Đổi mới mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Innovating the national governance model through science, technology and digital transformation

PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến
TS. Trương Quốc Việt
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: viettq@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết làm rõ các đặc trưng cốt lõi của mô hình, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước pháp quyền kiến tạo, thị trường năng động và sự tham gia đồng kiến tạo của người dân, doanh nghiệp, cùng với yêu cầu minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo đảm an ninh, chủ quyền số. Đồng thời, bài viết nhận diện các điểm nghẽn chủ yếu về thể chế, dữ liệu, nhân lực, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và văn hóa quản trị; từ đó, đề xuất các quan điểm và giải pháp chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị kiến tạo phát triển, dựa trên dữ liệu, bằng chứng và kết quả.

Từ khóa: Đổi mới sáng tạo; mô hình; khoa học, công nghệ; chuyển đổi số; quản trị quốc gia.

Abstract: The article clarifies the core characteristics of the model, emphasizing the leadership role of the Party, a constructive rule-of-law state, a dynamic market, and the co-creative participation of citizens and businesses, along with the requirements for transparency, accountability, and the safeguarding of digital security and sovereignty. At the same time, the article identifies key bottlenecks in institutions, data, human resources, the innovation ecosystem, and governance culture; based on this, it proposes perspectives and solutions for shifting from administrative management to development-oriented governance based on data, evidence, and results.

Keywords: Innovation; models; science and technology; digital transformation; national governance.

1. Đặt vấn đề

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm biến đổi sâu sắc phương thức tổ chức sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia, đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình quản trị theo hướng dựa trên dữ liệu, nền tảng số và các cơ chế chính sách linh hoạt. Đối với Việt Nam, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng đã dần tới hạn, mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi đổi mới căn bản thể chế và phương thức điều hành. Nếu mô hình quản trị không được hiện đại hóa tương xứng, tri thức, dữ liệu, công nghệ khó chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, từ đó hình thành các điểm nghẽn thể chế mang tính hệ thống.

Thực tiễn cho thấy, mô hình quản trị hiện hành còn thiên về kiểm soát thủ tục, phân tán theo ngành và cấp; trong khi năng lực phối hợp liên ngành, phản ứng chính sách và điều hành dựa trên dữ liệu còn hạn chế. Điều này đòi hỏi chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả và tác động; nâng cao năng lực ra quyết định dựa trên dữ liệu, điều hành theo thời gian thực và phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình. Đồng thời, an ninh, an toàn và chủ quyền số cần được xác lập như điều kiện nền để củng cố niềm tin số và bảo đảm vận hành ổn định của hệ thống quản trị quốc gia.

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ quan niệm, đặc trưng và các yếu tố cấu thành mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nhận diện các điểm nghẽn chủ yếu trong thể chế và năng lực vận hành; đồng thời, đề xuất định hướng và giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

2. Quan niệm và đặc trưng mô hình quản trị quốc gia Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

2.1. Quan niệm mô hình quản trị quốc gia ở Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không phải là sự thay đổi về hình thức tổ chức nhà nước, cũng không đơn thuần là ứng dụng công nghệ trong quản lý, mà là sự đổi mới toàn diện từ tư duy đến phương thức quản trị, từ cách thức ra quyết định đến cơ chế thực thi và đánh giá.

