Chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh: Hàm ý chính sách cho thành phố Cần Thơ

Digital transformation of tourism towards smart destinations: Policy implications for Can Tho City

TS. Nguyễn Huỳnh Phước Thiện
ThS. Lê Thị Nhả Ca
TS. Nguyễn Thị Thu An
Trường Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ
Email: nhphthien@ctuet.edu.vn
ltnca@ctuet.edu.vn
nttan@ctuet.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số đang thúc đẩy ngành Du lịch phát triển theo hướng điểm đến thông minh, dựa trên sự kết hợp giữa công nghệ, dữ liệu và quản trị. Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, thực tiễn tại Việt Nam và đề xuất hàm ý chính sách cho thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua tổng hợp, phân tích và đối chiếu tài liệu liên quan, đồng thời, vận dụng khung phân tích gồm ba trụ cột: công nghệ, dữ liệu và quản trị. Kết quả cho thấy, các điểm đến thành công đều chú trọng xây dựng hệ sinh thái dữ liệu, ứng dụng công nghệ đồng bộ và tăng cường cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan, trong đó dữ liệu giữ vai trò trung tâm kết nối công nghệ với quản trị nhằm hỗ trợ ra quyết định. Trên cơ sở đó, một số hàm ý chính sách được đề xuất nhằm thúc đẩy phát triển điểm đến thông minh tại thành phố Cần Thơ.

Từ khóa: Chuyển đổi số du lịch; chính sách; dữ liệu; điểm đến thông minh; quản trị.

Abstract: Digital transformation is driving the tourism industry toward the development of smart destinations, built on the integration of technology, data, and governance. This article analyzes international experiences and the current situation in Vietnam to propose policy implications for Can Tho City. Using qualitative research methods including the synthesis, analysis, and comparison of relevant literature, the study applies an analytical framework based on three core pillars: technology, data, and governance. The findings indicate that successful smart destinations prioritize building a data ecosystem, implementing synchronized technological applications, and strengthening stakeholder coordination mechanisms, with data playing a central role in linking technology and governance to support decision-making. On this basis, several policy implications are proposed to foster the development of smart destinations in Can Tho City.

Keywords: Tourism digital transformation; policy; data; smart destination; governance.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, ngành Du lịch đang chuyển dịch theo hướng phát triển điểm đến thông minh, dựa trên việc ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu nhằm nâng cao trải nghiệm du khách và hiệu quả quản lý. Tại Việt Nam, chuyển đổi số du lịch được thúc đẩy trong khuôn khổ Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam (Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030), đặc biệt, các địa phương đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó bước đầu triển khai các nền tảng số và ứng dụng hỗ trợ du khách.

Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể. Một số nghiên cứu, như Buhalis (2003) tập trung vào vai trò của công nghệ trong phát triển du lịch điện tử, trong khi các nghiên cứu khác của Gretzel et al. (2015) và Boes et al (2016) nhấn mạnh tầm quan trọng của dữ liệu và trải nghiệm du khách trong bối cảnh du lịch thông minh. Phần lớn các nghiên cứu thường tiếp cận theo từng khía cạnh riêng lẻ, chưa làm rõ mối quan hệ tích hợp giữa công nghệ, dữ liệu và quản trị trong quá trình chuyển đổi số du lịch ở cấp điểm đến. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu cần xây dựng một khung phân tích mang tính tổng thể, làm cơ sở cho việc lý giải và định hướng chính sách.

Trong bối cảnh đó, thành phố Cần Thơ với vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa và du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long đang từng bước triển khai chuyển đổi số, song vẫn đối mặt với những hạn chế về mức độ tích hợp công nghệ, khả năng khai thác dữ liệu phục vụ quản lý và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan trong hệ sinh thái du lịch. Thực tiễn cho thấy, cần có cách tiếp cận tổng thể nhằm định hướng quá trình chuyển đổi số du lịch tại địa phương. Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam về chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách cho thành phố Cần Thơ.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

Gretzel et al. (2015) cho rằng, chuyển đổi số trong du lịch là quá trình ứng dụng công nghệ số vào hoạt động quản lý, vận hành và cung ứng dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện trải nghiệm du khách và thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh trong ngành du lịch. Theo Buhalis (2003), trong giai đoạn đầu chuyển đổi số thường được tiếp cận dưới góc độ e-tourism, tập trung vào việc sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ marketing và phân phối sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, cách tiếp cận này đã được mở rộng sang hướng xây dựng điểm đến thông minh, nhấn mạnh sự tích hợp giữa công nghệ, dữ liệu và quản trị nhằm nâng cao trải nghiệm du khách và năng lực cạnh tranh của điểm đến.

