chính sách không đơn thuần là công cụ thu hút nguồn lực mà còn là quá trình xác lập vị trí chính trị của cộng đồng, tổ chức quan hệ giữa Nhà nước với công dân và người gốc Việt ở ngoài lãnh thổ, phân bổ cơ hội tham gia, xây dựng niềm tin, giải quyết khác biệt và tạo đồng thuận quanh mục tiêu phát triển quốc gia.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích chính sách và phân tích văn bản, kết hợp tham khảo một số lý thuyết về chính trị phát triển, năng lực quản trị và quan hệ nhà nước – cộng đồng ở ngoài lãnh thổ. Trọng tâm nghiên cứu là làm rõ nội hàm của chính sách phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài; đánh giá bước phát triển về tư duy và thể chế; nhận diện những hạn chế đang ảnh hưởng đến hiệu quả; đề xuất định hướng đổi mới phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 23-NQ/TW và mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Cách tiếp cận chính trị phát triển đối với chính sách phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài
Chính trị phát triển nghiên cứu mối quan hệ giữa quyền lực chính trị, thể chế, năng lực nhà nước, sự tham gia của xã hội và kết quả phát triển. Những công trình kinh điển của Lucian W. Pye và Samuel P. Huntington đặt trọng tâm vào khả năng thích ứng, chuyên môn hóa và thể chế hóa của hệ thống chính trị (Pye, 1966; Huntington, 1968). Amartya Sen mở rộng nội hàm phát triển khi xem phát triển là quá trình mở rộng tự do thực chất và năng lực lựa chọn của con người (Sen, 1999). Francis Fukuyama nhấn mạnh rằng chất lượng quản trị nằm ở năng lực của nhà nước trong việc thực thi chính sách một cách chuyên nghiệp, không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ và có khả năng tạo ra kết quả (Fukuyama, 2013). Từ những gợi mở đó, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần được xem xét không chỉ ở mục tiêu huy động đóng góp, mà còn ở mức độ bao trùm, năng lực thực thi, cơ hội tham gia, niềm tin và tác động đến phát triển.
Dưới góc độ này, nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài là một chỉnh thể gồm ít nhất 5 nhóm. (1) Nguồn lực tài chính, thể hiện qua kiều hối, đầu tư, tiết kiệm, đóng góp từ thiện và khả năng tiếp cận các dòng vốn quốc tế. (2) Nguồn lực con người, gồm tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và năng lực đào tạo nhân lực. (3) Nguồn lực mạng lưới, gồm quan hệ thị trường, chuỗi cung ứng, hiệp hội nghề nghiệp, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và các thiết chế chính trị – xã hội tại nước sở tại. (4) Nguồn lực văn hóa, bao gồm tiếng Việt, bản sắc, uy tín cộng đồng và năng lực quảng bá hình ảnh đất nước. (5) Nguồn lực chính trị – đối ngoại, thể hiện ở vai trò cầu nối, khả năng góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao sức mạnh mềm (Nguyễn Văn Thuật, 2023; World Bank, 2023).
Các nguồn lực này không tồn tại như những “kho dự trữ” mà Nhà nước có thể huy động bằng mệnh lệnh hành chính. Khả năng chuyển hóa nguồn lực phụ thuộc vào chất lượng quan hệ giữa Nhà nước và cộng đồng, mức độ tin cậy của thể chế, sự rõ ràng của quyền và nghĩa vụ, chi phí tham gia, cách thức ghi nhận đóng góp và triển vọng tạo ra giá trị chung. Nghiên cứu về chính sách gắn kết kiều dân cho thấy các quốc gia thường sử dụng 3 nhóm công cụ: xây dựng cộng đồng và bản sắc; mở rộng quyền, dịch vụ và bảo hộ; tạo cơ chế để kiều dân tham gia vào quá trình phát triển (Gamlen, 2006, 2014; Délano & Gamlen, 2014; Agunias & Newland, 2012; Brinkerhoff, 2012). Công cụ chỉ phát huy tác dụng khi được kết hợp nhất quán và dựa trên hiểu biết chính xác về đặc điểm của từng bộ phận trong cộng đồng.
