Quản trị đối ngoại địa phương trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Local foreign affairs governance in the context of implementing the two-tier local government model

TS. Đặng Đình Tiến
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: tiendd@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Quản trị đối ngoại địa phương trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy từ quản lý hành chính đối ngoại sang quản trị phát triển dựa trên phân cấp, phối hợp và tạo lập giá trị công. Trong cấu trúc mới, cấp tỉnh giữ vai trò định hướng chiến lược, điều phối nguồn lực, kiểm soát rủi ro và bảo đảm sự thống nhất với đường lối đối ngoại quốc gia; cấp xã trở thành điểm tiếp nhận, phản hồi và xử lý ban đầu các vấn đề có yếu tố quốc tế phát sinh từ cơ sở. Hiệu quả quản trị đối ngoại địa phương phụ thuộc vào chất lượng thể chế, năng lực cán bộ, chuyển đổi số, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể và khả năng gắn hoạt động đối ngoại với mục tiêu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Từ khóa: Quản trị đối ngoại địa phương; chính quyền địa phương hai cấp; phân quyền, phân cấp; hội nhập quốc tế; quản trị công.

Abstract: Local foreign affairs governance under the two-tier local government model requires a shift from administrative management of external relations to development-oriented governance based on delegation and decentralization, coordination, and public value creation. In this new structure, the provincial level plays a strategic role in strategic orientation, resource coordination, risk control, and ensuring consistency with national foreign policy, while the commune level becomes the initial point for receiving, responding to, and handling international-related issues arising at the grassroots level. The effectiveness of local foreign affairs governance depends on institutional quality, the capacity of officials, digital transformation, multi-stakeholder coordination, and the ability to connect foreign affairs activities with sustainable development, international integration, and the protection of national interests.

Keywords: Local foreign affairs governance; two-tier local government; delegation and decentralization; international integration; public governance.

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một bước cải cách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp đến phương thức quản trị quốc gia nói chung và quản trị địa phương nói riêng. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác lập mô hình chính quyền địa phương gồm cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời, việc vận hành mô hình này đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản cách thức phân định thẩm quyền, tổ chức thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công ở địa phương. Cùng với đó, Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh đã đưa cả nước về 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 27 tỉnh và 7 thành phố trực thuộc trung ương(Quốc hội, 2025). Ở cấp xã, sau sắp xếp, cả nước còn 3.321 đơn vị hành chính cấp xã (gồm xã, phường và đặc khu), thể hiện mức độ tái cấu trúc rất lớn của không gian quản trị địa phương(Thông tấn xã Việt Nam, 2025).

Trong bối cảnh đó, đối ngoại địa phương đứng trước những yêu cầu mới cả về tư duy, thể chế và phương thức tổ chức thực hiện. Trước đây, đối ngoại địa phương thường được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quản lý nhà nước đối với các hoạt động, như: đoàn ra, đoàn vào, ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, thông tin đối ngoại, ngoại giao kinh tế, hợp tác với địa phương nước ngoài và vận động nguồn lực quốc tế. Cách tiếp cận này vẫn cần thiết, nhưng chưa đủ trong điều kiện hiện nay. Khi chính quyền địa phương chuyển sang mô hình hai cấp, cấp tỉnh trở thành trung tâm chiến lược, điều phối và kiểm soát chính sách; cấp xã trở thành cấp trực tiếp gần dân, gần doanh nghiệp, gần cơ sở sản xuất, gần các cộng đồng xã hội và các không gian phát triển cụ thể. Điều này đòi hỏi đối ngoại địa phương phải chuyển từ mô hình quản lý hoạt động sang mô hình quản trị phát triển, trong đó các chủ thể nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục, tổ chức xã hội, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và đối tác quốc tế cùng tham gia vào quá trình tạo lập, thực hiện và đánh giá giá trị đối ngoại.

Về mặt pháp lý, hoạt động đối ngoại địa phương hiện nay chịu sự điều chỉnh của nhiều nhóm quy định khác nhau. Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020 quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế; Nghị định số 64/2021/NĐ-CP ngày 30/6/2021 quy định việc ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế nhân danh một số cơ quan, đơn vị, trong đó có cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện (trước đây) và cấp xã) ở khu vực biên giới.