Điểm đến thông minh là một hệ sinh thái nơi dữ liệu, công nghệ và các bên liên quan tương tác với nhau để đồng sáng tạo giá trị. Trong đó, dữ liệu đóng vai trò trung tâm, cho phép các nhà quản lý hiểu rõ hành vi du khách, dự báo xu hướng và đưa ra quyết định chính xác hơn. Đồng thời, công nghệ giúp kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị du lịch, từ doanh nghiệp đến chính quyền và cộng đồng địa phương. Cách tiếp cận này cho thấy, chuyển đổi số không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là quá trình tái cấu trúc hoạt động quản trị điểm đến theo hướng tích hợp và dựa trên dữ liệu.

Các nghiên cứu về điểm đến du lịch thông minh đều nhấn mạnh vai trò của công nghệ, dữ liệu và quản trị trong quá trình chuyển đổi số nhằm nâng cao trải nghiệm du khách và năng lực cạnh tranh của điểm đến. Tuy nhiên, trải nghiệm du khách không chỉ là một thành phần của hệ thống mà còn là kết quả phản ánh hiệu quả của sự tương tác giữa các yếu tố này. Vì vậy, nghiên cứu xem trải nghiệm du khách, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững như là các kết quả đầu ra trong quá trình chuyển đổi số, trong khi công nghệ, dữ liệu và quản trị được xem là các yếu tố đầu vào giữ vai trò nền tảng trong hình thành điểm đến thông minh.

2.2. Khung phân tích

Qua nghiên cứu xây dựng khung phân tích dựa trên ba trụ cột cốt lõi, gồm: công nghệ, dữ liệu và quản trị. Trong đó, công nghệ đóng vai trò nền tảng hỗ trợ kết nối và cung cấp dịch vụ số; dữ liệu là nguồn lực trung tâm phục vụ phân tích và ra quyết định; quản trị giữ vai trò điều phối, kết nối các bên liên quan và bảo đảm hiệu quả vận hành của hệ sinh thái du lịch. Ba trụ cột này có mối quan hệ tương hỗ và được tích hợp thông qua quá trình chuyển đổi số, từ đó tạo ra các kết quả đầu ra ở cấp điểm đến, bao gồm: nâng cao trải nghiệm du khách, tăng cường năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững (dữ liệu giữ vai trò kết nối giữa công nghệ và quản trị, hỗ trợ quá trình ra quyết định dựa trên bằng chứng và theo thời gian thực).

Khung phân tích được minh họa tại Hình 1 và được sử dụng làm cơ sở để phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực tiễn tại Việt Nam và đề xuất các hàm ý chính sách cho thành phố Cần Thơ.

Hình 1. Khung phân tích chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả, 2026

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó trọng tâm là phân tích nội dung và so sánh đối chiếu nhằm hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh. Phương pháp này được sử dụng để phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực tiễn triển khai tại Việt Nam và rút ra các bài học nhằm đề xuất hàm ý chính sách cho thành phố Cần Thơ.

Đồng thời, nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận hệ thống dựa trên khung phân tích gồm ba trụ cột: công nghệ, dữ liệu và quản trị, trong đó các tài liệu được lựa chọn và phân loại theo ba nhóm yếu tố chính gồm: công nghệ, dữ liệu và quản trị.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các công trình khoa học, báo cáo của tổ chức quốc tế, văn bản chính sách của Việt Nam và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan nhằm bảo đảm tính cập nhật và độ tin cậy. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành tổng hợp, đối chiếu và phân tích các bằng chứng nhằm làm rõ đặc điểm của quá trình chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh và đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp với bối cảnh thành phố Cần Thơ.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Kinh nghiệm quốc tế

Phân tích kinh nghiệm quốc tế về chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh theo cách tiếp cận ba trụ cột gồm: công nghệ, dữ liệu và quản trị cho phép làm rõ cơ chế tác động cũng như các yếu tố quyết định thành công của các điểm đến.