Bảng 1. So sánh mô hình quản trị truyền thống với quản trị dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Tiêu chíQuản trị truyền thốngQuản trị dựa trên  khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
Triết lý quản trịQuản lý, kiểm soátKiến tạo phát triển, dẫn dắt đổi mới sáng tạo
Tư duy vận hànhTĩnh, tuyến tínhPhản hồi, học hỏi, tiến hóa hệ thống
Vai trò nhà nước– Trung tâm điều hành – Ban hành – quản lý -kiểm tra – Ban hành luật và áp dụng cứng nhắc – Làm thay người dân  – Trung tâm kích hoạt năng lực hệ thống – Dẫn dắt – kiến tạo – điều phối hệ sinh thái – Tạo khung thể chế linh hoạt, cập nhật từ phản hồi – Người dân, doanh nghiệp đồng kiến tạo
Cơ sở ra quyết địnhKinh nghiệm, báo cáo hành chính, cảm tínhDữ liệu, bằng chứng khoa học, phân tích và dự báo
Cách thức quản lýTheo đầu vào, thủ tục, quy trìnhTheo mục tiêu, kết quả, tác động
Cấu trúc vận hànhPhân tán theo ngành, theo cấpLiên thông, điều phối liên ngành, liên cấp
Vị trí của khoa học công nghệCông cụ hỗ trợ hành chínhHạ tầng tổ chức, vận hành phương thức quản trị
Đổi mới sáng tạoViệc của doanh nghiệp, khu vực tưNguyên lý vận hành của cả Nhà nước và xã hội
Chuyển đổi sốSố hóa quy trình hiện cóTái cấu trúc mô hình quản trị và quan hệ phát triển
Quản trị rủi roPhản ứng chậm, xử lý sự vụChủ động dự báo, xây dựng kịch bản; triển khai cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát
Giám sát và trách nhiệm giải trìnhKiểm tra, hậu kiểm, Tuân thủ quy trìnhKiểm soát rủi ro, Giám sát dựa trên dữ liệu; trách nhiệm giải trình theo kết quả
Tác động phát triểnCải thiện cục bộ, ngắn hạn, phát triển tuần tự, từng bướcTạo bước đột phá thể chế, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, năm 2026.

Gắn với bối cảnh Việt Nam, quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là phương thức quản trị trong đó Nhà nước là trung tâm dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng tổ chức và kiến tạo phát triển quốc gia trên nền tảng dân chủ, pháp quyền, tri thức và khoa học, công nghệ, lấy đổi mới sáng tạo làm nguyên lý xuyên suốt nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

2.2. Đặc trưng của mô hình quản trị quốc gia Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo, cầm quyền bảo đảm tính chiến lược và dẫn dắt trong quản trị quốc gia.

Trong mô hình này, Đảng tập trung lãnh đạo chiến lược, hoạch định tầm nhìn, xác lập các ưu tiên phát triển, hoàn thiện thể chế và kiểm tra, giám sát thực thi. Đảng không làm thay Nhà nước hay thị trường mà giữ vai trò định hướng, dẫn dắt và bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia. Điều này đòi hỏi tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng khoa học, hiện đại, dựa trên dữ liệu và nâng cao năng lực dự báo chiến lược.

Hai là, Nhà nước pháp quyền XHCN kiến tạo phát triển và tổ chức thực thi hiệu quả.

Trong quản trị hiện đại, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn phải tạo không gian cho sáng tạo và phát triển. Nhà nước tổ chức thực thi hiệu quả các xác lập ưu tiên chính sách, quyết sách chiến lược của Đảng. Nhà nước chuyển mạnh từ can thiệp trực tiếp sang kiến tạo môi trường phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và quyền tiếp cận cơ hội phát triển của người dân, doanh nghiệp. Quá trình đổi mới quản trị thực chất là quá trình đổi mới tư duy thực thi quyền lực công, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển.

Ba là, thị trường năng động, sáng tạo.

Trong mô hình quản trị mới, thị trường không chỉ là cơ chế phân bổ nguồn lực mà còn là không gian đổi mới sáng tạo và thúc đẩy phát triển công nghệ. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, ổn định môi trường đầu tư và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ số, cần trở thành lực lượng trung tâm trong phát triển kinh tế số, xã hội số và các nền tảng công nghệ chiến lược quốc gia.

Bốn là, người dân và doanh nghiệp là trung tâm, xã hội tham gia đồng kiến tạo phát triển.

Hiệu quả quản trị quốc gia một mặt được đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng mặt khác là đo bằng mức độ hài lòng, khả năng tiếp cận cơ hội phát triển và chất lượng cuộc sống của người dân. Quản trị hiện đại đòi hỏi mở rộng cơ chế tham gia của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội vào quá trình hoạch định, giám sát và phản biện chính sách. Nhà nước không chỉ quản lý mà còn phục vụ, đồng hành và tạo điều kiện để mọi chủ thể phát huy năng lực sáng tạo và đóng góp cho phát triển đất nước.

Năm là, quản trị dựa trên dữ liệu và nền tảng số.

