Đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng sông Cửu Long trong kỷ nguyên mới

Rethinking Infrastructure Development in the Mekong Delta in the New Era

ThS. Nguyễn Trần Phương Hiền
Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long
Email: phuonghientrannguyen@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Kết cấu hạ tầng là điều kiện vật chất – kỹ thuật quan trọng để kết nối các yếu tố của lực lượng sản xuất, tổ chức không gian phát triển và nâng cao đời sống nhân dân. Những năm qua, hạ tầng vùng đồng bằng sông Cửu Long từng bước được cải thiện, góp phần thúc đẩy đi lại, sản xuất, lưu thông hàng hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, tính đồng bộ, liên thông và hiệu quả khai thác còn hạn chế; cơ chế điều phối, huy động nguồn lực liên vùng chưa đáp ứng yêu cầu mới. Bài viết phân tích những kết quả, hạn chế và đề xuất định hướng đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng vùng theo hướng đồng bộ, hiện đại, thích ứng lấy lợi ích của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả chung của toàn vùng làm thước đo.

Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long; kết cấu hạ tầng; lực lượng sản xuất; liên kết vùng; đổi mới tư duy.

Abstract: Infrastructure is an important material and technical condition for connecting the elements of productive forces, organizing development space, and improving people’s well-being. In recent years, infrastructure in the Mekong Delta has gradually improved, facilitating travel, production, the circulation of goods, and climate change adaptation. However, its integration, connectivity, and operational efficiency remain limited, while regional coordination and resource mobilization mechanisms have yet to meet new requirements. This article examines the achievements and limitations and proposes directions for renewing infrastructure development thinking toward an integrated, modern, and resilient system, taking the interests of people and businesses, as well as the overall effectiveness of the region, as key measures.

Keywords: Development thinking; infrastructure; Mekong Delta; productive forces; regional connectivity.

1. Đặt vấn đề

Kết cấu hạ tầng giữ vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tổ chức không gian lãnh thổ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ góc độ triết học Mác – Lênin, lực lượng sản xuất là sự thống nhất giữa người lao động và tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất vật chất. Trình độ của lực lượng sản xuất không chỉ thể hiện ở chất lượng người lao động, công cụ và khoa học – công nghệ, mà còn ở khả năng kết nối, tổ chức và phát huy các yếu tố ấy trong thực tiễn. Theo nghĩa đó, một bộ phận hạ tầng kinh tế – kỹ thuật trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất; rộng hơn, toàn bộ hệ thống hạ tầng tạo nên những điều kiện vật chất – kỹ thuật để lao động, đất đai, vốn, công nghệ, dữ liệu và thị trường được kết nối, chuyển hóa từ tiềm năng thành năng lực sản xuất hiện thực. Vì vậy, phát triển hạ tầng không chỉ là xây dựng công trình mà còn là tạo lập nền tảng cho sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất.

Đối với đồng bằng sông Cửu Long, vấn đề này càng có ý nghĩa đặc biệt. Vùng giữ vai trò quan trọng về sản xuất nông nghiệp, thủy sản và bảo đảm an ninh lương thực; có mạng lưới sông ngòi dày đặc, không gian biển rộng và vị trí đáng kể trong hợp tác tiểu vùng Mê Kông. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những vùng chịu tác động rõ nhất của sụt lún, sạt lở, hạn hán, xâm nhập mặn và nước biển dâng. Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, vùng, gồm: thành phố Cần Thơ và Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau. Quy mô không gian mới mở ra điều kiện liên kết rộng hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu phải tổ chức lại quy hoạch, đầu tư và quản trị hạ tầng theo tư duy vùng, khắc phục tình trạng mỗi địa phương phát triển trong phạm vi địa giới của mình.

Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt Nghị quyết số 13) xác định phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh, bền vững. Quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp tục định hướng hình thành các hành lang kinh tế, nâng cao kết nối nội vùng, liên vùng và quốc tế (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Từ yêu cầu lý luận và thực tiễn đó, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là đầu tư thêm bao nhiêu công trình, mà là đầu tư theo tư duy nào và đem lại hiệu quả gì. Cần chuyển từ công trình riêng lẻ sang hệ thống đồng bộ; từ đáp ứng nhu cầu trước mắt sang kiến tạo không gian phát triển; từ chú trọng tổng vốn và tiến độ giải ngân sang coi trọng chất lượng, khả năng kết nối và hiệu quả khai thác; từ hạ tầng vật chất đơn thuần sang kết hợp hài hòa hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên.

2. Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng sông Cửu Long

2.1. Kết quả đạt được

Những năm qua, kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có bước chuyển khá rõ nét. Đây là kết quả của sự quan tâm, đầu tư ngày càng lớn của Trung ương, sự chủ động của các địa phương, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và sự đồng thuận của nhân dân. Việc triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) và Kết luận số 72-KL/TW ngày 23/02/2024 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để ưu tiên nguồn lực, từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài về kết cấu hạ tầng. Giao thông có bước phát triển nổi bật; năng lượng, viễn thông, thủy lợi, đô thị, khu công nghiệp, logistics và hạ tầng xã hội tiếp tục được đầu tư. Điều đáng ghi nhận không chỉ là số lượng công trình được xây dựng mà còn là những chuyển biến ngày càng rõ trong đi lại, sản xuất, buôn bán và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân.

Trước hết, hạ tầng giao thông từng bước mở rộng không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng. Nhiều tuyến cao tốc, quốc lộ, cầu lớn và đường ven biển được đầu tư, dần hình thành các trục dọc, trục ngang kết nối đồng bằng sông Cửu Long với TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ; đồng thời, kết nối Cần Thơ với các tiểu vùng trung tâm, biên giới và ven biển. Cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận, Mỹ Thuận – Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận 2 cùng các dự án Cần Thơ – Cà Mau, Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng, Cao Lãnh – An Hữu đang từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông của vùng. Ý nghĩa của những công trình này không chỉ nằm ở việc rút ngắn khoảng cách địa lý. Khi thời gian đi lại được rút ngắn, khả năng tiếp cận trung tâm hành chính, bệnh viện, trường học, khu công nghiệp và thị trường cũng được cải thiện. Giao thông vì thế không đơn thuần là phương tiện chuyên chở mà còn là điều kiện để người dân tiếp cận tốt hơn các cơ hội học tập, việc làm, chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống. Từ góc độ phát triển lực lượng sản xuất, hạ tầng giao thông đã góp phần kết nối người lao động với tư liệu sản xuất, vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, sản phẩm với thị trường, qua đó chuyển những tiềm năng phân tán của vùng thành năng lực phát triển hiện thực.

Cùng với việc đi lại thuận lợi hơn, hạ tầng giao thông và logistics đã hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất, buôn bán và lưu thông hàng hóa. Nông sản, thủy sản có điều kiện được vận chuyển nhanh hơn từ vùng nguyên liệu đến chợ đầu mối, cơ sở chế biến, kho lạnh, cảng và thị trường tiêu thụ. Doanh nghiệp có thể mở rộng địa bàn thu mua, rút ngắn thời gian quay vòng phương tiện và hạn chế tổn thất đối với hàng tươi sống. Đối với một vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản hàng hóa lớn nhưng sản phẩm có tính thời vụ và dễ hư hỏng, việc rút ngắn thời gian vận chuyển không chỉ giúp giảm chi phí mà còn góp phần bảo đảm chất lượng, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của hàng hóa.

Hệ thống sông Tiền, sông Hậu, cảng thủy nội địa, cảng biển và các sân bay tạo thêm sự lựa chọn trong tổ chức vận tải. Hạ tầng số hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng trồng, thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, giúp hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tiếp cận thị trường thuận tiện hơn. Sự kết nối bước đầu giữa giao thông, logistics và công nghệ số đang làm thay đổi cách thức tổ chức sản xuất và lưu thông hàng hóa trong một vùng có địa bàn rộng, mạng lưới sông ngòi dày đặc. Đây là chuyển biến quan trọng, bởi hạ tầng chỉ thật sự phát huy hiệu quả khi các phương thức vận tải, dữ liệu, sản xuất và thị trường được kết nối trong một hệ thống thống nhất.