Thứ nhất, về công nghệ.

Công nghệ đóng vai trò nền tảng trong việc triển khai các giải pháp du lịch thông minh. Tại Barcelona, chuyển đổi số du lịch được triển khai gắn với chiến lược phát triển đô thị thông minh, trong đó dữ liệu lớn, cảm biến và các nền tảng dữ liệu mở được sử dụng để giám sát và quản lý hoạt động du lịch theo thời gian thực. Thông qua việc tích hợp và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, chính quyền thành phố có thể theo dõi dòng khách, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và hỗ trợ quản lý điểm đến hiệu quả hơn. Cách tiếp cận này góp phần giảm áp lực lên hạ tầng đô thị và nâng cao tính bền vững trong phát triển du lịch (Marine-Roig & Anton Clavé, 2015). Khác với Barcelona tập trung vào quản lý điểm đến dựa trên dữ liệu, Dubai chú trọng phát triển hệ sinh thái dịch vụ số tích hợp nhằm tạo ra trải nghiệm du lịch liền mạch cho du khách. Các giải pháp này cho phép du khách tiếp cận thông tin, đặt dịch vụ và sử dụng tiện ích du lịch thông qua hệ sinh thái số kết nối đồng bộ giữa các chủ thể trong ngành du lịch (Khan et al., 2017).

Trong khi đó, Seoul phát triển mạnh các nền tảng thông tin du lịch đa ngôn ngữ và hệ thống dịch vụ trực tuyến nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của du khách quốc tế. Thành phố triển khai nhiều ứng dụng và nền tảng du lịch thông minh cung cấp thông tin theo thời gian thực về điểm đến, giao thông, lưu trú và dịch vụ du lịch thông qua website, ứng dụng di động và các nền tảng số tích hợp (Cardoso & Ruiz, 2021). Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc đầu tư công nghệ nếu không đi kèm với dữ liệu và quản trị phù hợp sẽ khó tạo ra giá trị bền vững. Những điều này cho thấy công nghệ giữ vai trò nền tảng trong chuyển đổi số du lịch, tuy nhiên hiệu quả của công nghệ phụ thuộc vào khả năng tích hợp với dữ liệu và cơ chế quản trị phù hợp.