Bài viết sử dụng 5 tiêu chí để phân tích chính sách, gồm: (1) Tính bao trùm: cộng đồng ở ngoài lãnh thổ được thừa nhận đầy đủ như một bộ phận của dân tộc, không bị phân biệt bởi lịch sử, hoàn cảnh ra đi, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo hay những quan điểm khác biệt và không gây phương hại đến lợi ích quốc gia. (2) Năng lực thể chế: chủ trương có được chuyển thành pháp luật, chương trình, ngân sách, cơ sở dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng hay không. (3) Sự tham gia: người Việt Nam ở nước ngoài có cơ hội tham vấn, phản biện, đồng thiết kế và thực hiện chính sách hay chỉ là đối tượng được vận động. (4) Niềm tin và tính chính danh: chính sách có minh bạch, nhất quán, bảo vệ quyền lợi và tạo cảm nhận công bằng hay không. (5) Kết quả phát triển: nguồn lực có được chuyển thành năng suất, đổi mới sáng tạo, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng thể chế, phát triển văn hóa và vị thế quốc gia hay không?
3. Sự phát triển của chính sách và những kết quả chủ yếu
Quá trình phát triển chính sách cho thấy một đường hướng nhất quán nhưng nội hàm ngày càng sâu hơn. Nghị quyết số 36-NQ/TW tạo bước ngoặt khi khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc; đặt công tác này trong chính sách đại đoàn kết và yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc, hướng về quê hương, đầu tư và đóng góp trí tuệ (Bộ Chính trị, 2004). Chỉ thị số 45-CT/TW nhấn mạnh việc khắc phục hạn chế trong thể chế hóa, tăng cường bảo hộ, hỗ trợ địa vị pháp lý, dạy và học tiếng Việt, thu hút chuyên gia, trí thức và doanh nhân (Bộ Chính trị, 2015). Kết luận số 12-KL/TW và Nghị quyết số 169/NQ-CP tiếp tục gắn công tác người Việt Nam ở nước ngoài với yêu cầu phát triển và hội nhập trong giai đoạn 2021-2026 (Bộ Chính trị, 2021; Chính phủ, 2021). Về hiệu lực định hướng, Nghị quyết số 23-NQ/TW đồng thời thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW và các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Chính trị, 2026).
Nghị quyết số 23-NQ/TW năm 2026 đánh dấu bước phát triển mới về địa vị chính trị và phương thức chính sách. Nghị quyết xác định cộng đồng là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc (Bộ Chính trị, 2026). Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở việc nâng tầm khái niệm “nguồn lực”, mà còn ở việc thừa nhận người Việt Nam ở nước ngoài là một chủ thể. Chính sách vì thế phải chuyển từ quan hệ một chiều “Nhà nước vận động – kiều bào đóng góp” sang quan hệ hợp tác, trong đó Nhà nước tạo thể chế, lắng nghe, bảo vệ quyền lợi, còn cộng đồng tham gia xác định vấn đề và kiến tạo giải pháp.
Về tính bao trùm, chính sách ngày càng thể hiện rõ tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Nghị quyết số 23-NQ/TW khẳng định không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội; trân trọng, cầu thị, lắng nghe ý kiến đóng góp, kể cả quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc (Bộ Chính trị, 2026). Đây là điều kiện chính trị quan trọng để mở rộng khối đại đoàn kết trong bối cảnh cộng đồng hình thành từ nhiều làn sóng di cư, có ký ức lịch sử, trải nghiệm và mức độ gắn bó khác nhau. Việc chuyển từ định kiến sang đối thoại, từ vận động cảm tính sang bảo đảm quyền lợi và cơ hội tham gia giúp củng cố nền tảng chính danh của chính sách.