Hạ tầng thủy lợi, năng lượng, viễn thông và hạ tầng xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Các công trình kiểm soát mặn, cấp nước, bảo vệ bờ sông, bờ biển góp phần bảo vệ sản xuất và dân cư trước hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở. Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, những công trình này không chỉ phục vụ sản xuất trước mắt mà còn góp phần bảo vệ không gian sinh tồn, sinh kế và khả năng phát triển lâu dài của cộng đồng dân cư.

Hệ thống điện, cáp quang và thông tin di động được mở rộng, tạo điều kiện để người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, học tập, khám, chữa bệnh và giao dịch từ xa. Mạng lưới đô thị, giáo dục, y tế cùng các dịch vụ thiết yếu tiếp tục phát triển; trong đó, Cần Thơ ngày càng thể hiện rõ vai trò trung tâm cung cấp dịch vụ cho toàn vùng. Những kết quả này cho thấy, hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội không tồn tại tách rời nhau. Hạ tầng phục vụ sản xuất phải đồng thời phục vụ con người; hiệu quả của một công trình không chỉ được đo bằng lưu lượng phương tiện hay khối lượng hàng hóa, mà còn bằng mức độ thuận tiện, an toàn và những cơ hội phát triển mà người dân được thụ hưởng.

Những chuyển biến trên tạo nền tảng vật chất để tổ chức lại không gian phát triển theo sáu tiểu vùng và bốn hành lang kinh tế được xác định tại Quyết định số 616/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Hạ tầng từng bước gắn tiểu vùng trung tâm với công nghiệp, đô thị và dịch vụ; vùng ven biển với chế biến, năng lượng và thủy sản; phía Tây với du lịch và kinh tế biển; vùng biên giới với logistics và thương mại cửa khẩu (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Như vậy, hạ tầng không chỉ kết nối các địa phương mà còn góp phần phân công lại chức năng phát triển, khai thác lợi thế bổ trợ giữa các tiểu vùng và hình thành những chuỗi giá trị có quy mô lớn hơn.

Trong bối cảnh đó, GRDP năm 2025 của năm địa phương trong vùng tăng từ 5,84% đến 8,39% (Cục Thống kê, 2026). Tăng trưởng kinh tế là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, không thể quy hoàn toàn cho đầu tư hạ tầng. Tuy nhiên, việc duy trì lưu thông, rút ngắn thời gian vận chuyển, mở rộng không gian kinh tế và cải thiện khả năng kết nối đã góp phần quan trọng tạo nền tảng cho phục hồi sản xuất, thu hút đầu tư và phát triển thương mại, dịch vụ. Điều này cho thấy, hạ tầng đang từng bước phát huy vai trò “đi trước mở đường”, tạo điều kiện để các nguồn lực của vùng được lưu chuyển và sử dụng hiệu quả hơn.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2025-2030 của các địa phương đều đặt phát triển kết cấu hạ tầng trong mối quan hệ trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng và chuyển đổi mô hình phát triển. Thành phố Cần Thơ xác định phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là giao thông, công nghệ thông tin, khu, cụm công nghiệp, cảng biển và cảng hàng không quốc tế, là một trong ba khâu đột phá; phấn đấu GRDP bình quân tăng 10-10,5%/năm và tỷ lệ đô thị hóa đạt từ 50% vào năm 2030 (Đảng bộ thành phố Cần Thơ, 2025). Tỉnh Vĩnh Long đặt mục tiêu GRDP bình quân tăng 10%/năm, kinh tế số chiếm 10,08% GRDP và 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới (Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long, 2025). Tỉnh Đồng Tháp đặt mục tiêu GRDP bình quân tăng từ 9%/năm, đến cuối nhiệm kỳ đạt từ 10% trở lên và huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bằng 33% GRDP (Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp, 2025). Tỉnh An Giang đặt mục tiêu GRDP bình quân tăng từ 11%/năm, GRDP bình quân đầu người trên 6.300 USD và tỷ lệ đô thị hóa trên 50% (Đảng bộ tỉnh An Giang, 2025). Tỉnh Cà Mau phấn đấu GRDP bình quân tăng từ 10%/năm, kinh tế số chiếm từ 20% GRDP và tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân bằng 40% GRDP (Đảng bộ tỉnh Cà Mau, 2025).