Để chuẩn bị tiến hành tổ chức chính quyền địa phương hai cấp (vào ngày 01/7/2025), Chính phủ ban hành Nghị định số 177/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 sửa đổi, bổ sung các nghị định trong lĩnh vực thỏa thuận quốc tế và xử lý một số vấn đề phát sinh do sắp xếp tổ chức bộ máy, trong đó có việc xử lý các thỏa thuận quốc tế đã ký kết bị tác động bởi việc sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Đây là căn cứ pháp lý trực tiếp cho việc bảo đảm tính liên tục, hợp pháp và ổn định của các quan hệ hợp tác quốc tế ở địa phương trong giai đoạn chuyển tiếp.

Về định hướng chính trị, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế đã xác lập quan điểm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, gắn hội nhập với lợi ích quốc gia, dân tộc. Đến năm 2025, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ, toàn diện và sâu rộng của hội nhập quốc tế. Đặc biệt, Quy định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, qua đó, tiếp tục nhấn mạnh nguyên tắc lãnh đạo, quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại trong hệ thống chính trị.

Từ các căn cứ trên, có thể thấy, vấn đề đặt ra không chỉ là địa phương làm đối ngoại như thế nào mà sâu xa hơn là địa phương quản trị đối ngoại như thế nào trong một cấu trúc chính quyền mới.

2. Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với quản trị đối ngoại địa phương hiện nay

2.1. Những chuyển biến tích cực

Trong những năm gần đây, đối ngoại địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức của các địa phương về vai trò của đối ngoại trong phát triển được nâng lên rõ rệt. Nhiều địa phương không còn xem đối ngoại chỉ là hoạt động lễ tân, giao lưu hữu nghị hay thực hiện thủ tục đoàn ra, đoàn vào mà coi đây là một kênh quan trọng để thu hút đầu tư, mở rộng thị trường, quảng bá hình ảnh, phát triển du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường vị thế địa phương.

Về thể chế, hệ thống quy định liên quan đến hoạt động đối ngoại địa phương từng bước được hoàn thiện. Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020, Nghị định số 64/2021/NĐ-CP, Nghị định số 65/2021/NĐ-CP và Nghị định số 177/2025/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc ký kết, thực hiện, sử dụng kinh phí và xử lý các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực thỏa thuận quốc tế. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với địa phương, bởi thỏa thuận quốc tế là một trong những công cụ quan trọng để chính quyền địa phương duy trì quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài trong khuôn khổ pháp luật.

Về định hướng phát triển, ngoại giao kinh tế ngày càng được địa phương quan tâm. Các hoạt động xúc tiến đầu tư, kết nối doanh nghiệp, quảng bá sản phẩm địa phương, giới thiệu môi trường đầu tư, tham gia diễn đàn quốc tế, hợp tác với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và tiếp xúc với tổ chức quốc tế được triển khai đa dạng hơn. Những địa phương có năng lực điều phối tốt thường biết gắn hoạt động đối ngoại với chiến lược phát triển ngành, vùng và chuỗi giá trị. Chẳng hạn, các trung tâm công nghiệp quan tâm đến thu hút đầu tư công nghệ cao; các địa phương ven biển quan tâm đến kinh tế biển, logistics, năng lượng tái tạo và thích ứng biến đổi khí hậu; các đô thị lớn quan tâm đến tài chính, đổi mới sáng tạo, giáo dục, y tế, văn hóa và công nghiệp sáng tạo.

Về không gian hợp tác, đối ngoại địa phương không chỉ giới hạn trong quan hệ song phương giữa một tỉnh của Việt Nam với một địa phương nước ngoài. Hình thức hợp tác ngày càng mở rộng sang mạng lưới đô thị, diễn đàn khu vực, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội doanh nghiệp và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là xu hướng phù hợp với lý thuyết ngoại giao địa phương và ngoại giao đa tầng, theo đó, chính quyền địa phương ngày càng trở thành chủ thể tham gia vào các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, quản trị đô thị, di cư, y tế, giáo dục, chuyển đổi số, an ninh nguồn nước và phát triển bền vững (Kuznetsov, 2015).

Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, những chuyển biến trên tạo nền tảng quan trọng để địa phương đổi mới phương thức quản trị đối ngoại. Cấp tỉnh có điều kiện tập trung nguồn lực hơn, giảm một số tầng nấc trung gian và thiết kế chính sách đối ngoại nhất quán hơn trên toàn địa bàn. Cấp xã, nếu được hướng dẫn tốt, có thể trở thành nơi phát hiện nhu cầu hợp tác, tiếp nhận thông tin, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp; đồng thời, phản hồi kịp thời các vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

2.2. Những hạn chế, bất cập

Thứ nhất, tư duy đối ngoại ở một số nơi vẫn nặng về sự vụ, hành chính và lễ tân, chưa thật sự chuyển sang tư duy quản trị phát triển. Kế hoạch đối ngoại hằng năm có lúc còn được xây dựng theo lối liệt kê hoạt động, chưa gắn chặt với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, văn hóa, môi trường và an ninh của địa phương. Do đó, có hoạt động đối ngoại được tổ chức tương đối bài bản nhưng hiệu quả sau hoạt động chưa được theo dõi đầy đủ.

Thứ hai, cơ chế phối hợp liên ngành trong đối ngoại địa phương chưa đồng bộ. Đối ngoại địa phương liên quan đến nhiều cơ quan, nhưng nếu không có cơ chế điều phối thống nhất, từng cơ quan dễ triển khai theo lĩnh vực riêng, thiếu chia sẻ dữ liệu và thiếu đánh giá chung. Cơ quan ngoại vụ có thể nắm quy trình đối ngoại nhưng không trực tiếp quản lý đầu tư, thương mại, giáo dục, khoa học, công nghệ hay văn hóa. Ngược lại, các cơ quan chuyên ngành có nhu cầu hợp tác quốc tế nhưng có thể chưa nắm vững quy trình đối ngoại, thẩm quyền ký kết, quy định lễ tân, thông tin đối ngoại và yêu cầu bảo đảm an ninh, chính trị.

Thứ ba, năng lực cán bộ đối ngoại địa phương chưa đồng đều. Ở cấp tỉnh, nhiều địa phương đã có đội ngũ cán bộ ngoại vụ được đào tạo tương đối tốt, nhưng năng lực phân tích chiến lược, pháp lý quốc tế, đàm phán, ngoại ngữ chuyên ngành, quản trị dự án quốc tế và chuyển đổi số vẫn cần tiếp tục nâng cao. Ở cấp xã, yêu cầu này còn cấp thiết hơn. Khi cấp xã trực tiếp xử lý nhiều vấn đề ở cơ sở sau khi bỏ cấp huyện, cán bộ cấp xã cần được trang bị kiến thức cơ bản về hội nhập quốc tế, giao tiếp với người nước ngoài, quản lý hoạt động có yếu tố nước ngoài trên địa bàn, tiếp nhận thông tin từ doanh nghiệp và người dân; đồng thời, biết báo cáo đúng kênh khi phát sinh vấn đề nhạy cảm.

Thứ tư, quản trị dữ liệu đối ngoại địa phương còn yếu. Nhiều địa phương chưa có cơ sở dữ liệu liên thông về đối tác, dự án, thỏa thuận, kết quả thực hiện, đoàn ra, đoàn vào, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chuyên gia nước ngoài và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có liên hệ với địa phương. Thiếu dữ liệu làm giảm chất lượng dự báo, lựa chọn đối tác, theo dõi cam kết và đánh giá hiệu quả.

Thứ năm, hoạt động đánh giá hiệu quả đối ngoại địa phương chưa có bộ tiêu chí thống nhất. Không ít trường hợp hiệu quả đối ngoại được đánh giá chủ yếu bằng số lượng đoàn, số hội nghị, số thỏa thuận ký kết hoặc số sự kiện tổ chức. Những chỉ số này cần thiết nhưng chưa phản ánh đầy đủ giá trị thực chất. Một thỏa thuận quốc tế chỉ có ý nghĩa khi được thực hiện, tạo ra dự án, nguồn lực, tri thức, thị trường, uy tín hoặc năng lực mới cho địa phương. Vì vậy, thiếu chỉ số đánh giá theo kết quả và tác động là một hạn chế lớn của quản trị đối ngoại địa phương.

3. Những vấn đề đặt ra trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Một là, về kế thừa và tiếp tục thực hiện các cam kết, thỏa thuận quốc tế đã có trước khi sắp xếp bộ máy. Sau khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhiều đơn vị hành chính được sắp xếp lại, vì vậy, các thỏa thuận quốc tế đã ký kết trước ngày 01/7/2025 có thể bị tác động về chủ thể ký kết, phạm vi địa bàn, cơ quan thực hiện và trách nhiệm theo dõi. Nghị định số 177/2025/NĐ-CP đã đặt ra cơ chế xử lý đối với các thỏa thuận quốc tế bị tác động bởi sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính. Tuy nhiên, trên thực tế, địa phương vẫn cần rà soát từng thỏa thuận, phân loại mức độ còn phù hợp, xác định cơ quan kế thừa, thông báo cho đối tác nước ngoài và xây dựng kế hoạch thực hiện tiếp theo.