Dữ liệu trở thành yếu tố sản xuất mới và là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Mô hình quản trị mới chuyển mạnh sang quản trị dựa trên dữ liệu, trong đó các quyết định chính sách được hình thành trên cơ sở phân tích dữ liệu, bằng chứng và dự báo khoa học. Các cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo trở thành hạ tầng cốt lõi của điều hành quốc gia, giúp tăng cường liên thông, giám sát, dự báo và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công.

Sáu là, quản trị linh hoạt, thích ứng, nâng cao năng lực dự báo và phản ứng chính sách.

Khác với mô hình quản lý truyền thống thiên về ổn định và phản ứng hành chính, quản trị hiện đại đòi hỏi năng lực thích ứng nhanh trước biến động của công nghệ, thị trường và môi trường quốc tế. Điều này yêu cầu nâng cao năng lực dự báo chiến lược, thiết kế chính sách linh hoạt, tăng cường cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và cải tiến chính sách liên tục dựa trên phản hồi thực tiễn; chuyển từ phản ứng sự vụ sang quản trị rủi ro chủ động và tăng khả năng phục hồi của hệ thống.

Bảy là, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Mọi hoạt động của cơ quan công quyền phải được công khai, minh bạch và chịu sự giám sát hiệu quả của Nhà nước và xã hội. Trách nhiệm giải trình không chỉ là nghĩa vụ khi xảy ra sai phạm mà còn là trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin, giải thích quyết định và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện của không chỉ chủ thể trong khu vực công mà mọi chủ thể vì sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Đây là điều kiện quan trọng để kiểm soát quyền lực, nâng cao hiệu lực quản trị và củng cố niềm tin xã hội.

Tám là, niềm tin số, an ninh, an toàn, chủ quyền số quốc gia.

Không gian số đang trở thành không gian phát triển mới của quốc gia. Vì vậy, quản trị quốc gia hiện đại phải gắn với bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và chủ quyền số quốc gia. Đồng thời, cần hình thành niềm tin số và đạo đức số trong xã hội, bảo đảm công nghệ được phát triển và sử dụng theo hướng an toàn, nhân văn và phục vụ phát triển bền vững.

Chín là, quản trị bao trùm, bền vững.

Quản trị bao trùm, bền vững đặt mục tiêu tối đa hóa phúc lợi dài hạn thay vì tối ưu ngắn hạn, thông qua lồng ghép các chuẩn mực bền vững vào thiết kế và thực thi chính sách. Nội dung cốt lõi là bảo đảm cơ hội tiếp cận dịch vụ và nguồn lực phát triển cho các nhóm khác nhau, giảm bất bình đẳng, đồng thời quản trị rủi ro môi trường xã hội trên cơ sở dữ liệu. Trong bối cảnh chuyển đổi số bao trùm cần được hiểu cả dưới góc độ “bao trùm số” (khả năng tiếp cận hạ tầng, kỹ năng và dịch vụ), nhằm hạn chế phân tầng số, “khoảng cách số” và bảo đảm nguyên tắc không ai bị bỏ lại phía sau.