Về thể chế và tổ chức thực hiện, nhiều chính sách liên quan đến quốc tịch, xuất nhập cảnh, cư trú, sở hữu nhà ở, đầu tư, kinh doanh, bảo hộ công dân, giữ gìn tiếng Việt và thu hút chuyên gia đã được điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai bởi hệ thống cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, các cơ quan đại diện ở nước ngoài và chính quyền địa phương. Các chương trình gặp mặt, diễn đàn trí thức, kết nối doanh nhân, xúc tiến thương mại, trại hè, dạy tiếng Việt, hỗ trợ hội đoàn và bảo hộ công dân đã tạo ra nhiều kênh gắn kết. Chỉ thị số 11/CT-TTg năm 2026 còn đặt nhiệm vụ huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển kênh phân phối hàng Việt ở nước ngoài (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
Về kết quả phát huy nguồn lực và đóng góp của cộng đồng, điều này diễn ra trên nhiều phương diện. Kiều hối tạo nguồn ngoại tệ ổn định, hỗ trợ đời sống gia đình, đầu tư và tiêu dùng. Doanh nhân kiều bào góp vốn, chuyển giao kinh nghiệm quản trị, kết nối hàng hóa Việt Nam với thị trường quốc tế. Đội ngũ trí thức, chuyên gia tham gia tư vấn chính sách, nghiên cứu, giảng dạy, khám chữa bệnh, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhiều cá nhân có uy tín trở thành cầu nối hữu nghị, quảng bá hình ảnh Việt Nam, vận động quan hệ hợp tác và hỗ trợ bảo vệ lợi ích quốc gia. Tiếng Việt, văn hóa, ẩm thực và hoạt động cộng đồng góp phần duy trì bản sắc, bồi đắp sức mạnh mềm và gắn kết các thế hệ (Nguyễn Văn Thuật, 2023; Lê Thị Thu Hằng, 2026).
Những kết quả trên cho thấy chính sách đã tạo dựng được nền tảng chính trị và pháp lý quan trọng. Cộng đồng không còn chỉ được nhìn nhận như một nguồn hỗ trợ từ bên ngoài, mà ngày càng tham gia vào mạng lưới phát triển của đất nước. Bộ Ngoại giao xác định phương châm của giai đoạn mới là “Đồng hành – Đồng kiến tạo – Kết nối”, đồng thời nhấn mạnh chuyển từ kết nối sang đồng kiến tạo, từ vận động sang thể chế hóa nguồn lực, từ bảo tồn sang lan tỏa giá trị Việt (Nguyễn Trung Kiên, 2026). Cách đặt vấn đề này phù hợp với tinh thần của Đại hội XIV về khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần cống hiến và biến văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh cho phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
4. Những vấn đề đặt ra dưới góc độ chính trị phát triển
Một là, tính bao trùm đã được khẳng định mạnh về nguyên tắc, nhưng mức độ hiện thực hóa chưa đồng đều. Cộng đồng phân bố rộng, có sự khác biệt lớn về thế hệ, địa vị pháp lý, nghề nghiệp, ngôn ngữ và ký ức lịch sử. Một số nhóm đã có tổ chức đại diện vững chắc, quan hệ thường xuyên với các cơ quan trong nước; trong khi đó, lao động di cư, phụ nữ kết hôn, người cư trú chưa ổn định, thế hệ trẻ ít sử dụng tiếng Việt hoặc những người còn tâm lý e ngại chưa được tiếp cận đầy đủ. Nếu chính sách chủ yếu làm việc với những cá nhân, hội đoàn quen thuộc, phạm vi đại diện sẽ hẹp; tiếng nói của các nhóm dễ bị tổn thương hoặc ít kết nối có thể bị bỏ sót. Bao trùm chính trị đòi hỏi không chỉ tuyên bố đoàn kết mà còn phải mở được kênh tham gia an toàn, bình đẳng và phù hợp với từng nhóm.