Các mục tiêu trên vừa thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng bộ các địa phương, vừa cho thấy yêu cầu phát triển hạ tầng trong giai đoạn mới đã cao hơn trước. Hạ tầng không chỉ phải đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển, mà còn phải tạo khả năng tiếp nhận những phương thức sản xuất mới, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển. Nói cách khác, hạ tầng phải thực sự đi trước một bước, nhưng “đi trước” không chỉ về tiến độ xây dựng mà còn về tầm nhìn quy hoạch, trình độ công nghệ, năng lực kết nối và hiệu quả phục vụ Nhân dân. Đây chính là giá trị sâu sắc nhất của những kết quả đã đạt được, đồng thời là nền tảng để vùng đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng trong thời gian tới.

2.2. Những hạn chế trong phát triển kết cấu hạ tầng vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Bên cạnh những kết quả đạt được, kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. So với tiềm năng và vai trò của vùng, hạ tầng vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn. Hạn chế không chỉ nằm ở quy mô đầu tư mà còn thể hiện ở chất lượng công trình, tính đồng bộ, khả năng kết nối và hiệu quả khai thác.

Tình trạng trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình thấp, nền đất yếu, mạng lưới sông ngòi dày đặc, suất đầu tư xây dựng cao và chịu tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Trong khi đó, nhu cầu phát triển hạ tầng rất lớn nhưng khả năng cân đối nguồn lực còn hạn chế. Về chủ quan, tư duy đầu tư ở một số nơi vẫn còn phân tán; phối hợp liên ngành, liên tỉnh chưa chặt chẽ; chất lượng chuẩn bị một số dự án chưa cao; việc quản trị, khai thác và bảo trì công trình sau đầu tư chưa được quan tâm đúng mức. Những hạn chế đó biểu hiện tập trung trên năm phương diện sau:

Một là, tính đồng bộ và liên thông của hệ thống hạ tầng chưa cao. Kết nối giữa đường bộ với đường thủy, cảng biển, kho lạnh, trung tâm logistics và vùng sản xuất còn hạn chế. Vì vậy, có nơi tuyến chính đã thông nhưng hàng hóa vẫn gặp khó ở những chặng đầu và chặng cuối; thời gian vận chuyển được rút ngắn nhưng chi phí logistics và tổn thất hàng hóa chưa giảm tương xứng. Hạn chế này phản ánh sự thiếu thống nhất giữa đầu tư công trình và tổ chức hệ thống.

Hai là, chất lượng và hiệu quả khai thác chưa thật sự trở thành thước đo xuyên suốt. Một số dự án còn thiếu đồng bộ về giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu, hạ tầng kết nối, tổ chức vận hành và bảo trì. Việc đánh giá kết quả có lúc còn thiên về tổng vốn đầu tư, số lượng công trình, tiến độ thi công và tỷ lệ giải ngân, trong khi chưa quan tâm đầy đủ đến mức độ sử dụng, độ an toàn, chi phí vận hành, khả năng thu hồi vốn và lợi ích thực tế mà người dân, doanh nghiệp nhận được.

