Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học trong thời kỳ mới

Strengthening Party leadership over the fundamental and comprehensive reform of higher education in the new period

ThS. Nguyễn Thị Nhung
Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
Email: Nhungnt@hmtu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong thời kỳ mới. Quá trình này chỉ có thể đạt hiệu quả khi đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và thường xuyên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, giáo dục đại học vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục. Bài viết làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học trong thời kỳ mới.

Từ khóa: Tăng cường; lãnh đạo; Đảng Cộng sản Việt Nam; đổi mới; giáo dục đại học; thời kỳ mới.

Abstract: The fundamental and comprehensive reform of higher education is an urgent necessity for enhancing the quality of human resources, promoting science, technology, and innovation, and meeting the country’s requirements for rapid and sustainable development in the new period. This process can only be effective when conducted under the comprehensive, direct, and regular leadership of the Communist Party of Vietnam. In practice, alongside positive outcomes, higher education still faces numerous limitations that need to be addressed. This article examines the current situation and proposes several solutions to strengthen Party leadership over the fundamental and comprehensive reform of higher education the new period.

Keywords: Strengthening; leadership; Communist Party of Vietnam; reform; higher education; new period.

1. Đặt vấn đề

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học là một yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh của đất nước trong thời kỳ mới, đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế sâu rộng và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực tiễn cho thấy, giáo dục đại học ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn những hạn chế về chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển mới. Trong bối cảnh đó, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò định hướng chiến lược, bảo đảm giáo dục đại học phát triển đúng mục tiêu, quan điểm và đường lối của Đảng; đồng thời, phát huy hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy, nghiên cứu các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học trong thời kỳ mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

2. Cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học trong thời kỳ mới

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giáo dục đại học là nhân tố quyết định bảo đảm sự phát triển đúng hướng của nền giáo dục quốc gia trong thời kỳ mới. Với vai trò lãnh đạo toàn diện, Đảng định hướng mục tiêu, quan điểm và các chủ trương lớn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học tiên tiến, hiện đại, gắn với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Trong hệ thống chính trị Việt Nam, “Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị – xã hội bằng Cương lĩnh chính trị, chiến lược, chính sách, chủ trương; bằng công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr. 128). Đây là cơ sở quan trọng để giáo dục đại học phát triển bền vững, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học được hiểu là quá trình đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, mô hình quản trị, cơ chế tài chính, phát triển đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế đến kiểm định chất lượng và chuyển đổi số. Đây không phải là sự điều chỉnh cục bộ mà là quá trình đổi mới toàn diện nhằm tạo bước phát triển về chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục đại học cần được thể hiện trên nhiều phương diện: (1) Đảng định hướng chiến lược phát triển giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và xu thế giáo dục thế giới. (2) Đảng lãnh đạo việc xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình, nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. (3) Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cao. (4) Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội cho sinh viên; bảo đảm môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, kỷ cương và sáng tạo.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, yêu cầu đặt ra là sự lãnh đạo của Đảng phải tiếp tục được đổi mới theo hướng khoa học, hiện đại, phát huy quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học nhưng vẫn bảo đảm thống nhất về mục tiêu chiến lược, định hướng phát triển và chất lượng đào tạo. Đây là cơ sở quan trọng để giáo dục đại học Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và từng bước đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

3. Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học hiện nay

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo chuyển biến tích cực cả về nhận thức, cơ chế quản lý và chất lượng đào tạo.

Thứ nhất, hệ thống chủ trương, đường lối và chính sách về đổi mới giáo dục đại học ngày càng được hoàn thiện. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận và định hướng chiến lược, xác định rõ mục tiêu xây dựng nền giáo dục đại học hiện đại, chất lượng, hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đồng bộ, như: Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Luật Giáo dục đại học năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở giáo dục đại học phát huy quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm giải trình và đổi mới quản trị đại học theo hướng hiện đại. Hiện cả nước có khoảng 237 – 291 cơ sở giáo dục đại học (trong đó công lập chiếm khoảng 78%), quy mô đào tạo tiếp tục ổn định và tăng nhẹ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026). Năm 2026, hơn 633.000 thí sinh xác nhận nhập học đại học (tăng khoảng 4,2% so với đợt 1 năm 2025), trong đó khoảng 212.600 thí sinh chọn ngành STEM, chiếm 33,6%, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực theo định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước (Đỗ Vi, 23/8/2026).

