Promoting the sense of service to the people among commune-level officials in the two-tier local government model in Vietnam today
ThS. Nguyễn Thị Thanh Nga
Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh
Email: nttnga2020@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã vừa là yêu cầu về đạo đức công vụ, vừa là yếu tố quyết định trong xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, dân chủ, hiện đại. Bài viết làm rõ nội hàm ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã, phân tích thực trạng ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp phát huy ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã trong thời gian tới.
Từ khóa: Chính quyền địa phương hai cấp; ý thức phục vụ nhân dân; cán bộ cấp xã; đạo đức công vụ.
Abstract: Following the implementation of the two-tier local government model on July 1, 2025, the sense of service to the People among commune-level officials is both a requirement of public service ethics and a decisive factor in building a strong, democratic, and modern grassroots government. The article clarifies the concept and substance of the sense of service to the People among commune-level officials, analyzes the current state of this sense of service under the two-tier local government model, and proposes solutions to promote the sense of service to the People among commune-level officials in the coming period.
Keywords: Two-tier local government; sense of service to the people; commune-level officials; public service ethics.
1. Đặt vấn đề
Ngày 01/7/2025 là mốc quan trọng trong tiến trình tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị. Đây là thời điểm Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 chính thức có hiệu lực, đưa mô hình chính quyền địa phương hai cấp: cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và cấp xã (xã, phường, đặc khu) vào vận hành.
Trong mô hình mới, cán bộ cấp xã là những người làm việc tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu, cấp chính quyền cơ sở trực tiếp gắn bó với đời sống hằng ngày của Nhân dân. Đây là cầu nối giữa chính quyền với Nhân dân, giữ vai trò trong bảo đảm quyền lợi, trật tự và phát triển cộng đồng ở cơ sở. Do chính quyền cấp xã mới được tổ chức lại trên cơ sở sáp nhập đơn vị hành chính, khối lượng công việc lớn và thẩm quyền có nhiều thay đổi so với trước, việc phát huy ý thức phục vụ Nhân dân của cán bộ cấp xã trở thành yêu cầu cấp thiết.
Ý thức phục vụ nhân dân là phẩm chất cốt lõi của cán bộ, thể hiện tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ; là sự tự giác đặt lợi ích của Nhân dân lên hàng đầu, coi sự hài lòng của người dân là thước đo hiệu quả công việc. Trong hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, ý thức này biểu hiện ở việc coi người dân là trung tâm của mọi hoạt động quản lý. Chính quyền cấp xã trực tiếp tiếp nhận, giải quyết các nhu cầu thiết thực của cộng đồng, từ thủ tục hành chính đến các vấn đề đời sống xã hội. Do đó, cán bộ cấp xã cần rèn luyện tinh thần trách nhiệm, tận tụy, minh bạch, tránh quan liêu, cửa quyền; đồng thời, chủ động lắng nghe, tiếp thu ý kiến Nhân dân, cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ để phục vụ Nhân dân nhanh chóng, thuận tiện.
2. Ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã hiện nay
Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vai trò của Nhân dân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Dân là gốc: thước đo cao nhất của mọi quyết sách” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.38). Trên cơ sở đó, Đảng yêu cầu “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.121). Do vậy, ý thức phục vụ Nhân dân của cán bộ cấp xã hiện nay được xác định trên bốn phương diện chủ yếu sau:
Một là, cán bộ cấp xã phải coi người dân là trung tâm, thực hiện công vụ công khai, minh bạch, tránh quan liêu, cửa quyền. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương, thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, trách nhiệm, đạo đức xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.122). Cấp xã là cấp chính quyền cơ sở, trực tiếp gắn bó với đời sống hằng ngày của Nhân dân. Khi cán bộ cấp xã đặt lợi ích của dân lên hàng đầu, lắng nghe và giải quyết kịp thời nhu cầu chính đáng, niềm tin của người dân đối với chính quyền được củng cố. Ngược lại, quan liêu, cửa quyền dễ gây bức xúc và làm giảm uy tín của Nhà nước. Công khai, minh bạch trong công vụ vừa bảo đảm quyền giám sát của Nhân dân, vừa nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở dân chủ, vững mạnh và gần dân.