Thứ hai, về dữ liệu.
Dữ liệu được xem là yếu tố trung tâm trong chuyển đổi số du lịch, đóng vai trò kết nối giữa công nghệ và quản trị điểm đến. Tại Singapore, hệ thống dữ liệu du lịch được tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau nhằm hỗ trợ phân tích hành vi du khách và nâng cao hiệu quả quản lý điểm đến. Thông qua nền tảng Singapore Tourism Analytics Network, Singapore Tourism Board thu thập và phân tích dữ liệu về dòng khách, mức chi tiêu, thời gian lưu trú và hành vi tiêu dùng của du khách để hỗ trợ hoạch định chính sách và ra quyết định trong quản lý du lịch (GovInsider, 2018). Đồng thời, Singapore cũng thúc đẩy chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các bên liên quan trong hệ sinh thái du lịch nhằm nâng cao năng lực phân tích và tối ưu hóa trải nghiệm du khách.
Cách tiếp cận dựa trên dữ liệu này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý điểm đến và hỗ trợ phát triển du lịch thông minh theo hướng bền vững (Singapore Tourism Board, 2023). Trong khi đó, Amsterdam sử dụng hệ thống dữ liệu du lịch để theo dõi mật độ khách tại các điểm tham quan theo thời gian thực, từ đó điều tiết hoạt động quảng bá, định hướng du khách đến các khu vực ít đông đúc hơn và hạn chế sự tập trung quá mức tại trung tâm lịch sử. Bên cạnh đó, Amsterdam còn áp dụng nhiều chính sách kiểm soát lưu trú ngắn hạn, quản lý tàu du lịch và điều chỉnh quy hoạch không gian du lịch nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển kinh tế du lịch và môi trường sống của cộng đồng dân cư (Nientied & Toto, 2022). Qua đó cho thấy, dữ liệu không chỉ là nguồn thông tin phục vụ quản lý mà còn là tài sản chiến lược góp phần điều tiết dòng khách, nâng cao hiệu quả quản trị và thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Thứ ba, về quản trị.
Quản trị là yếu tố quyết định trong việc điều phối và tích hợp các nguồn lực trong chuyển đổi số du lịch. Tại Barcelona, mô hình quản trị điểm đến thông minh được triển khai thông qua sự phối hợp giữa chính quyền đô thị, doanh nghiệp và cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý du lịch và phát triển bền vững điểm đến (Ivars-Baidal et al., 2023). Trong khi đó, Seoul xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh dựa trên dữ liệu thời gian thực và hạ tầng số, trong đó chính quyền đóng vai trò điều phối trung tâm trong việc tích hợp công nghệ và dịch vụ du lịch đô thị (Cardoso & Ruiz, 2021). Tương tự, Singapore thúc đẩy quản trị điểm đến thông minh thông qua các chương trình chuyển đổi số ngành du lịch dưới sự dẫn dắt của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tăng cường khả năng kết nối giữa doanh nghiệp, du khách và nền tảng số trong hệ sinh thái du lịch thông minh (Singapore Tourism Board, 2023). Điều này cho thấy, quản trị không chỉ là cơ chế điều phối mà còn là yếu tố bảo đảm sự gắn kết giữa công nghệ, dữ liệu và các bên liên quan trong phát triển điểm đến thông minh.

Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cho thấy ba trụ cột công nghệ, dữ liệu và quản trị có mối quan hệ tương hỗ, trong đó dữ liệu đóng vai trò trung tâm kết nối. Thành công của các điểm đến thông minh không chỉ phụ thuộc vào mức độ ứng dụng công nghệ mà còn vào khả năng xây dựng hệ sinh thái dữ liệu và cơ chế quản trị hiệu quả, phù hợp với khung phân tích nghiên cứu đã đề xuất.

3.2. Thực tiễn chuyển đổi số trong du lịch tại Việt Nam

Chuyển đổi số du lịch tại Việt Nam diễn ra trong bối cảnh Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ chương trình chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, thực tiễn triển khai được tiếp cận và phân tích dựa trên ba trụ cột chính gồm: công nghệ, dữ liệu và quản trị nhằm làm rõ đặc điểm và xu hướng phát triển của điểm đến.

Một là, về công nghệ. Những năm gần đây, nhiều địa phương tại Việt Nam đã chủ động triển khai các giải pháp công nghệ nhằm thúc đẩy chuyển đổi số du lịch, tuy nhiên, mức độ tích hợp và hiệu quả còn khác nhau giữa các điểm đến. Tại Đà Nẵng, chuyển đổi số du lịch được triển khai khá toàn diện trong khuôn khổ đô thị thông minh, với các nền tảng như cổng thông tin, ứng dụng “Danang FantastiCity”, bản đồ số và hệ thống phản hồi du khách theo thời gian thực. Các công cụ này hỗ trợ du khách xuyên suốt hành trình, song vẫn chủ yếu hoạt động ở cấp độ ứng dụng riêng lẻ, thiếu liên thông với dữ liệu liên ngành (Nguyen et al., 2020; Dao & Dang, 2025).

Tương tự, Quảng Ninh đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý điểm đến, đặc biệt tại Vịnh Hạ Long, thông qua hệ thống vé điện tử, mã QR và giám sát số, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành. Tuy nhiên, các giải pháp này vẫn thiên về quản lý tác nghiệp, chưa khai thác sâu phân tích dữ liệu phục vụ hoạch định chiến lược (Duc Tho & Thuong Hieu, 11/9/2025).

Tại TP. Hồ Chí Minh, chuyển đổi số du lịch chủ yếu tập trung vào các nền tảng quảng bá và xúc tiến trực tuyến, cùng các ứng dụng hỗ trợ du khách. Các giải pháp này góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, song vẫn mang tính phân tán và thiếu sự liên kết giữa các hệ thống, làm hạn chế hiệu quả khai thác (Báo Tin tức, 21/3/2026).