Hai là, phân định thẩm quyền giữa cấp tỉnh và cấp xã. Trong mô hình hai cấp, nếu mọi vấn đề đối ngoại đều tập trung lên cấp tỉnh, cấp xã sẽ thiếu chủ động và quá tải thông tin ở cấp tỉnh có thể tăng lên. Ngược lại, nếu giao nhiệm vụ đối ngoại cho cấp xã vượt quá năng lực, có thể phát sinh rủi ro về pháp lý, chính trị và đối ngoại. Vì vậy, cần phân định rõ nhóm việc cấp xã được chủ động thực hiện, nhóm việc phải xin ý kiến cấp tỉnh, nhóm việc cấp tỉnh quyết định và nhóm việc phải báo cáo cơ quan trung ương có thẩm quyền.

Ba là, bảo đảm thống nhất quản lý đối ngoại và tăng cường phối hợp của các chủ thể. Khi doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, cộng đồng dân cư và các nền tảng số tham gia ngày càng nhiều vào hợp tác quốc tế, chính quyền không thể quản lý theo cách hành chính thuần túy. Cần chuyển sang mô hình quản trị mạng lưới, trong đó chính quyền thiết lập nguyên tắc, chuẩn mực, hệ thống thông tin, cơ chế tham vấn và công cụ kiểm soát rủi ro.

Bốn là, chuyển đổi số trong đối ngoại địa phương. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp tạo áp lực xử lý công việc nhanh hơn, liên thông hơn và minh bạch hơn. Nếu thiếu nền tảng số, quá trình tổng hợp thông tin từ cấp xã lên cấp tỉnh, từ cơ quan chuyên môn sang cơ quan ngoại vụ và từ địa phương tới trung ương sẽ chậm, rời rạc và khó kiểm soát. Do đó, quản trị đối ngoại địa phương phải gắn với chính quyền số, dữ liệu số, hồ sơ điện tử, báo cáo điện tử và hệ thống cảnh báo sớm rủi ro.

Năm là, gắn đối ngoại với phát triển bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mới, địa phương không chỉ cạnh tranh thu hút đầu tư bằng chi phí thấp hay ưu đãi đất đai mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, nhân lực, hạ tầng, môi trường sống, chuyển đổi xanh, năng lực đổi mới sáng tạo và uy tín quản trị. Vì vậy, đối ngoại địa phương phải phục vụ mô hình phát triển chất lượng cao, bền vững, phát triển.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản trị đối ngoại địa phương phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Các địa phương cần rà soát toàn bộ quy chế quản lý hoạt động đối ngoại trên địa bàn để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với mô hình mới, nhất là các quy định về xây dựng kế hoạch đối ngoại, đoàn ra, đoàn vào, tiếp khách quốc tế, hội nghị, hội thảo quốc tế, thông tin đối ngoại, ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế, quản lý tổ chức phi chính phủ nước ngoài, viện trợ, hợp tác biên giới, hợp tác nhân dân và xử lý tình huống phát sinh. Quy chế mới cần xác định rõ thẩm quyền của cấp tỉnh, trách nhiệm của cấp xã, vai trò của cơ quan ngoại vụ, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan chuyên môn và cơ chế báo cáo với cấp có thẩm quyền. Hoàn thiện thể chế không nên dừng ở việc sửa câu chữ mà phải làm rõ quy trình, thời hạn, trách nhiệm cá nhân, cơ chế phối hợp và chế tài khi không thực hiện đúng trách nhiệm.

Thứ hai, đổi mới công tác lập kế hoạch đối ngoại địa phương theo hướng chiến lược, tích hợp và dựa trên kết quả.