Hai là, cán bộ cấp xã phải có chuyên môn sâu, tác phong làm việc tận tụy, trách nhiệm, coi sự hài lòng của Nhân dân là thước đo hiệu quả. Đại hội XIV khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở, có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính, thực hiện nghiêm trách nhiệm và đạo đức công vụ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.129). Cán bộ cấp xã là lực lượng trực tiếp thực hiện các chính sách, giải quyết thủ tục hành chính và gắn bó với đời sống hằng ngày của người dân. Thiếu chuyên môn dễ dẫn đến sai sót, gây phiền hà cho dân; thiếu tận tụy và trách nhiệm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân. Khi cán bộ cấp xã làm việc minh bạch, chuyên nghiệp và đặt sự hài lòng của dân lên hàng đầu, chính quyền cơ sở trở nên gần dân, hiệu quả, góp phần xây dựng xã hội dân chủ và phát triển bền vững.
Ba là, cán bộ cấp xã phải lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đại hội XIV yêu cầu: “Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nêu gương. Giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.132). Đây là nền tảng để xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Người dân là đối tượng thụ hưởng trực tiếp các chính sách, tiếng nói của họ phản ánh nhu cầu thực tế và những bất cập trong quản lý. Khi cán bộ cấp xã biết lắng nghe và xử lý thỏa đáng, Nhân dân cảm nhận được sự quan tâm, trách nhiệm của chính quyền, từ đó củng cố niềm tin đối với Đảng và Nhà nước. Ngược lại, thờ ơ, bỏ qua ý kiến của dân dễ dẫn đến mất lòng tin, làm giảm hiệu quả quản lý và ảnh hưởng đến phát triển bền vững của địa phương.
Bốn là, cán bộ cấp xã phải đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục để phục vụ nhanh chóng, thuận tiện. Đại hội XIV chỉ đạo: “Xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.129). Thủ tục hành chính rườm rà dễ gây phiền hà, mất thời gian và làm giảm niềm tin của Nhân dân. Cải cách hành chính gắn với ứng dụng công nghệ giúp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nâng cao tính minh bạch; đồng thời, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận dịch vụ công dễ dàng hơn. Khi thủ tục được đơn giản hóa, chính quyền cơ sở trở nên gần dân, hiệu quả và hiện đại hơn, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
3. Thực trạng ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã hiện nay
3.1. Những kết quả đạt được
Thứ nhất, sau một năm Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đi vào thực tiễn, đội ngũ cán bộ cấp xã trên phạm vi cả nước đã có nhiều chuyển biến. Bộ máy được tinh gọn hơn: sau sắp xếp, số lượng đơn vị hành chính cấp xã giảm từ hơn 10.000 xuống còn khoảng 3.321, giúp giảm tầng nấc trung gian, tiết kiệm ngân sách và nâng cao hiệu lực điều hành (VTV, 2026). Phần đông cán bộ cấp xã đã thích ứng với mô hình mới, thể hiện tinh thần trách nhiệm và tính chủ động trong công tác. Việc giảm một tầng nấc trung gian thúc đẩy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của cấp cơ sở. Tại nhiều địa phương, cán bộ đã làm thêm giờ, bám sát địa bàn, hoàn thành khối lượng lớn công việc được chuyển giao.