Bảng 2. Đặc trưng cốt lõi của quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Đặc trưngNội dung cốt lõi
Đảng lãnh đạo, cầm quyềnLãnh đạo chiến lược, định hướng phát triển; xác lập ưu tiên phát triển; bảo đảm thống nhất ý chí và hành động; dẫn dắt toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia.
Nhà nước pháp quyền XHCN kiến tạo phát triển, tổ chức thực thi hiệu quảThiết kế thể chế, luật chơi và môi trường phát triển; điều phối, tổ chức thực thi hiệu quả; bảo đảm ổn định, kỷ luật và phát triển bền vững.
Thị trường năng động, sáng tạoVận hành minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; là động lực trung tâm của đổi mới sáng tạo và tăng trưởng; được Nhà nước kiến tạo, bảo đảm cạnh tranh công bằng và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới.
Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, xã hội tham gia đồng kiến tạo phát triểnLấy người dân làm trung tâm phục vụ; huy động xã hội tham gia đồng kiến tạo; bảo đảm hài lòng, công bằng và phát triển toàn diện.
Quản trị dựa trên dữ liệu và nền tảng sốRa quyết định dựa trên dữ liệu và bằng chứng; vận hành trên nền tảng số và công nghệ; nâng cao hiệu quả, dự báo và năng lực điều hành.
Quản trị linh hoạt, thích ứng, nâng cao năng lực dự báo và phản ứng chính sáchVận hành linh hoạt, phản hồi nhanh với biến động; điều chỉnh chính sách theo thực tiễn; nâng cao năng lực thích ứng và phục hồi hệ thống
Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trìnhBảo đảm công khai, minh bạch thông tin và minh bạch dữ liệu ở mức phù hợp; tăng cường giám sát; thiết kế trách nhiệm giải trình theo kết quả; qua đó, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực quản trị.
Niềm tin số, an ninh, an toàn, chủ quyền số quốc giaBảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu và chủ quyền số; xây dựng niềm tin số trên nền tảng minh bạch, trách nhiệm giải trình; phát triển công nghệ gắn với đạo đức và công bằng.
Quản trị bao trùm, bền vữngLấy con người làm trung tâm; không ai bị bỏ lại phía sau; kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, giữa nhu cầu hiện tại và tương lai, trên tất cả các lĩnh vực.
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, năm 2026.

2.3. Yếu tố cấu thành mô hình quản trị quốc gia Việt Nam dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn quốc tế và Việt Nam, có thể nhận diện mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như một hệ thống đa tầng, vận hành dựa trên dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Mô hình này được cấu thành bởi ba tầng và sáu yếu tố cơ bản, trong đó các yếu tố nền tảng, năng lực và phương thức vận hành gắn kết hữu cơ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.

Thứ nhất, thể chế quản trị số và đổi mới sáng tạo.

Đây là yếu tố nền tảng, quyết định khả năng chuyển hóa tri thức, dữ liệu và công nghệ thành động lực phát triển. Thể chế không chỉ bao gồm hệ thống pháp luật mà còn gồm cơ chế điều hành, phân cấp, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong điều kiện số hóa. Thể chế quản trị hiện đại phải chuyển từ tư duy “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo phát triển”; từ tiền kiểm sang hậu kiểm và quản trị rủi ro; tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, thử nghiệm chính sách và các mô hình kinh doanh mới.

Thứ hai, dữ liệu và hạ tầng số quốc gia.

Dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược và là nền tảng của quản trị hiện đại. Hệ thống dữ liệu quốc gia liên thông, thống nhất, an toàn là điều kiện để hình thành chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Cùng với đó, hạ tầng số gồm trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, mạng băng rộng, 5G/6G, nền tảng trí tuệ nhân tạo và an ninh mạng giữ vai trò như “hạ tầng phát triển mới” của quốc gia.

Thứ ba, nhân lực và bộ máy quản trị.

Hiệu quả quản trị phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đội ngũ cán bộ và năng lực vận hành của bộ máy công quyền. Điều này đòi hỏi xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý có tư duy số, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu và thích ứng nhanh với thay đổi. Đồng thời, bộ máy quản trị cần được tổ chức tinh gọn, liên thông, vận hành trên nền tảng số và giảm tối đa tầng nấc trung gian.

Thứ tư, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phản ánh năng lực huy động và kết nối các chủ thể (Nhà nước – doanh nghiệp – viện, trường – xã hội) để chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế – xã hội. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối hệ sinh thái thông qua chính sách khuyến khích khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp công nghệ, hỗ trợ R&D, bảo hộ sở hữu trí tuệ và sử dụng mua sắm công đổi mới như công cụ tạo thị trường cho công nghệ mới.

Thứ năm, văn hóa đổi mới sáng tạo và niềm tin số.

Đổi mới quản trị không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là sự thay đổi về văn hóa quản trị và hành vi xã hội. Mô hình quản trị mới đòi hỏi hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo trong cả khu vực công và xã hội; khuyến khích tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm và chấp nhận khác biệt. Đồng thời, cần xây dựng niềm tin số thông qua bảo đảm minh bạch, an toàn dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và nâng cao đạo đức số.

Thứ sáu, phương thức và cơ chế vận hành quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu và hợp tác.