Đối với Hà Nội, thành phố đã triển khai nhiều nền tảng công nghệ nhằm hỗ trợ du khách, bao gồm ứng dụng di động, hệ thống thông tin và các kênh quảng bá trực tuyến. Việc ứng dụng công nghệ đã góp phần cải thiện trải nghiệm và khả năng tiếp cận thông tin, tuy nhiên vẫn chưa hình thành hệ sinh thái công nghệ tích hợp, đặc biệt trong kết nối với dữ liệu và quản trị (Quynh & Trang, 2025).

Nhìn chung, các địa phương tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong ứng dụng công nghệ vào hoạt động du lịch. Tuy nhiên, việc thiếu sự liên thông giữa các nền tảng và khả năng tích hợp với dữ liệu và quản trị vẫn là rào cản quan trọng đối với quá trình phát triển điểm đến thông minh.

Hai là, về dữ liệu. Trong khung phân tích chuyển đổi số du lịch, dữ liệu giữ vai trò là trụ cột trung tâm, quyết định đến khả năng thu thập, tích hợp và khai thác thông tin phục vụ quản lý và phát triển điểm đến. Theo đó, thực tiễn tại Đà Nẵng cho thấy, mặc dù đã triển khai các ứng dụng du lịch thông minh và cổng thông tin tích hợp, nhưng dữ liệu chủ yếu được thu thập ở cấp độ từng hệ thống riêng lẻ. Các nền tảng này bước đầu hỗ trợ thu thập phản hồi và dữ liệu hành vi du khách, song vẫn thiếu liên thông với các lĩnh vực khác như giao thông và lưu trú (Nguyen et al., 2020; Dao & Dang, 2025). Tương tự, tại Quảng Ninh, dữ liệu được số hóa thông qua hệ thống vé điện tử tại Vịnh Hạ Long, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dòng khách. Việc số hóa dữ liệu đã góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng kiểm soát hoạt động du lịch, tuy nhiên dữ liệu vẫn chủ yếu phục vụ vận hành và chưa được tích hợp để phân tích và dự báo chiến lược (Duc Thọ & Thuong Hieu, 11/9/2025).

Đối với TP. Hồ Chí Minh, dữ liệu du lịch hiện nay chủ yếu được sử dụng trong hoạt động thống kê và xúc tiến, chưa được khai thác sâu cho phân tích hành vi du khách. Các nền tảng dữ liệu hiện có vẫn còn phân tán và thiếu liên kết giữa các hệ thống (Báo Tin tức, 21/3/2026). Tại Hà Nội, việc ứng dụng dữ liệu trong du lịch bước đầu được triển khai thông qua các hệ thống thông tin và nền tảng số. Tuy nhiên, việc thiếu nền tảng dữ liệu dùng chung và tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất đã hạn chế khả năng kết nối và khai thác dữ liệu giữa các bên liên quan (Quynh & Trang, 2025, tr.583-596). Nhìn chung, dữ liệu du lịch tại Việt Nam đã từng bước được số hóa, nhưng còn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác hiệu quả. Vì vậy, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung là yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số và phát triển điểm đến thông minh.

Ba là, về quản trị. Về mặt quản trị, chuyển đổi số du lịch tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Vai trò điều phối của chính quyền trong việc kết nối doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các bên liên quan còn chưa rõ nét, dẫn đến tình trạng triển khai vẫn mang tính rời rạc. Bên cạnh đó, năng lực số của doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng và khai thác công nghệ. Ngoài ra, cơ chế hợp tác công – tư trong lĩnh vực du lịch số còn chưa phát triển, trong khi đây là yếu tố quan trọng được nhiều nghiên cứu quốc tế nhấn mạnh (Phuong, N.M., 2022, tr.17-29). Điều này cho thấy, chuyển đổi số du lịch tại Việt Nam không chỉ là vấn đề công nghệ và dữ liệu mà còn là thách thức về quản trị, thể chế và năng lực phối hợp giữa các chủ thể.