Hai là, năng lực phối hợp và dữ liệu chưa theo kịp tính chất xuyên ngành, xuyên biên giới của chính sách. Công tác của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến ngoại giao, công an, tư pháp, tài chính, khoa học – công nghệ, giáo dục, văn hóa, lao động, thương mại, địa phương và các cơ quan đại diện. Khi trách nhiệm chưa được phân định rõ ràng, một kiến nghị có thể phải chuyển qua nhiều đầu mối, trong khi không có cơ chế theo dõi để đạt được kết quả cuối cùng. Dữ liệu về chuyên gia, doanh nhân, hội đoàn, nhu cầu hợp tác, dự án đã kết nối và mức độ hài lòng còn phân tán; cách phân loại cũng khác nhau giữa các cơ quan. Thiếu dữ liệu không chỉ gây khó cho quản lý mà còn khiến chính sách dễ rơi vào vận động theo sự kiện, thiếu mục tiêu và không thể đo lường được tác động.
Ba là, sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng chính sách chưa thật sự tương xứng với vai trò “chủ thể đồng hành”. Nhiều hoạt động tham vấn vẫn diễn ra theo đợt hoặc gắn với các sự kiện lớn; vòng phản hồi sau tham vấn còn yếu. Chuyên gia có thể góp ý nhưng không biết kiến nghị được xử lý như thế nào; doanh nhân được mời gọi nhưng thiếu một đầu mối theo từng dự án; người trẻ tham gia chương trình giao lưu nhưng chưa có không gian bền vững để đề xuất sáng kiến. Tham gia chính trị theo nghĩa phát triển không dừng lại ở quyền được phát biểu. Nó phải bao gồm khả năng tiếp cận thông tin, tham gia xác định vấn đề, đồng thiết kế giải pháp, theo dõi việc thực hiện và nhận phản hồi có cơ sở.
Bốn là, cơ cấu nguồn lực được phát huy còn thiên về những gì dễ nhìn thấy và dễ thống kê, nhất là kiều hối, đầu tư và số lượng chuyên gia về nước. Trong khi đó, giá trị của tri thức, mạng lưới, uy tín, khả năng mở rộng thị trường, chuẩn mực quản trị và kết nối khoa học thường cần thời gian dài để hình thành. Một chuyên gia không nhất thiết phải hồi hương mới đóng góp; họ có thể tham gia nhóm nghiên cứu trực tuyến, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, thẩm định công nghệ hoặc kết nối phòng thí nghiệm. Một doanh nhân không chỉ mang theo vốn mà còn mang theo tiêu chuẩn, khách hàng, chuỗi cung ứng và văn hóa kinh doanh. Khi công cụ chính sách chưa phù hợp với các hình thức đóng góp linh hoạt, nguồn lực phi tài chính dễ bị lãng phí.
Năm là, niềm tin và trách nhiệm giải trình chưa được đặt làm chỉ tiêu trung tâm. Niềm tin được hình thành từ sự nhất quán của pháp luật, chất lượng bảo hộ, thái độ phục vụ, sự minh bạch trong việc lựa chọn chuyên gia, khả năng bảo vệ quyền lợi và việc thực hiện cam kết. Chỉ một số vụ việc kéo dài, phản hồi chậm hoặc cơ chế trọng dụng thiếu công bằng cũng có thể gây ảnh hưởng rộng trong mạng lưới cộng đồng. Báo cáo chính sách hiện thường nặng về đầu ra hành chính như số cuộc gặp, số đoàn, số hội nghị, trong khi ít đo lường mức độ hài lòng, số kiến nghị được giải quyết, tỷ lệ hợp tác duy trì, sản phẩm khoa học được ứng dụng hoặc giá trị phát triển tạo ra. Không có thước đo kết quả, chính sách khó tự điều chỉnh và khó củng cố tính chính danh.
5. Định hướng hoàn thiện chính sách trong giai đoạn mới
Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ bước chuyển từ vận động sang đồng hành và đồng kiến tạo. Cần coi người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng thụ hưởng, bảo hộ hoặc vận động đóng góp, mà còn là một chủ thể của cộng đồng chính trị và của quá trình phát triển. Mỗi chính sách lớn liên quan đến kiều bào cần trả lời 3 câu hỏi: quyền và lợi ích chính đáng nào cần được bảo đảm; cộng đồng có thể tham gia ở khâu nào; kết quả phát triển nào được kỳ vọng. Chăm lo và phát huy phải được thiết kế như hai mặt của cùng một chính sách. Nhà nước bảo vệ quyền lợi, hỗ trợ hội nhập và duy trì bản sắc; cộng đồng có điều kiện để đóng góp một cách tự nguyện, minh bạch và phù hợp với năng lực của mình.