Đây là yếu tố phản ánh trực tiếp bản chất của mô hình quản trị mới. Phương thức vận hành được tổ chức theo ba nguyên lý: (1) Quản trị dựa trên dữ liệu: quyết định và điều hành dựa trên dữ liệu tích hợp, cập nhật theo thời gian thực và bằng chứng, thay thế dần cách tiếp cận dựa trên kinh nghiệm. (2) Quản trị linh hoạt: chính sách được thiết kế thích ứng, điều chỉnh nhanh qua vòng phản hồi ngắn, quản trị rủi ro và cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát. (3) Quản trị hợp tác: huy động đa chủ thể tham gia đồng kiến tạo chính sách và cung ứng dịch vụ công, nâng cao chất lượng quyết định và năng lực thực thi.

Sáu yếu tố trên tương tác chặt chẽ: thể chế dẫn dắt; dữ liệu và hạ tầng số tạo nền tảng; nhân lực và bộ máy bảo đảm năng lực thực thi; hệ sinh thái tạo động lực đổi mới sáng tạo; văn hóa và niềm tin số là điều kiện vận hành; còn phương thức vận hành là cơ chế liên kết và khuếch đại hiệu quả của toàn hệ thống.

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất, năm 2026.

3. Điểm nghẽn trong đổi mới quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

3.1. Điểm nghẽn về thể chế quản trị số và đổi mới sáng tạo

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ những nút thắt, điểm nghẽn; trong đó thể chế được đánh giá là “điểm nghẽn của điểm nghẽn) của sự phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 59). Từ góc độ khoa học quản trị, đây là biểu hiện của nút thắt thể chế mang tính hệ thống làm gia tăng chi phí tuân thủ, kéo dài độ trễ chính sách và làm suy giảm năng lực thử nghiệm – học hỏi – điều chỉnh trong môi trường công nghệ biến đổi nhanh. Điểm nghẽn thể chế vì vậy không chỉ là thiếu quy định, mà là thiếu cơ chế “mở có kiểm soát” (bao gồm cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát), thiếu thiết kế giám sát và trách nhiệm giải trình theo kết quả, dẫn tới hạn chế khả năng huy động – phân bổ nguồn lực cho đổi mới sáng tạo.

3.2. Điểm nghẽn về dữ liệu và hạ tầng số

Dữ liệu còn phân mảnh, chất lượng và mức độ liên thông thấp, trong khi khung quản trị vòng đời dữ liệu và cơ chế chia sẻ “dùng chung – đúng mục đích – có kiểm soát” chưa đủ mạnh. Hệ quả là quyết định công khó dựa trên dữ liệu và bằng chứng theo thời gian thực, làm giảm năng lực dự báo và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực. Đồng thời, phụ thuộc vào nền tảng và công nghệ lõi xuyên biên giới làm gia tăng rủi ro an ninh mạng, an toàn dữ liệu, bảo vệ dữ liệu và chủ quyền số, tác động trực tiếp tới nền tảng dữ liệu và hạ tầng số quốc gia.

3.3. Điểm nghẽn về nhân lực và bộ máy quản trị

Khoảng cách giữa chủ trương và năng lực tổ chức thực hiện vẫn lớn do nhân lực và bộ máy khu vực công còn nặng tư duy hành chính, thiếu tư duy hệ thống, năng lực dữ liệu, thiếu kỹ năng thiết kế chính sách và điều phối liên ngành. Cơ chế đánh giá – đãi ngộ chưa gắn chặt với kết quả, làm suy giảm động cơ đổi mới và trách nhiệm giải trình.

3.4. Điểm nghẽn về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo còn thiếu liên kết thực chất giữa doanh nghiệp – viện, trường; thiếu cơ chế chuyển giao và thương mại hóa tri thức; nguồn lực tài chính và công cụ chính sách còn phân tán, thiếu ổn định. Khung bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn – quy chuẩn và mua sắm công đổi mới chưa phát huy vai trò tạo thị trường cho công nghệ mới. Hệ quả là dòng chảy tri thức sang thị trường bị đứt đoạn, làm suy giảm vai trò “động lực” của yếu tố hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nêu tại mục 2.3.