Nhìn chung, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy chuyển đổi số du lịch ở giai đoạn đầu, với sự phát triển chưa đồng đều giữa ba trụ cột công nghệ, dữ liệu và quản trị. Trong khi công nghệ được triển khai tương đối nhanh, dữ liệu và quản trị vẫn là những điểm nghẽn chính, làm hạn chế hiệu quả của quá trình chuyển đổi số.

3.3. So sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam

Từ việc phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam theo ba trụ cột công nghệ, dữ liệu và quản trị, có thể nhận thấy, sự khác biệt đáng kể trong cách tiếp cận và mức độ phát triển chuyển đổi số du lịch ở cấp điểm đến. Trong khi các mô hình quốc tế thường tiếp cận theo hướng tích hợp, coi dữ liệu là yếu tố trung tâm và quản trị là cơ chế điều phối, thì thực tiễn tại Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào ứng dụng công nghệ ở cấp độ đơn lẻ.

Ở trụ cột công nghệ, các điểm đến quốc tế đã phát triển các nền tảng số đồng bộ, tích hợp nhiều dịch vụ trong một hệ sinh thái thống nhất, qua đó, nâng cao trải nghiệm du khách và hiệu quả quản lý. Ngược lại, tại Việt Nam, các giải pháp công nghệ tuy được triển khai tương đối nhanh nhưng còn rời rạc, chủ yếu phục vụ cung cấp thông tin và hoạt động marketing, chưa hình thành kiến trúc công nghệ tích hợp.

Đối với trụ cột dữ liệu, sự khác biệt càng thể hiện rõ nét. Các điểm đến quốc tế đã xây dựng được hệ sinh thái dữ liệu liên thông, cho phép thu thập, phân tích và khai thác dữ liệu theo thời gian thực nhằm hỗ trợ ra quyết định. Trong khi đó, tại Việt Nam, dữ liệu du lịch vẫn phân tán giữa các cơ quan và doanh nghiệp, thiếu cơ chế chia sẻ và tiêu chuẩn hóa, làm hạn chế khả năng khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, dự báo và ra quyết định.

Ở trụ cột quản trị, các mô hình quốc tế cho thấy vai trò trung tâm của chính quyền trong việc điều phối, kết nối các bên liên quan và xây dựng cơ chế hợp tác đa bên. Ngược lại, tại Việt Nam, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong hệ sinh thái du lịch còn chưa rõ ràng, trong khi năng lực quản trị số của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn hạn chế.

Từ các phân tích trên có thể nhận thấy, sự khác biệt giữa kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam không chỉ thể hiện ở mức độ ứng dụng công nghệ mà còn ở khả năng xây dựng hệ sinh thái dữ liệu và cơ chế quản trị hiệu quả. Điều này cho thấy, chuyển đổi số du lịch không thể chỉ dựa vào đầu tư công nghệ mà cần được triển khai đồng bộ với dữ liệu và quản trị. Những phát hiện này là cơ sở quan trọng để đề xuất các hàm ý chính sách cho thành phố Cần Thơ.

4. Hàm ý chính sách thúc đẩy chuyển đổi số du lịch tại thành phố Cần Thơ

Thứ nhất, về chính sách về công nghệ.

(1) Xây dựng chiến lược chuyển đổi số du lịch cấp điểm đến. Cần Thơ cần xây dựng chiến lược chuyển đổi số du lịch ở cấp thành phố với tầm nhìn trung và dài hạn (5 – 10 năm); trong đó xác định rõ mục tiêu, lộ trình và các chỉ tiêu đánh giá. Chiến lược này do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các doanh nghiệp du lịch triển khai. Nội dung chiến lược cần tập trung vào ba trụ cột chính: phát triển hạ tầng và nền tảng công nghệ; xây dựng và khai thác hệ sinh thái dữ liệu; hoàn thiện cơ chế quản trị và phối hợp. Đồng thời, cần thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá dựa trên dữ liệu, chẳng hạn như mức độ số hóa dịch vụ, tỷ lệ doanh nghiệp tham gia nền tảng số, mức độ hài lòng của du khách và hiệu quả xúc tiến du lịch trực tuyến.