Thứ hai, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế của các cơ sở giáo dục đại học có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều trường đã đổi mới chương trình đào tạo theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học, gắn với nhu cầu thị trường lao động và cách mạng công nghiệp 4.0. Hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo được quan tâm đầu tư rõ rệt. Năm 2024, Việt Nam ghi nhận 22.259 công bố quốc tế trên Scopus (tăng gần 15% so với năm trước); riêng Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu với hơn 3.000 công bố, Đại học Quốc gia Hà Nội đạt trên 2.400 công bố năm 2025. Chỉ số tác động trích dẫn theo lĩnh vực (FWCI) của Việt Nam duy trì ở mức 1,18 (cao hơn trung bình toàn cầu 18%) (Thống kê Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, 2026). Về xếp hạng quốc tế, năm 2026, có 25 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam lọt bảng QS Asia (Đại học Quốc gia Hà Nội đứng thứ 158 châu Á), 11 cơ sở vào bảng The World University Rankings (Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh ở nhóm 501 – 600)  (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2026). Đội ngũ giảng viên tăng lên gần 94.000 người (năm 2025), trong đó có khoảng 33.500 giảng viên đại học là tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư, chiếm 35% tổng số, là tỷ lệ cao nhất từ trước tới nay (Thanh Hằng, 18/9/2025). Quá trình hội nhập quốc tế được đẩy mạnh thông qua liên kết đào tạo, trao đổi giảng viên, sinh viên và tham gia các bảng xếp hạng khu vực, thế giới.

Thứ ba, công tác xây dựng Đảng trong các cơ sở giáo dục đại học tiếp tục được tăng cường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo đối với toàn bộ hoạt động của nhà trường. Các cấp ủy đảng chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, phát huy vai trò hạt nhân chính trị trong định hướng phát triển, xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Việc tăng cường kiểm tra, giám sát, phát huy dân chủ và giữ vững kỷ cương trong nhà trường đã tạo môi trường giáo dục ổn định, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước. Một số mô hình điển hình, như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội đã gắn kết chặt chẽ giữa lãnh đạo của cấp ủy với tự chủ đại học, góp phần nâng cao vị thế học thuật và đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội.

Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, thực tế cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học vẫn còn những hạn chế cần được tiếp tục khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Thứ nhất, “thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, còn nhiều bất cập” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr. 66). Một số chương trình, kế hoạch triển khai còn mang tính hình thức, chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và lộ trình thực hiện. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở một số nơi chưa thật sự quyết liệt, việc phân công trách nhiệm chưa rõ ràng, dẫn đến hiệu quả thực hiện các mục tiêu đổi mới còn hạn chế. Trong một số trường hợp, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, tổ chức đảng và các cơ sở giáo dục đại học chưa chặt chẽ, làm ảnh hưởng đến tính thống nhất trong tổ chức thực hiện. Tự chủ đại học tuy được mở rộng nhưng vẫn chưa đồng bộ: nhiều trường chủ yếu tự chủ về tài chính (nguồn thu từ học phí vẫn chiếm trên 85%), trong khi tự chủ học thuật, tổ chức bộ máy và nhân sự còn hạn chế; một bộ phận trường vẫn phụ thuộc nặng vào cơ chế phê duyệt hành chính.

Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học ở một số địa phương, cơ sở giáo dục chưa được tiến hành thường xuyên và toàn diện. Việc phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện còn chậm; một số bất cập về cơ chế quản trị đại học, phát triển đội ngũ giảng viên, bảo đảm chất lượng đào tạo, tự chủ đại học và gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu xã hội chưa được xử lý kịp thời. Đồng thời, việc đánh giá kết quả thực hiện ở một số nơi còn nặng về định tính, chưa dựa trên các tiêu chí và chỉ số cụ thể, dẫn đến khó xác định chính xác hiệu quả của quá trình đổi mới. Phân bố cơ sở giáo dục đại học và nguồn lực còn chưa hợp lý giữa các vùng miền, ảnh hưởng đến tính đồng đều của hệ thống.

Thứ ba, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng trong các cơ sở giáo dục đại học chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thời kỳ đổi mới. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế về tư duy đổi mới, năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện; chưa chủ động nắm bắt những xu hướng phát triển mới của giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận trong đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và người học ở một số cơ sở còn thiếu chiều sâu, làm cho quá trình triển khai đổi mới chưa tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ. Một số trường hợp vẫn còn biểu hiện hành chính hóa trong quản trị hoặc buông lỏng lãnh đạo đối với hoạt động chuyên môn – học thuật.

Những hạn chế trên đòi hỏi cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện và phát huy vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị nhằm bảo đảm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học đạt hiệu quả thiết thực và bền vững trong thời kỳ mới.

4. Một số giải pháp

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển đất nước.