3.5. Điểm nghẽn về văn hóa đổi mới sáng tạo và niềm tin số

Văn hóa đổi mới sáng tạo chưa trở thành giá trị phổ biến trong khu vực công, trong khi tâm lý ưa an toàn, ngại rủi ro khiến các sáng kiến dễ bị triệt tiêu bởi yêu cầu tuân thủ quy trình. Khi thiếu không gian thử nghiệm, học hỏi và chấp nhận thất bại có kiểm soát, hệ thống khó tích lũy năng lực thích ứng và cải tiến liên tục. Điểm nghẽn văn hóa vì vậy làm suy giảm “hạ tầng mềm” và niềm tin số – yếu tố bảo đảm vận hành bền vững của mô hình tại mục 2.3.

3.6. Điểm nghẽn trong phương thức và cơ chế vận hành quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu và hợp tác

Phương thức vận hành còn thiên về báo cáo và xử lý sự vụ; dữ liệu chưa được khai thác theo thời gian thực; phối hợp công – tư và cơ chế đồng kiến tạo còn hình thức. Đồng thời, yêu cầu về an ninh mạng, an toàn, bảo mật hệ thống, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư chưa được bảo đảm đầy đủ làm suy giảm niềm tin số, cản trở mở rộng dịch vụ số và chia sẻ dữ liệu.

4. Quan điểm đổi mới mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Thứ nhất, đổi mới mô hình quản trị quốc gia là yêu cầu chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với chuyển đổi mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức phát triển quốc gia, không phải là cải cách hành chính đơn thuần hay số hóa hoạt động của hệ thống chính trị.

Thứ hai, quá trình đổi mới phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng nhằm bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, thống nhất ý chí, hành động và kỷ luật, kỷ cương trong toàn hệ thống. Theo đó, Đảng lãnh đạo chiến lược và giám sát; Nhà nước pháp quyền kiến tạo và tổ chức thực thi; thị trường phân bổ nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; xã hội, người dân và doanh nghiệp tham gia giám sát, phản hồi và đồng kiến tạo trên nền tảng dữ liệu và trách nhiệm giải trình.

Thứ ba, đổi mới mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được triển khai đồng bộ theo ba trụ cột: thể chế quản trị số; quản trị dựa trên dữ liệu, tự động hóa, theo thời gian thực; và hợp tác đa chủ thể và cộng đồng trách nhiệm trước quốc gia, dân tộc.

Trên cơ sở các quan điểm nêu trên, các giải pháp ở mục 5 được thiết kế theo logic ưu tiên và lộ trình thực thi, hướng tới nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và năng lực thích ứng trong kỷ nguyên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

5. Giải pháp đổi mới mô hình quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

5.1. Nâng cao nhận thức, đột phá về tư duy đổi mới quản trị quốc gia

Mục tiêu: Tạo chuyển biến căn bản về tư duy trong toàn hệ thống chính trị, xác lập nhận thức thống nhất rằng đổi mới quản trị quốc gia là chuyển đổi phương thức và cơ chế quản trị, không phải chỉ ứng dụng công nghệ hay cải cách quy trình hành chính.

Nội dung: Thống nhất các nguyên tắc chuyển đổi: chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ hành chính sang phụ vụ; từ thủ tục sang hiệu quả và tác động; từ kinh nghiệm sang bằng chứng; từ phân tán sang liên thông hệ thống; từ vận hành tĩnh sang học hỏi và thích ứng. Đồng thời, thể chế hóa các nguyên tắc này trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và trong đánh giá điều hành.

Kết quả kỳ vọng: Hình thành tư duy quản trị hiện đại trong toàn hệ thống; nâng cao năng lực thiết kế chính sách và điều hành; tạo nền tảng nhận thức thống nhất để triển khai các cải cách quản trị ở các cấp.

5.2. Hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng thực thi

Mục tiêu: Xây dựng thể chế quản trị hiện đại, chuyển từ “quản lý – kiểm soát” sang “dẫn dắt – kiến tạo”, bảo đảm chính sách vận hành theo hiệu quả và kết quả đầu ra.

Nội dung: Hoàn thiện pháp luật theo hướng mở, linh hoạt; thiết lập hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả quản trị; đổi mới quy trình xây dựng chính sách theo chu trình phản hồi – điều chỉnh; mở rộng cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát (sandbox); đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình.