(2) Thúc đẩy hợp tác công – tư trong triển khai công nghệ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hợp tác công – tư là yếu tố then chốt để triển khai hiệu quả chuyển đổi số. Đối với Cần Thơ, chính quyền nên chuyển từ vai trò thực thi trực tiếp sang kiến tạo và điều phối, tạo điều kiện để doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp du lịch cùng tham gia phát triển các nền tảng số. Một hướng đi khả thi là triển khai các dự án thí điểm tại một số điểm du lịch trọng điểm, như: bến Ninh Kiều, chợ nổi Cái Răng, kết hợp các giải pháp như vé điện tử, hệ thống hướng dẫn thông minh và ứng dụng du lịch tích hợp. Trên cơ sở đó, đánh giá hiệu quả và nhân rộng ra toàn địa bàn. Chính sách này góp phần huy động nguồn lực xã hội và nâng cao hiệu quả triển khai các giải pháp công nghệ trong du lịch.

Thứ hai, chính sách về dữ liệu.

Trong đó, phát triển hệ sinh thái dữ liệu du lịch dùng chung. Dữ liệu là yếu tố trung tâm trong khung phân tích, do đó việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu du lịch dùng chung cần được xem là ưu tiên hàng đầu. Thành phố cần thiết lập nền tảng dữ liệu tích hợp, kết nối thông tin từ các lĩnh vực như lưu trú, lữ hành, vận tải, điểm tham quan và phản hồi của du khách. Về cơ chế thực hiện, chính quyền đóng vai trò kiến tạo, xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu và nền tảng kỹ thuật, trong khi doanh nghiệp cung cấp và khai thác dữ liệu trong khuôn khổ quy định. Đồng thời, cần ban hành cơ chế chia sẻ dữ liệu minh bạch, bảo đảm an toàn thông tin và quyền riêng tư của người dùng. Chính sách này được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực dự báo nhu cầu du lịch, tối ưu hóa quản lý điểm đến và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Thứ ba, chính sách về quản trị.

(1) Nâng cao năng lực số cho doanh nghiệp và nguồn nhân lực du lịch. Năng lực số của nhiều doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, thành phố cần triển khai các chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh, tập trung vào các kỹ năng như marketing số, quản trị dữ liệu khách hàng, thương mại điện tử và sử dụng nền tảng số. Các chương trình này cần được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và tham gia tích cực vào quá trình chuyển đổi số.

(2) Tăng cường gắn kết chuyển đổi số với phát triển du lịch bền vững và bảo tồn giá trị bản địa. Chuyển đổi số không nên chỉ hướng đến hiệu quả kinh tế mà cần gắn với mục tiêu phát triển bền vững và bảo tồn giá trị văn hóa địa phương. Công nghệ và dữ liệu có thể được sử dụng để quản lý dòng khách, giảm áp lực lên tài nguyên du lịch và nâng cao chất lượng trải nghiệm. Cần Thơ cần ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng như du lịch sông nước, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa, kết hợp với các nền tảng số để quảng bá và cá nhân hóa trải nghiệm du khách. Đồng thời, cần khai thác dữ liệu để theo dõi tác động kinh tế, xã hội và môi trường của hoạt động du lịch, qua đó hỗ trợ điều chỉnh chính sách phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững.

5. Kết luận

Chuyển đổi số du lịch theo hướng điểm đến thông minh đang trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường du lịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kinh nghiệm quốc tế nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến lược cấp điểm đến, hệ sinh thái dữ liệu và hợp tác đa bên; trong khi thực tiễn Việt Nam cho thấy, chuyển đổi số đang ở giai đoạn chuyển tiếp, với những hạn chế về liên thông dữ liệu và năng lực doanh nghiệp. Đặc biệt, dữ liệu giữ vai trò trung tâm trong việc kết nối công nghệ với quản trị, hỗ trợ quá trình ra quyết định và nâng cao hiệu quả quản lý điểm đến.