Thứ hai, xây dựng chiến lược quốc gia về phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài gắn với chiến lược phát triển 2026-2030 và tầm nhìn 2045. Chiến lược cần phân biệt rõ các nhóm nguồn lực, các địa bàn ưu tiên và các bài toán phát triển cụ thể: công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, tài chính, y tế, giáo dục, công nghiệp văn hóa, thị trường xuất khẩu, kinh tế xanh, quản trị đô thị và bảo vệ chủ quyền. Thay vì kêu gọi chung, cơ quan trong nước phải công bố danh mục nhiệm vụ, tiêu chuẩn chuyên môn, đầu mối, thời hạn, chế độ đãi ngộ và cơ chế sử dụng kết quả. Địa phương cần tích hợp nội dung kiều bào vào quy hoạch và chương trình phát triển, nhưng phải bảo đảm tính thống nhất với chiến lược quốc gia.
Thứ ba, củng cố cơ chế điều phối và trách nhiệm giải trình. Cần xác định một đầu mối có đủ thẩm quyền để theo dõi toàn bộ vòng đời của chương trình: từ tiếp nhận nhu cầu, lựa chọn đối tác, ký kết, triển khai đến đánh giá. Giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ quan đại diện phải có quy trình chuyển việc, thời hạn phản hồi và cơ chế giải quyết các trường hợp chồng chéo. Hằng năm, cần công bố báo cáo kết quả chính sách theo nhóm nguồn lực và địa bàn, nêu rõ những việc đã làm, những việc chưa làm, nguyên nhân và kế hoạch khắc phục. Đối với chương trình sử dụng ngân sách hoặc lựa chọn chuyên gia, tiêu chí tuyển chọn, thù lao, quyền sở hữu trí tuệ và nghiệm thu phải minh bạch để bảo vệ uy tín của cả Nhà nước và người tham gia.
Thứ tư, thiết lập cơ chế tham vấn hai chiều thường xuyên. Có thể xây dựng hội đồng hoặc mạng lưới tư vấn người Việt Nam toàn cầu theo lĩnh vực, hoạt động kết hợp trực tiếp và trực tuyến, có nhiệm kỳ, tiêu chuẩn thành viên và quy chế phản hồi. Mỗi kiến nghị cần có mã theo dõi, cơ quan xử lý, thời hạn và kết quả công khai ở mức phù hợp. Bên cạnh các chuyên gia và doanh nhân thành đạt, cơ chế tham vấn phải mở cho thế hệ trẻ, lao động, phụ nữ, người cư trú ở địa bàn khó khăn, đại diện văn hóa – nghệ thuật và những người có quan điểm khác biệt nhưng thiện chí. Chính sự đa dạng đó giúp chính sách sát thực tế hơn và tránh tình trạng chỉ nghe tiếng nói của nhóm có quan hệ thuận lợi.
Thứ năm, phát triển hạ tầng dữ liệu và hệ sinh thái kết nối an toàn. Cần xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung, tuân thủ yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, cho phép cập nhật hồ sơ năng lực, nhu cầu hợp tác, chương trình trong nước và kết quả thực hiện. Dữ liệu phải phục vụ cho việc ghép nối cụ thể, không biến thành danh sách mang tính hình thức. Hệ sinh thái kết nối nên bao gồm các cơ quan nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức cộng đồng và các cơ quan đại diện. Vai trò của Nhà nước là đặt chuẩn, xác thực thông tin, giảm chi phí giao dịch, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và can thiệp khi có rủi ro; không làm thay hoạt động chuyên môn của các mạng lưới xã hội và thị trường.