Trước hết, cần “nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ nhà giáo trong cả nước về tầm quan trọng của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới” (Lê Thị Mai Hoa & Nguyễn Thanh Hà, 2024). Luôn quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các định hướng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học trong giai đoạn mới. Việc học tập, quán triệt nghị quyết cần được tổ chức thường xuyên, nghiêm túc, gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và từng cán bộ, đảng viên, bảo đảm mọi chủ thể đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò của giáo dục đại học đối với phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và xây dựng nền kinh tế tri thức.

Bên cạnh việc nâng cao nhận thức, cần chú trọng nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành và các cơ sở giáo dục đại học. Mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần tiên phong, gương mẫu trong thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục; chủ động đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý, khắc phục biểu hiện bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới hoặc tư tưởng hành chính hóa trong quản trị đại học. Các cấp ủy cần đưa kết quả thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục đại học vào tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết để kịp thời phát hiện, tháo gỡ khó khăn, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo và xử lý nghiêm những biểu hiện thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục đại học theo hướng khoa học, dân chủ, hiện đại và hiệu quả.

Trước hết, cần “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo; chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt” (Bộ Chính trị, 2025, tr. 4). Các cấp ủy đảng cần chuyển mạnh từ phương thức lãnh đạo thiên về xử lý công việc cụ thể sang lãnh đạo bằng chủ trương, định hướng phát triển, chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách. Nội dung lãnh đạo phải gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng cường hợp tác quốc tế. Đồng thời, cần quan tâm lãnh đạo xây dựng văn hóa đại học, môi trường giáo dục lành mạnh, dân chủ, kỷ cương và nhân văn.

Cùng với đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng cũng cần được đổi mới theo hướng khoa học, hiện đại và phù hợp với cơ chế tự chủ đại học. Các cấp ủy cần phát huy dân chủ trong quá trình xây dựng nghị quyết, chương trình hành động và tổ chức thực hiện; tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, cán bộ quản lý và người học để các chủ trương của Đảng sát với thực tiễn. Phương thức lãnh đạo cần kết hợp hài hòa giữa định hướng chính trị với tôn trọng tính đặc thù của hoạt động học thuật, tạo điều kiện để các trường phát huy tính năng động, sáng tạo và trách nhiệm giải trình.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và kiểm tra, giám sát; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, các nền tảng quản trị hiện đại nhằm nâng cao chất lượng điều hành và năng lực dự báo. Công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn cần được thực hiện thường xuyên để kịp thời bổ sung, điều chỉnh chủ trương, giải pháp phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về giáo dục đại học, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện hình thức, buông lỏng lãnh đạo hoặc can thiệp hành chính không phù hợp.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống giáo dục đại học.

Trước hết, “đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục, đào tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr. 273). Đảng tăng cường lãnh đạo việc hoàn thiện hệ thống chủ trương, nghị quyết và định hướng chiến lược về phát triển giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Các chủ trương cần bảo đảm tính nhất quán giữa đổi mới giáo dục với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, việc thể chế hóa các chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước phải được thực hiện kịp thời, đồng bộ, khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản trị đại học theo hướng tăng cường quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, công khai và minh bạch. Tự chủ đại học phải được thực hiện toàn diện trên các lĩnh vực học thuật, tổ chức bộ máy, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế, nhưng luôn đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng trong nhà trường và sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Đảng cần chỉ đạo xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát phù hợp nhằm bảo đảm các cơ sở giáo dục đại học thực hiện đúng mục tiêu đào tạo, không chạy theo lợi ích kinh tế đơn thuần hoặc xa rời sứ mệnh giáo dục.

Ngoài ra, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về giáo dục đại học; kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để điều chỉnh cơ chế, chính sách phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục đại học có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, tư duy đổi mới và năng lực quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.

Bốn là, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong giáo dục đại học dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Cần chỉ đạo rà soát, đổi mới nội dung và chương trình đào tạo theo hướng tinh gọn, hiện đại, cập nhật thường xuyên những thành tựu mới của khoa học, công nghệ và yêu cầu của thị trường lao động. Chương trình đào tạo phải bảo đảm tính liên thông, mở, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội cho người học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn cao, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng lực tự học, tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề của sinh viên. Giảng viên cần chuyển từ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều sang tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ người học khám phá tri thức thông qua các phương pháp hiện đại như học tập theo dự án, học tập trải nghiệm, học trực tuyến kết hợp trực tiếp và nghiên cứu khoa học. Cùng với đó, đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá theo hướng đánh giá năng lực, phẩm chất và kết quả đầu ra thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức.