Thứ hai, theo báo cáo sơ kết một năm vận hành mô hình chính quyền hai cấp công bố tháng 7/2026, các chỉ số đo lường hiệu quả quản trị ghi nhận kết quả tích cực: Chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS) đạt 83,08%; 89,09% ý kiến phản hồi ghi nhận cơ bản không còn tình trạng công chức sách nhiễu, gây phiền hà (Bộ Nội vụ, 2026). Cải cách hành chính và chuyển đổi số công vụ đạt kết quả trên ba phương diện: tối ưu hóa quy trình, hạ tầng kết nối và hiệu quả thực thi. Cụ thể, việc đơn giản hóa 3.466 thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh từ tháng 4/2026 đã giúp giảm 53% thời gian xử lý, 54,6% chi phí tuân thủ, tương đương giá trị tiết kiệm khoảng 23.000 tỷ đồng mỗi năm. Về hạ tầng, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã công khai liên thông 5.816 thủ tục, tích hợp 151 hệ thống dữ liệu với toàn bộ hệ thống giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh. Hiệu suất dịch vụ công tại các địa phương chuyển biến mạnh mẽ từ sau mốc ngày 01/7/2025 với hơn 42,5 triệu hồ sơ được tiếp nhận, trong đó tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 91,74%. Tỷ lệ giải quyết đúng hạn và tỷ lệ số hóa kết quả đồng bộ ở mức xấp xỉ 95%, tạo cơ sở tái sử dụng dữ liệu cho hơn 16,5 triệu hồ sơ nhằm tối ưu hóa thời gian và tăng cường tính minh bạch của nền hành chính công (Tạp chí Quản lý nhà nước, 2026). Các số liệu này phản ánh nỗ lực của cán bộ cấp xã trong đổi mới phong cách làm việc, đẩy mạnh số hóa hồ sơ, ứng dụng chữ ký số và hệ thống liên thông dữ liệu.
Thứ ba, vai trò của cấp xã được nâng lên. Từ vị trí chủ yếu thực hiện nhiệm vụ hành chính, nhiều địa phương đã trở thành trung tâm giải quyết công việc trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp. Sự thay đổi này tạo ra cách tiếp cận mới trong quản trị địa phương, trong đó quyền hạn được trao nhiều hơn cho cơ sở và trách nhiệm cũng được đặt ra cao hơn. Tại phường Dương Nội (Hà Nội), trong năm đầu vận hành mô hình mới, đội ngũ cán bộ đã tiếp nhận và giải quyết hơn 66.000 hồ sơ đúng và trước hạn, thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ (Trọng Nghĩa, 2026).
Thứ tư, các hoạt động trên địa bàn cấp xã có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và phục vụ Nhân dân; từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở (Anh Tuấn & cộng sự, 2026). Mô hình chính quyền địa phương hai cấp góp phần giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, hình thành tư duy quản trị mới của chính quyền cấp cơ sở. Nhiều mô hình, cách làm sáng tạo phù hợp thực tiễn đã được triển khai, góp phần giảm áp lực cho cấp xã và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thứ năm, thái độ phục vụ được cải thiện: người dân tại nhiều địa phương, như: Đắk Lắk, Quảng Trị ghi nhận cán bộ xã gần dân hơn, hướng dẫn cụ thể, thủ tục nhanh hơn, không khí làm việc cởi mở hơn (Khánh Vân, 2026). Cải cách hành chính có nhiều tiến bộ, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn cao, nhiều thủ tục được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý. Tại Quảng Trị, khảo sát xã hội học cho thấy, mức độ hài lòng của người dân đạt trung bình hơn 86%, nhiều nơi trên 90% (Lê Thị Mỹ Hiền, 2026). Tư duy cán bộ chuyển từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, coi trọng phục vụ Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
3.2. Một số hạn chế
Một là, vẫn còn một bộ phận cán bộ cấp xã thiếu tinh thần trách nhiệm, làm việc theo kiểu đối phó, thiếu sự đồng cảm và chưa đặt lợi ích của Nhân dân lên hàng đầu. Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2025 công bố tháng 5/2026 chỉ ra những điểm nghẽn tại một số địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa ở trục “Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công” và “Thủ tục hành chính cấp xã” (CECODES, RTA & UNDP, 2025).
Hai là, tâm lý lúng túng trước thẩm quyền mới và biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm vì lo sợ sai phạm. Khi không còn cấp huyện để xin ý kiến chỉ đạo, một số cán bộ cấp xã chần chừ trong ra quyết định thuộc thẩm quyền, dẫn đến tình trạng chậm giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp và người dân, tạo ra những điểm nghẽn mới. Sự thiếu chuẩn mực trong giao tiếp và biểu hiện của sự vô cảm trước những bức xúc về môi trường, an ninh trật tự cục bộ vẫn còn diễn ra, ảnh hưởng đến hình ảnh của cơ quan công quyền.