Thứ sáu, đổi mới chính sách thu hút và trọng dụng theo hướng linh hoạt, phù hợp với nhiệm vụ. Không nên đồng nhất thu hút với hồi hương dài hạn. Cần phát triển các hình thức hợp tác ngắn hạn, bán thời gian, trực tuyến, đồng bổ nhiệm, nhóm nghiên cứu chung, cố vấn dự án, đặt hàng giải pháp và chương trình lưu chuyển chuyên gia. Chính sách đãi ngộ phải tính đến thu nhập, điều kiện làm việc, quyền sở hữu trí tuệ, cơ hội nghề nghiệp của thành viên gia đình và khả năng tiếp cận hạ tầng nghiên cứu. Đối với doanh nhân, trọng tâm là môi trường pháp lý ổn định, thủ tục rõ ràng, cơ chế xử lý tranh chấp đáng tin cậy và cơ hội tham gia chuỗi giá trị, thay vì các ưu đãi riêng lẻ dễ tạo cảm giác thiếu công bằng.
Thứ bảy, lấy việc bảo vệ quyền lợi, niềm tin và kết quả phát triển làm thước đo. Bộ chỉ số đánh giá có thể gồm: thời gian xử lý kiến nghị; tỷ lệ phản hồi đúng hạn; mức độ hài lòng; số hợp tác duy trì sau hai hoặc ba năm; số sản phẩm khoa học được ứng dụng; giá trị thị trường được mở; số chương trình tiếng Việt có người trẻ tham gia; tác động đến đổi mới sáng tạo, năng suất và hình ảnh quốc gia. Đánh giá độc lập cần được khuyến khích trong các chương trình lớn. Truyền thông phải cung cấp thông tin chính xác, giải thích cả thành tựu và hạn chế, phản hồi kịp thời các tin sai nhưng không thay thế đối thoại. Khi lời hứa chính sách được thực hiện, quyền lợi được bảo vệ và đóng góp được ghi nhận công bằng, niềm tin sẽ trở thành nguồn vốn chính trị thúc đẩy hợp tác lâu dài.
Thứ tám, phát huy vai trò của địa phương và các cơ quan đối ngoại trong việc chuyển hóa nguồn lực. Địa phương là nơi nhu cầu phát triển, dự án, doanh nghiệp và cộng đồng trong nước gặp trực tiếp nguồn lực của kiều bào. Vì vậy, mỗi địa phương có đông người quê hương ở nước ngoài cần xây dựng bản đồ cộng đồng, xác định ngành ưu tiên, duy trì đầu mối hỗ trợ và theo dõi kết quả sau khi kết nối. Cơ quan ngoại vụ phải làm tốt chức năng tham mưu, phối hợp, dự báo và xây dựng quan hệ, không dừng lại ở việc làm lễ tân hoặc tổ chức sự kiện. Hiệu quả phải được đo bằng việc dự án được tháo gỡ, chuyên gia được sử dụng đúng năng lực, thị trường được mở, hợp tác được duy trì và niềm tin được củng cố (Lê Thị Thu Hằng, 2026).
6. Kết luận
Chính sách phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài đã chuyển từ nhận thức về một bộ phận cần vận động, chăm lo sang khẳng định cộng đồng là nguồn lực chiến lược và là chủ thể đồng hành trong phát triển. Nghị quyết số 23-NQ/TW tạo cơ sở chính trị quan trọng để chuyển bước phát triển ấy thành cơ chế và kết quả cụ thể. Dưới góc độ chính trị phát triển, thành công của chính sách không thể chỉ đo bằng quy mô kiều hối, số cuộc gặp hay số thỏa thuận, mà phải được đánh giá qua mức độ bao trùm của cộng đồng chính trị, năng lực thực thi, chất lượng tham gia, niềm tin, tính chính danh và khả năng tạo ra năng lực phát triển bền vững.