Kết quả kỳ vọng: Nâng cao chất lượng thể chế và hiệu lực thực thi; rút ngắn độ trễ chính sách; tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng thích ứng của hệ thống quản trị.

5.3. Xây dựng hạ tầng dữ liệu và hạ tầng số quốc gia

Mục tiêu: Hình thành nền tảng hạ tầng số và dữ liệu quốc gia đồng bộ, liên thông, trở thành nguồn lực cốt lõi của quản trị hiện đại.

Nội dung: Phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất; chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu; thực hiện nguyên tắc “một lần khai báo – dùng nhiều lần”; xây dựng hạ tầng số chiến lược (trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, nền tảng tích hợp); từng bước làm chủ công nghệ lõi.

Kết quả kỳ vọng: Tăng hiệu quả quản lý và điều hành; giảm trùng lặp, tiết kiệm chi phí xã hội; tạo nền tảng cho ra quyết định chính xác và vận hành liên thông toàn hệ thống.

5.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực của bộ máy quản trị

Mục tiêu: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có tư duy hệ thống, năng lực quản trị hiện đại và khả năng thích ứng với môi trường số.

Nội dung: Đổi mới tuyển dụng, sử dụng và đánh giá theo vị trí việc làm và kết quả đầu ra; cải cách đào tạo theo hướng tích hợp quản trị với khoa học công nghệ; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao năng lực tổ chức bộ máy tinh gọn, liên thông; tăng cường kỷ luật và đạo đức công vụ.

Kết quả kỳ vọng: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công; tăng hiệu quả thực thi chính sách; hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo và trách nhiệm trong hệ thống công quyền.

5.5. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia

Mục tiêu: Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia mở, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước – doanh nghiệp – trường, viện nghiên cứu – xã hội.

Nội dung: Đổi mới cơ chế hợp tác công – tư; sử dụng mua sắm công để thúc đẩy công nghệ; phát triển thị trường dữ liệu và dịch vụ số; thúc đẩy liên kết nghiên cứu – đào tạo – sản xuất; xây dựng nền tảng đổi mới sáng tạo mở và cơ chế đồng kiến tạo.

Kết quả kỳ vọng: Tăng cường năng lực đổi mới sáng tạo của nền kinh tế; rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng; hình thành động lực phát triển mới từ khu vực doanh nghiệp và xã hội.

5.6. Xây dựng niềm tin số, bảo đảm chủ quyền số và an ninh quốc gia

Mục tiêu: Củng cố niềm tin số của người dân và doanh nghiệp; bảo đảm an ninh, an toàn và chủ quyền số quốc gia.

Nội dung: Thể chế hóa nguyên tắc bảo vệ dữ liệu và an toàn, bảo mật theo thiết kế; xây dựng hệ thống giám sát, phòng thủ và ứng cứu sự cố an ninh mạng; tăng cường minh bạch dữ liệu và trách nhiệm giải trình; thiết lập cơ chế quản trị AI; phát triển dịch vụ công cá thể hóa; bảo đảm bao trùm số.

Kết quả kỳ vọng: Tăng mức độ tin cậy đối với môi trường số; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; tạo nền tảng xã hội cho phát triển kinh tế số và quản trị hiện đại bền vững.

5.7. Xây dựng khung đo lường quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Mục tiêu: Thiết lập hệ thống đo lường quản trị quốc gia hiện đại, làm cơ sở đánh giá hiệu quả điều hành, chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả và giá trị đầu ra.

Nội dung: Xây dựng khung chỉ số quản trị quốc gia gồm các nhóm tiêu chí phản ánh: thể chế và môi trường quản trị; dữ liệu và hạ tầng số phục vụ quản trị; năng lực phân tích, dự báo và ra quyết định dựa trên bằng chứng; là chất lượng vận hành liên thông, minh bạch và trách nhiệm giải trình, phản ánh hiệu quả thực thi của bộ máy; và kết quả đầu ra và giá trị công, sự hài lòng và trải nghiệm người dùng của người dân, doanh nghiệp. Các chỉ số được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế, đo lường được, so sánh được và gắn với thực tiễn. Triển khai theo lộ trình từ công cụ theo dõi, đánh giá xu hướng đến hình thành bộ chỉ số quốc gia và các chỉ số thành phần cho từng bộ, ngành, địa phương.