Ba là, tình trạng thiếu nhân lực và kiêm nhiệm nhiều việc phổ biến, dẫn đến chuyên môn hóa không cao, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ Nhân dân. Tại xã Ea Phê (Đắk Lắk), trung tâm hành chính công cần 21 người nhưng chỉ có 5 cán bộ, khiến cán bộ phải làm việc đến 7 – 8 giờ t, kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực ngoài chuyên môn (Khánh Vân, 2026). Khối lượng công việc lớn, phạm vi rộng, yêu cầu cao khiến nhiều cán bộ quá tải. Năng lực chuyên môn chưa đồng đều, một số vị trí còn hạn chế về kỹ năng, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, chuyển đổi số, dẫn đến tình trạng chồng chéo quy định và khó khăn trong thực thi. Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến còn gặp khó khăn do thiếu trang thiết bị và nhân lực công nghệ thông tin ở cấp xã. Những hạn chế về nhân lực, năng lực chuyên môn và áp lực công việc là những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.
Nguyên nhân của những hạn chế trên có thể được lý giải trên ba phương diện.
(1) Năng lực và trình độ của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng áp lực công việc lớn. Việc nhận chuyển giao khoảng 86% khối lượng nhiệm vụ từ cấp huyện, với ít nhất 938 nhiệm vụ quản lý nhà nước, là thách thức vượt quá năng lực của một bộ phận cán bộ cơ sở có trình độ chuyên môn chưa được cập nhật. Sự thiếu hụt nhân lực có chuyên môn sâu về quản lý đất đai, tư pháp, quản trị số dẫn đến tình trạng quá tải, ảnh hưởng đến thái độ phục vụ.
(2) Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đồng bộ và chưa theo kịp thực tiễn. Các chương trình bồi dưỡng trước đây còn nặng về lý thuyết hàn lâm, chưa cung cấp đủ các kỹ năng thực tiễn như quản trị rủi ro, phân tích dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo hay kỹ năng đối thoại giải quyết khủng hoảng cộng đồng.
(3) Các quy chế kiểm tra và cơ chế bảo vệ cán bộ chưa bắt kịp thực tế. Khi không còn cấp huyện sát sao, cấp tỉnh lại quá xa và nhiều việc, dễ xuất hiện những khoảng trống trong theo dõi, hỗ trợ kịp thời cho cơ sở. Đồng thời, các quy định pháp luật bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm chưa thực sự rõ ràng, khiến nhiều cán bộ có tâm huyết chọn giải pháp an toàn, làm việc cầm chừng thay vì chủ động sáng tạo. Bên cạnh đó, thu nhập và kinh phí phân bổ cho cấp xã sau sáp nhập ở nhiều nơi còn eo hẹp. Công việc tăng nhưng chế độ đãi ngộ chưa tương xứng, làm giảm động lực và nhiệt huyết của cán bộ.
4. Một số giải pháp phát huy ý thức phục vụ nhân dân của cán bộ cấp xã
Để đội ngũ cán bộ cấp xã có đủ năng lực gánh vác vai trò trong mô hình chính quyền hai cấp, cần triển khai đồng bộ các giải pháp kết hợp giữa việc tự rèn luyện đạo đức, năng lực của mỗi cán bộ với các quy định, cơ chế từ phía Nhà nước.
Một là, chú trọng giáo dục chính trị – tư tưởng, giúp cán bộ thấm nhuần quan điểm “lấy Nhân dân làm trung tâm”, coi sự hài lòng của người dân là thước đo hiệu quả công việc. Song song, xây dựng văn hóa công vụ dựa trên các giá trị tận tụy, liêm chính, minh bạch, chống quan liêu, hách dịch và nhũng nhiễu. Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp để xây dựng, hoàn thiện cơ chế ‘không thể’, ‘không dám’, ‘không muốn’, ‘không cần’ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.140).
Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế giám sát và đánh giá: lấy ý kiến Nhân dân về thái độ phục vụ, gắn kết quả khảo sát với công tác thi đua – khen thưởng và bổ nhiệm. Chính sách đãi ngộ hợp lý là yếu tố để cán bộ yên tâm công tác: “Có chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương, thu nhập bảo đảm đời sống để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, liêm chính, công tâm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.129). Việc bồi dưỡng kỹ năng mềm như giao tiếp, xử lý tình huống, lắng nghe và tiếp thu ý kiến giúp cán bộ gần dân hơn, tạo dựng niềm tin nơi cơ sở.
Cấp xã cần triển khai hiệu quả chính sách đãi ngộ và đào tạo, bồi dưỡng theo Nghị định số 171/2025/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/04/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp giai đoạn 2026 – 2031. Cần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2028, 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức quản trị địa phương, kỹ năng phân tích dữ liệu, chuyển đổi số và kỹ năng giải quyết các vấn đề cộng đồng. Đào tạo không chỉ để cấp chứng chỉ mà phải gắn với khung năng lực vị trí việc làm mới. Song song, cần cải cách tiền lương thực chất, bảo đảm thu nhập của cán bộ cấp xã tương xứng với khối lượng công việc lớn mà họ đang gánh vác.
Hai là, trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và yêu cầu phục vụ Nhân dân ngày càng cao, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã là nhiệm vụ trọng tâm. Cần tổ chức đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về pháp luật, quản lý đất đai, xây dựng, tài chính công và chuyển đổi số cho cán bộ cấp xã, những lĩnh vực trực tiếp liên quan đến đời sống người dân, đòi hỏi cán bộ nắm chắc để giải quyết công việc hiệu quả.
Song song, cần chuẩn hóa đội ngũ cán bộ thông qua tuyển chọn, bổ nhiệm dựa trên năng lực thực tiễn và phẩm chất đạo đức, tránh hình thức hoặc thiếu chuyên môn: “Ưu tiên đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã sau sắp xếp đơn vị hành chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 138). Khuyến khích tự học, tự rèn luyện: cán bộ cấp xã phải chủ động cập nhật kiến thức mới, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0. Đồng thời, tăng cường kỹ năng mềm như giao tiếp, xử lý tình huống, lắng nghe và tiếp thu ý kiến Nhân dân, yếu tố giúp cán bộ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn gần dân, hiểu dân, phục vụ dân tốt hơn.
Ba là, hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh: “Kịp thời thay thế, cho từ chức những cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, sai phạm và cán bộ ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có kết quả thực hiện nhiệm vụ yếu kém mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 138). Cần phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và Nhân dân. Nhân rộng các mô hình đổi mới như “Lắng nghe dân nói” đang được triển khai tại Quảng Trị (giai đoạn 2026 – 2030), tích hợp với các nền tảng chuyển đổi số để thu thập ý kiến người dân mọi lúc, mọi nơi (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, 2026). Xây dựng cơ chế cho phép người dân đánh giá thái độ phục vụ của cán bộ trên ứng dụng di động sau mỗi lần giao dịch. Các phản ánh về thái độ cửa quyền, hách dịch cần được thanh tra độc lập và xử lý nghiêm.
Đồng thời, tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm đảng viên suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Tổ chức đối thoại định kỳ giữa cán bộ cấp xã với người dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng. Thiết lập đường dây nóng, hộp thư góp ý, ứng dụng phản ánh hiện trường; tôn trọng và tiếp thu ý kiến Nhân dân, biến ý kiến của người dân thành cơ sở điều chỉnh chính sách, quy trình phục vụ.
Bốn là, trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và tinh gọn bộ máy, cải cách hành chính gắn với ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp trọng tâm để nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân. Cần đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ những giấy tờ, quy trình rườm rà, bảo đảm công khai, minh bạch. Việc triển khai mô hình “một cửa, một cửa liên thông” ở cấp xã phải được thực hiện đồng bộ, giúp người dân tiếp cận dịch vụ nhanh chóng, giảm thời gian chờ đợi và chi phí đi lại.