Hoàn thiện chính sách đòi hỏi một chiến lược thống nhất, cơ chế phối hợp rõ ràng trách nhiệm, tham vấn hai chiều, dữ liệu an toàn, công cụ trọng dụng linh hoạt và hệ thống đánh giá dựa trên kết quả. Cốt lõi vẫn là quan hệ tin cậy giữa Nhà nước với cộng đồng: quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng được chăm lo; khác biệt được lắng nghe trên nền tảng lợi ích quốc gia – dân tộc; cơ hội cống hiến được mở rộng và đóng góp được ghi nhận công bằng. Khi người Việt Nam ở nước ngoài thực sự được tham gia như một chủ thể của khối đại đoàn kết và của quá trình phát triển, nguồn lực tài chính, trí tuệ, văn hóa, mạng lưới và uy tín quốc tế mới có thể được kết nối bền vững với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.
Tài liệu tham khảo:
Agunias, D. R., & Newland, K. (2012). Developing a Road Map for Engaging Diasporas in Development: A Handbook for Policymakers and Practitioners in Home and Host Countries. International Organization for Migration & Migration Policy Institute. https://publications.iom.int/books/developing-road-map-engaging-diasporas-development-handbook-policymakers-and-practitioners
Bộ Chính trị (2004). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Bộ Chính trị (2015). Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2021). Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Cổng thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao. https://mofa.gov.vn/chi-tiet-vb/chi-tiet-van-ban/nghi-quyet-so-23-nqtw-ngay-282026-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-1501.html
Brinkerhoff, J. M. (2012). Creating an Enabling Environment for Diasporas’ Participation in Homeland Development. International Migration, 50(1), 75–95. https://doi.org/10.1111/j.1468-2435.2009.00542.x
Chính phủ (2021). Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 31/12/2021 ban hành Chương trình hành động tiếp tục đẩy mạnh công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021-2026.
Délano, A., & Gamlen, A. (2014). “Comparing and Theorizing State-Diaspora Relations”. Political Geography, 41, 43–53. https://doi.org/10.1016/j.polgeo.2014.05.005
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Fukuyama, F. (2013). “What Is Governance?” Governance, 26(3), 347-368. https://doi.org/10.1111/gove.12035
Gamlen, A. (2006). Diaspora Engagement Policies: What Are They, and What Kinds of States Use Them? COMPAS Working Paper No. 32. University of Oxford. https://www.compas.ox.ac.uk/wp-content/uploads/WP-2006-032-Gamlen_Diaspora_Engagement_Policies.pdf
Gamlen, A. (2014). “Diaspora Institutions and Diaspora Governance”. International Migration Review, 48(S1), S180-S217. https://doi.org/10.1111/imre.12136
Huntington, S. P. (1968). Political Order in Changing Societies. Yale University Press.
Lê Thị Thu Hằng (2026). Phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài: Từ vai trò tiên phong của đối ngoại đến động lực phát triển quốc gia và của từng địa phương. Cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao. https://mofa.gov.vn/tin-chi-tiet/chi-tiet/phat-huy-nguon-luc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-tu-vai-tro-tien-phong-cua-doi-ngoai-den-dong-luc-phat-trien-quoc-gia-va-tung-dia-phuong-61238-140.html
Nguyễn Trung Kiên (2026). Công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới: Đồng hành – Đồng kiến tạo – Kết nối nguồn lực phát triển đất nước. Cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao. https://mofa.gov.vn/tin-chi-tiet/chi-tiet/cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-trong-giai-doan-moi-dong-hanh-dong-kien-tao-ket-noi-nguon-luc-phat-trien-dat-nuoc-61197-1500.html
Nguyễn Văn Thuật (2023). Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài trong xây dựng và phát triển đất nước. Tạp chí Lý luận chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/phat-huy-nguon-luc-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-trong-xay-dung-va-phat-trien-dat-nuoc-1153.html
Pye, L. W. (1966). Aspects of Political Development. Little, Brown and Company.
Sen, A. (1999). Development as Freedom. Oxford University Press.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 03/4/2026 về việc đẩy mạnh công tác huy động người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2026-2030.
World Bank (2023). World Development Report 2023: Migrants, Refugees, and Societies. World Bank. https://www.worldbank.org/en/publication/wdr2023