Kết quả kỳ vọng: Tạo nền tảng đánh giá quản trị theo hiệu quả và kết quả đầu ra; nâng cao minh bạch, trách nhiệm giải trình; thúc đẩy đổi mới phương thức điều hành và hình thành văn hóa quản trị hướng tới kết quả trong toàn hệ thống.

5.8. Đổi mới phương thức quản trị quốc gia trên nền tảng số

Mục tiêu: Chuyển đổi căn bản phương thức vận hành của hệ thống quản trị quốc gia, từ mô hình hành chính dựa trên quy trình sang mô hình vận hành theo chuẩn, quy tắc và kết quả, và dữ liệu qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành và khả năng thích ứng.

Nội dung: Thiết kế lại hệ thống quản trị theo các chuẩn vận hành và bộ chỉ số đầu ra; quy tắc hóa và hành động hóa các quyết định điều hành thông qua các công thức và điều kiện kích hoạt chính sách đối với các lĩnh vực có tính quy luật; tự động hóa và số hóa quá trình ra quyết định thông qua nền tảng số, công cụ phân tích và cảnh báo theo thời gian thực. Triển khai theo lộ trình thí điểm – đánh giá tác động – mở rộng quy mô, ưu tiên các lĩnh vực có thể chuẩn hóa cao.

Kết quả kỳ vọng: Giảm độ trễ thể chế và chi phí hành chính; hạn chế cơ chế xin – cho; nâng cao tính minh bạch, công bằng và khả năng dự báo của chính sách; chuyển vai trò của Nhà nước từ xử lý sự vụ sang thiết kế và điều phối hệ thống phát triển.

Quản trị hiện đại không phải là xử lý quy trình tốt hơn, mà là thiết kế hệ thống để giảm nhu cầu xử lý quy trình. Trên nền tảng bộ chỉ số và chuẩn vận hành, các quyết định được hành động hóa bằng quy tắc và dữ liệu, từng bước tự động hóa hỗ trợ quyết định; thiết lập cơ chế kiểm soát, cập nhật và linh hoạt thích ứng. Qua đó giảm độ trễ chính sách, tăng minh bạch, công bằng và năng lực điều hành.

Tài liệu tham khảo:
Acemoglu, Daron; Robinson, James A (2012). Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity and Poverty, Crown Business, New York.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Báo cáo kinh tế số Việt Nam 2024, Hà Nội.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2023). Báo cáo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2023, Hà Nội.
Nguyễn Bá Chiến, Lê Hải Bình (2024). Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả – Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Nxb. Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.  
C. Mác (2004). Lời tựa cho tác phẩm Góp phần phê phán kinh tế chính trị học, trong: C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.    
Lương Thanh Cường (2025). Đề tài “Xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả: Cơ sở lý luận, thực tiễn và định hướng chính sách”, mã số KX.04.05/21-25.
Douglas C. North (1990). Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, Cambridge. 
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2024, 2025). Các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị về phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 57, 59, 66, 68, 70, 71, 72, 79, 80).
Ph. Ăngghen (2004). Chống Đuy-rinh, C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
OECD (1996). The Knowledge-Based Economy, OECD Publishing, Paris.
Ngân hàng Thế giới (World Bank) (2020). Vietnam: Deepening Innovation Capacity for Growth, Washington, D.C.
UNDP (2022). Digital Transformation and Innovation in Vietnam, United Nations Development Programme.        
Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám thống kê Việt Nam 2024. Nxb Thống kê, Hà Nội.
Schwab, Klaus (2017). The Fourth Industrial Revolution. Penguin Books.
World Bank (2016). World Development Report 2016: Digital Dividends. World Bank, Washington, D.C.
World Economic Forum (WEF) (2016). The Fourth Industrial Revolution. WEF, Geneva.
World Intellectual Property Organization (WIPO) (2023). Global Innovation Index 2023: Innovation in the Face of Uncertainty. Geneva.