Kế hoạch đối ngoại cần xuất phát từ chiến lược phát triển địa phương, quy hoạch tỉnh, chương trình phát triển vùng, lợi thế so sánh của địa phương và yêu cầu hội nhập quốc tế. Thay vì chỉ liệt kê hoạt động, kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, đối tác trọng tâm, lĩnh vực ưu tiên, nguồn lực thực hiện, sản phẩm đầu ra, kết quả kỳ vọng và cơ chế theo dõi. Ví dụ, nếu địa phương xác định chuyển đổi xanh là ưu tiên, công tác đối ngoại cần tập trung tìm kiếm đối tác về năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, quản lý chất thải, tín chỉ các-bon, giao thông xanh và tài chính khí hậu. Nếu địa phương xác định phát triển công nghiệp công nghệ cao, công tác đối ngoại cần gắn với chuỗi cung ứng, đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển và bảo hộ sở hữu trí tuệ.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phân quyền, phân cấp hợp lý.

Cấp tỉnh cần ban hành danh mục nhiệm vụ đối ngoại cấp xã được thực hiện, danh mục nhiệm vụ phải xin ý kiến và quy trình báo cáo khi phát sinh vụ việc có yếu tố nước ngoài. Đối với xã biên giới, phường đô thị, đặc khu, địa bàn có khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển, cửa khẩu, điểm du lịch quốc tế hoặc dự án nước ngoài lớn, cần có hướng dẫn riêng phù hợp với đặc thù. Phân cấp phải đi đôi với đào tạo, kiểm tra, hỗ trợ và cung cấp công cụ thực hiện; tránh tình trạng giao việc nhưng không giao nguồn lực, không hướng dẫn nghiệp vụ và không có cơ chế xử lý vướng mắc.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực đối ngoại địa phương theo hướng chuyên nghiệp, liên ngành và thực tiễn.

Đối với cấp tỉnh, cần nâng cao năng lực phân tích quốc tế, ngoại giao kinh tế, pháp luật về thỏa thuận quốc tế, kỹ năng đàm phán, ngoại ngữ, lễ tân, truyền thông quốc tế, quản trị dự án và quản trị khủng hoảng. Đối với cấp xã, cần xây dựng chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, tập trung vào nhận diện vấn đề có yếu tố nước ngoài, quy trình báo cáo, kỹ năng tiếp xúc ban đầu, bảo vệ thông tin, quản lý địa bàn có người nước ngoài cư trú, làm việc, du lịch hoặc tham gia dự án. Ngoài đào tạo tập trung, cần phát triển sổ tay nghiệp vụ số, đường dây tư vấn nghiệp vụ, mạng lưới cán bộ đầu mối và cơ chế hỗ trợ nhanh từ cơ quan ngoại vụ cấp tỉnh.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số.

Mỗi địa phương cần xây dựng hệ thống dữ liệu đối ngoại thống nhất, bao gồm: dữ liệu về đối tác, thỏa thuận quốc tế, dự án hợp tác, đoàn ra, đoàn vào, hội nghị quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, chuyên gia nước ngoài, doanh nghiệp có nhu cầu hội nhập, sản phẩm xuất khẩu chủ lực, cơ sở giáo dục có hợp tác quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có liên hệ với địa phương. Hệ thống này cần được phân quyền truy cập, bảo đảm an toàn thông tin và kết nối với các cơ quan liên quan. Trên cơ sở dữ liệu đó, địa phương có thể xây dựng bản đồ đối tác quốc tế, bản đồ cơ hội hợp tác, bản đồ rủi ro đối ngoại và bảng điều khiển theo dõi kết quả thực hiện các cam kết quốc tế.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp giữa các chủ thể trong đối ngoại địa phương.

Chính quyền địa phương cần thiết lập cơ chế tham vấn định kỳ với doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề và chuyên gia để xác định nhu cầu hợp tác quốc tế. Các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, giáo dục, du lịch, văn hóa, khoa học, công nghệ cần được thiết kế theo mô hình đồng hành giữa chính quyền và khu vực ngoài nhà nước. Trong đó, chính quyền tạo khuôn khổ, bảo đảm pháp lý, cung cấp thông tin và hỗ trợ kết nối; doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia bằng nhu cầu thực tiễn, nguồn lực, sáng kiến và năng lực triển khai.

Thứ bảy, xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị đối ngoại địa phương.