Các đơn vị hành chính cấp xã cần triển khai dịch vụ công trực tuyến, cho phép người dân nộp hồ sơ, tra cứu kết quả và thanh toán lệ phí qua mạng. Hệ thống quản lý hồ sơ điện tử, cơ sở dữ liệu dân cư và đất đai phải được kết nối liên thông từ xã lên tỉnh, tạo sự thống nhất và thuận tiện trong quản lý. Để làm được điều này, cần đầu tư hạ tầng số như máy tính, đường truyền, phần mềm quản lý hiện đại, đồng thời đào tạo kỹ năng số cho cán bộ cấp xã, giúp họ thành thạo trong xử lý hồ sơ điện tử, bảo mật thông tin và tương tác trực tuyến với người dân.
Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế phản hồi nhanh thông qua đường dây nóng, ứng dụng phản ánh hiện trường, hộp thư góp ý trực tuyến; qua đó, người dân có thể phản ánh vướng mắc và nhận phản hồi kịp thời. Khi cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số được thực hiện hiệu quả, cán bộ cấp xã sẽ trở thành “công bộc của dân”, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và gần dân hơn.
5. Kết luận
Trong bối cảnh chính quyền địa phương được tổ chức theo mô hình hai cấp, vai trò của cán bộ cấp xã trở nên quan trọng hơn vì đây là lực lượng trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc hằng ngày của người dân. Việc phát huy ý thức phục vụ Nhân dân vừa là yêu cầu chính trị, vừa là giải pháp thực tiễn để củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị. Cán bộ cấp xã cần thấm nhuần quan điểm “lấy Nhân dân làm trung tâm”, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, tận tụy và trách nhiệm trong công vụ. Đồng thời, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và cơ chế lắng nghe, tiếp thu ý kiến Nhân dân phải được triển khai đồng bộ, tạo nên nền hành chính hiện đại, minh bạch và gần dân. Khi đội ngũ cán bộ cấp xã thực sự trở thành “công bộc của dân”, chính quyền địa phương hai cấp mới phát huy hiệu quả, bảo đảm mọi chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống, tạo nền tảng xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
Anh Tuấn, Sỹ Tuyên, & K’ (25/6/2026). Từ tinh gọn bộ máy đến nâng chất phục vụ người dân – Bài 1: Khẳng định vai trò trung tâm hành chính ở cơ sở. https://baotintuc.vn/thoi-su/tu-tinh-gon-bo-may-den-nang-chat-phuc-vu-nguoi-danbai-1-khang-dinh-vai-tro-trung-tam-hanh-chinh-o-co-so-20260625161610414.htm
Bộ Nội vụ (2026). Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2025.
CECODES, RTA, & UNDP (2025). Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2024. https://papi.org.vn/bao-cao
Chính phủ (2025). Nghị định số 171/2025/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Khánh Vân (2026). Từ tinh gọn bộ máy đến nâng cao chất lượng phục vụ người dân. https://noivuxahoi.dantri.com.vn
Lê Thị Mỹ Hiền (7/7/2026). Mở rộng kênh lắng nghe ý kiến Nhân dân. Báo Đại đoàn kết. https://daidoanket.vn/mo-rong-kenh-lang-nghe-y-kien-nhan-dan.html
Quốc hội (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025
Tạp chí Quản lý nhà nước (01/7/2026). Sơ kết 1 năm vận hành chính quyền hai cấp: Đo “chất lượng” bộ máy sau sắp xếp. https://www.quanlynhanuoc.vn
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 20/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu.
Trọng Nghĩa (05/6/2026). Hà Nội: Phường Dương Nội đoàn kết, đổi mới, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2026. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/ha-noi-phuong-duong-noi-doan-ket-doi-moi-quyet-tam-thuc-hien-thang-loi-nhiem-vu-kinh-te-xa-hoi-nam-2026-10419395.html
Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị (2026). Đề án đổi mới phương thức tiếp xúc và tích hợp nền tảng số “Lắng nghe dân nói” giai đoạn 2026 – 2030.
VTV (01/7/2026). Dấu ấn 1 năm sắp xếp lại giang sơn: Bộ máy tinh gọn hơn, hiệu quả phục vụ Nhân dân rõ nét. https://vtv.vn/dau-an-1-nam-sap-xep-lai-giang-son-bo-may-tinh-gon-hon-hieu-qua-phuc-vu-nhan-dan-ro-net-100260630213257942.htm