Đối với thành phố Cần Thơ, việc vận dụng các bài học này cần dựa trên nguyên tắc thích ứng linh hoạt với điều kiện địa phương, tập trung vào xây dựng chiến lược tổng thể, phát triển dữ liệu dùng chung, nâng cao năng lực số và thúc đẩy hợp tác công – tư. Những định hướng này không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến mà còn hướng đến phát triển du lịch bền vững trong dài hạn.

Tài liệu tham khảo:
Báo Tin tức (21/3/2026). Ho Chi Minh City’s tourism industry is transforming thanks to digital technology. https://www.vietnam.vn/en/du-lich-tp-ho-chi-minh-chuyen-minh-nho-cong-nghe-so
Boes, K., Buhalis, D., and Inversini, A. (2016). Smart tourism destinations: Ecosystems for tourism destination competitiveness. International Journal of Tourism Cities, 2(2), 108-124.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Buhalis, D. (2003). eTourism: Information technology for strategic tourism management. London: Prentice Hall.
Cardoso, I. B. F., and Ruiz, T. C. D. (2021). Smart tourism destinations: A case study of Seoul, South Korea. Applied Tourism, 6(1), 36-44.
Dao, T. T. H., and Dang, T. T. M. (2025). The current state of smart tourism in Da Nang City and a proposed model for measuring tourist satisfaction via destination image, perceived smart tourism technologies, and memorable tourism experiences. International Journal of Engineering Inventions, 14(5), 2025, 285-291.
Duc Tho & Thuong Hieu (11/9/2025). Quang Ninh tourism on the path of digital transformation. Báo Nhân dân. https://en.nhandan.vn/quang-ninh-tourism-on-the-path-of-digital-transformation-post152757.html
Gretzel, U., Sigala, M., Xiang, Z., and Koo, C. (2015). Smart tourism: Foundations and developments. Electronic Markets, 25(3), 179-188.
GovInsider. (2018). How the Singapore Tourism Board uses data to personalise tourism. https://govinsider.asia/intl-en/article/how-the-singapore-tourism-board-uses-data-to-personalise-tourism, ngày đăng 12/10/2018.
Ivars-Baidal, J. A., Celdrán-Bernabeu, M. A., Femenia-Serra, F., Perles-Ribes, J. F., and Vera-Rebollo, J. F. (2023). Smart city and smart destination planning: Examining instruments and perceived impacts in Spain. Cities, 137, 1-15.
Khan, M. S., Woo, M., Nam, K., and Chathoth, P. K. (2017). Smart city and smart tourism: A case of Dubai. Sustainability, 9(12), 1-24.
Marine-Roig, E., and Anton Clavé, S. (2015). Tourism analytics with massive user-generated content: A case study of Barcelona. Journal of Destination Marketing & Management, 4(3), 162-172.
Lê Thị Thùy Dương & Trần Mộng (24/4/2026). Hoàn thiện thể chế phát triển đô thị thông minh tại thành phố Cần Thơ. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/04/24/hoan-thien-the-che-phat-trien-do-thi-thong-minh-tai-thanh-pho-can-tho/
Nguyen, H. H. C., Nguyen, T. T., Nguyen, V. H. Q., Nguyen, N. T., Ngo, Q. H., & Trinh, C. D. (2020). Information technology infrastructure for smart tourism in Da Nang City. Azerbaijan Journal of High Performance Computing, 3(1), 54-63.
Nientied, P., and Toto, R. (2022). Planning for sustainable city tourism in the Netherlands. European Spatial Research and Policy, 29(2), 219-234.
Phuong, N. M. (2022). Opportunities and challenges of digital transformation in Vietnam’s tourism industry. International Journal of Economics, Business and Management Research, 6(12), 17-29.
Quynh, P. N. H., and Trang, D. T. (2025). The impact of digital transformation on cultural tourism development in Hanoi. In Proceedings of the International Conference on Emerging Challenges: Sustainable Strategies in the Data-Driven Economy (pp. 583-596). Atlantis Press.
Singapore Tourism Board (2023). Tourism (Attractions) Industry Digital Plan.
Thủ tướng Chính trị (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính trị (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Tourism (Attractions) Industry Digital Plan (07/11/2023).https://www.stb.gov.sg/about-stb/media-publications/media-centre/tourism–attractions–industry-digital-plan/