Bộ chỉ số này nên bao gồm bốn nhóm. (1) Chỉ số đầu vào, như: số lượng cán bộ được đào tạo, kinh phí, dữ liệu, quy chế, kế hoạch. (2) Chỉ số hoạt động, như: số chương trình xúc tiến, số đoàn làm việc, số hội nghị, số cuộc kết nối. (3) Chỉ số kết quả, như: số dự án được hình thành, số thỏa thuận được thực hiện thực chất, số doanh nghiệp được hỗ trợ, số chương trình đào tạo được triển khai, số nguồn lực quốc tế được huy động. (4) Chỉ số tác động, như: đóng góp vào tăng trưởng, việc làm, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường, quảng bá hình ảnh và mức độ hài lòng của doanh nghiệp, người dân. Cách đánh giá này giúp chuyển đối ngoại địa phương từ “đếm hoạt động” sang “đo giá trị”.

Thứ tám, tăng cường quản trị rủi ro và bảo đảm an ninh đối ngoại địa phương.

Mỗi hoạt động hợp tác quốc tế cần được xem xét dưới các góc độ chính trị, pháp lý, kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và truyền thông. Địa phương cần xây dựng quy trình thẩm định đối tác, đánh giá tác động, rà soát điều khoản thỏa thuận, kiểm soát thông tin, xử lý khủng hoảng truyền thông và bảo vệ dữ liệu. Đối với địa bàn biên giới, biển đảo, đặc khu, khu công nghiệp, khu kinh tế và khu vực có đông người nước ngoài, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan ngoại vụ, công an, quân sự, biên phòng, tư pháp, công thương, lao động và chính quyền cấp xã.

Thứ chín, phát huy vai trò của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Địa phương cần chủ động kết nối với các cơ quan đại diện để cập nhật thông tin thị trường, chính sách nước sở tại, đối tác tiềm năng, rủi ro pháp lý và cơ hội hợp tác. Đồng thời, cần coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực quan trọng về tri thức, công nghệ, đầu tư, thương mại, văn hóa và quảng bá hình ảnh địa phương. Tuy nhiên, việc kết nối phải được tổ chức bài bản, có cơ sở dữ liệu, có chương trình hợp tác cụ thể và có cơ chế theo dõi kết quả.

4. Kết luận

Quản trị đối ngoại địa phương trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp là yêu cầu khách quan của quá trình đổi mới quản trị quốc gia và hội nhập quốc tế. Trong cấu trúc mới, cấp tỉnh cần giữ vai trò trung tâm hoạch định chiến lược, điều phối nguồn lực và kiểm soát rủi ro; cấp xã cần được nâng cao năng lực tiếp nhận, phản hồi và xử lý ban đầu các vấn đề có yếu tố quốc tế phát sinh từ cơ sở.

Chính vì vậy, cần hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế phân cấp, phân quyền, quy trình phối hợp, hệ thống dữ liệu, năng lực cán bộ và bộ chỉ số đánh giá hiệu quả đối ngoại địa phương. Mô hình quản trị đối ngoại địa phương cần được xây dựng theo hướng liên thông, số hóa, sự tham gia của các chủ thể và dựa trên kết quả, trong đó chính quyền giữ vai trò kiến tạo, định hướng và kiểm soát; doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và người Việt Nam ở nước ngoài cùng tham gia tạo lập giá trị đối ngoại. Một nền đối ngoại địa phương chuyên nghiệp, hiện đại, thống nhất và hiệu quả sẽ góp phần chuyển hóa quan hệ quốc tế thành động lực phát triển; đồng thời, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2013). Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2026). Quy định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại.
Chính phủ (2021). Nghị định số 64/2021/NĐ-CP ngày 30/6/2021 về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế nhân danh tổng cục, cục thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp xã ở khu vực biên giới; cơ quan cấp tỉnh của tổ chức.
Chính phủ (2025). Nghị định số 177/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 sửa đổi, bổ sung các nghị định trong lĩnh vực thỏa thuận quốc tế; xử lý một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và sắp xếp tổ chức bộ máy trong lĩnh vực thỏa thuận quốc tế.
Kuznetsov, A. S. (2015). Theory and practice of paradiplomacy: Subnational governments in international affairs.
Quốc hội (2020). Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020.
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Tavares, R. (2016). Paradiplomacy: Cities and states as global players. Oxford University Press.
Thông tấn xã Việt Nam (17/6/2025). Chi tiết 3.312 đơn vị hành chính cấp xã của 34 tỉnh, thành. https://vnanet.vn/vi/graphic/chinh-tri-11/interactive-chi-tiet-3312-don-vi-hanh-chinh-cap-xa-cua-34-tinh-thanh-8096128.html