Cùng với đó, các cấp ủy đảng cần lãnh đạo xây dựng hạ tầng số đồng bộ, phát triển hệ thống học liệu số, thư viện điện tử, phòng học thông minh, nền tảng đào tạo trực tuyến và cơ sở dữ liệu dùng chung. Đồng thời, khuyến khích giảng viên và sinh viên ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các công nghệ tiên tiến vào giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Việc đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các cơ sở giáo dục quốc tế cũng cần được quan tâm nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng đào tạo.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình đổi mới giáo dục đại học.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát một cách khoa học, bài bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với đặc điểm của từng cơ sở giáo dục đại học. Nội dung kiểm tra phải tập trung vào việc quán triệt và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục và đào tạo; việc triển khai các chương trình, đề án đổi mới giáo dục đại học; công tác xây dựng Đảng trong nhà trường; việc thực hiện quyền tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình; công tác quản trị đại học; chất lượng đào tạo; nghiên cứu khoa học; chuyển đổi số; phát triển đội ngũ giảng viên; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và bảo đảm công khai, minh bạch trong mọi hoạt động.

Quá trình kiểm tra, giám sát cần được tiến hành khách quan, dân chủ, công tâm, kết hợp hài hòa giữa kiểm tra thường xuyên với kiểm tra chuyên đề và kiểm tra đột xuất khi cần thiết. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các cơ quan kiểm tra của Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, giảng viên, người học và toàn xã hội trong việc tham gia giám sát, phản biện, góp ý nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của quá trình đổi mới giáo dục đại học.

Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát phải đánh giá đúng thực trạng, khách quan ghi nhận những kết quả đạt được, đồng thời chỉ rõ những hạn chế, bất cập, phân tích nguyên nhân, xác định rõ trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân có liên quan. Trên cơ sở đó, kịp thời biểu dương các mô hình hay, cách làm sáng tạo, đồng thời kiên quyết chấn chỉnh, xử lý nghiêm các vi phạm, khắc phục những yếu kém kéo dài. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, tạo động lực thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

5. Kết luận

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ mới. Thực tiễn cho thấy, mọi thành tựu của giáo dục đại học đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn, toàn diện và xuyên suốt của Đảng. Vì vậy, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình đổi mới giáo dục đại học không chỉ bảo đảm định hướng chính trị, tư tưởng mà còn tạo động lực để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này cần triển khai đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức, đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Với quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, giáo dục đại học Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường trong kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71- NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Báo cáo tổng hợp thuyết minh điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn 2050. https://cdn.thuvienphapluat.vn/phap-luat/2022-2/NTMH/09072026/bctm1.pdf
Đại học Quốc gia Hà Nội (2026). Xếp hạng 158 QS 2026 Châu Á: Đại học Quốc gia Hà Nội gia tăng mạnh thứ hạng về uy tín học thuật, uy tín tuyển dụng và quốc tế hoá. https://www.is.vnu.edu.vn/xep-hang-158-qs-2026-chau-a-dhqghn-gia-tang-manh-thu-hang-ve-uy-tin-hoc-thuat-uy-tin-tuyen-dung-va-quoc-te-hoa/
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Thị Mai Hoa & Nguyễn Thanh Hà (02/5/2024). Một số khuyến nghị định hướng tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới. Tạp chí Giáo dục điện tử. https://tapchigiaoduc.edu.vn/article/88444/170/mot-so-khuyen-nghi-dinh-huong-tiep-tuc-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc-va-dao-tao-dap-ung-yeu-cau-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-trong-giai-doan-moi/
Lê Vân (18/02/2021). Gỡ  “điểm nghẽn” trong tự chủ đại học – Bài 2: Đổi mới tư duy quản trị đại học. https://baotintuc.vn/giao-duc/go-diem-nghen-trong-tu-chu-dai-hoc-bai-2-doi-moi-tu-duy-quan-tri-dai-hoc-20210217154650662.htm
Quốc hội (2012, 2025). Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đỗ Vi (23/8/2026). Hơn 633.000 thí sinh nhập học đại học năm 2026. https://suckhoedoisong.vn/hon-633000-thi-sinh-nhap-hoc-dai-hoc-nam-2026-169260823142229389.htm
Thanh Hằng (18/9/2025). Tỷ lệ giảng viên là giáo sư, tiến sĩ cao nhất từ trước tới nay. https://vnexpress.net/ty-le-giang-vien-la-giao-su-tien-si-cao-nhat-tu-truoc-toi-nay-4940563.html
Thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (2026). Số lượng công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế năm 2024. https://thongkekhoahoc.vn/blog/so-luong-cong-bo-khoa-hoc-tren-cac-tap-chi-quoc-te-nam-2024.
Trần Thị Tố Uyên (14/5/2024). Thực hiện quyền tự chủ đại học từ thực tiễn Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/05/14/thuc-hien-quyen-tu-chu-dai-hoc-tu-thuc-tien-dai-hoc-quoc-gia-tp-ho-chi-minh-thuc-trang-va-giai-phap/