Ba là, sự kết hợp giữa hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên chưa chặt chẽ. Dữ liệu về quy hoạch, giao thông, nguồn nước, đất đai, môi trường và tài sản công còn phân tán, thiếu liên thông. Công nghệ số chưa được ứng dụng rộng rãi trong quản lý vận tải, điều tiết giao thông, giám sát công trình, cảnh báo thiên tai và bảo trì hạ tầng. Điều này làm hạn chế khả năng dự báo, phối hợp và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình vận hành. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, thiên nhiên không chỉ là môi trường bao quanh công trình mà còn trực tiếp tham gia bảo vệ sản xuất, dân cư và sinh kế. Nếu quá chú trọng công trình cứng mà xem nhẹ hạ tầng tự nhiên và dữ liệu, khả năng thích ứng của vùng sẽ thấp; chi phí duy tu, chống ngập, chống sạt lở và khắc phục hậu quả thiên tai có thể ngày càng lớn.

Bốn là, đầu tư hạ tầng chưa tạo ra đầy đủ năng lực sản xuất mới và năng lực nội sinh cho vùng. Vùng tiếp nhận nhiều dự án hạ tầng lớn nhưng doanh nghiệp và người lao động tại chỗ chưa tham gia sâu vào quá trình tạo lập, vận hành và khai thác các công trình đó. Hạ tầng chủ yếu mới tạo thuận lợi cho lưu thông, trong khi chưa phát huy đầy đủ vai trò mở rộng thị trường cho doanh nghiệp địa phương, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất.

Năm là, cơ chế điều phối và huy động nguồn lực cho các công trình liên vùng chưa hoàn thiện. Việc cùng lựa chọn dự án, góp vốn, giám sát, quản lý khai thác và phân chia lợi ích giữa các địa phương chưa có cơ chế thật sự rõ ràng. Một số dự án có ý nghĩa liên vùng nhưng quá trình chuẩn bị và triển khai vẫn phụ thuộc nhiều vào khả năng cân đối nguồn lực và quyết tâm của từng địa phương.

Những hạn chế trên cho thấy điểm nghẽn của kết cấu hạ tầng đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là thiếu vốn hay thiếu công trình, mà sâu xa hơn còn nằm ở tư duy phát triển và phương thức tổ chức thực hiện. Vì vậy, đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng phải bắt đầu từ cách xác định mục tiêu, lựa chọn dự án, phân bổ và phối hợp nguồn lực đến quản trị, vận hành, bảo trì sau đầu tư. Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu công trình, mà là hệ thống hạ tầng đó đã giúp người dân đi lại thuận lợi hơn, doanh nghiệp giảm chi phí, hàng hóa lưu thông nhanh hơn, dịch vụ thiết yếu dễ tiếp cận hơn và năng lực phát triển của vùng được nâng lên như thế nào. Đây vừa là thước đo hiệu quả đầu tư, vừa là yêu cầu đặt ra đối với đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn mới.

3. Định hướng đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng vùng đồng bằng sông Cửu Long cần quán triệt quan điểm phát triển nhanh và bền vững, lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển; đồng thời, bám sát mục tiêu của năm tỉnh, thành phố và yêu cầu liên kết vùng. Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo, điều phối và đầu tư vào những công trình nền tảng; thị trường, doanh nghiệp và xã hội là những chủ thể quan trọng trong huy động nguồn lực, đổi mới công nghệ và tổ chức khai thác. Lợi ích của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả chung của toàn vùng phải trở thành chuẩn mực để lựa chọn, đánh giá các dự án. Trọng tâm là năm phương diện sau:

Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy đầu tư từng công trình sang phát triển một hệ thống hạ tầng đồng bộ, liên thông. Mỗi dự án cần được xem xét trong mối quan hệ với vùng sản xuất, đô thị, khu công nghiệp, cảng, logistics và thị trường; đầu tư tuyến chính phải đồng thời tính đến nút giao, đường gom, kho vận và các dịch vụ đi kèm. Quy hoạch của vùng cần được rà soát trong một chỉnh thể thống nhất, phát huy vai trò đô thị hạt nhân của Thành  phố Cần Thơ và lợi thế bổ trợ của các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau. Đối với dự án có tác động liên tỉnh, hiệu quả vùng phải được đặt cao hơn lợi ích cục bộ của từng địa phương.

Thứ hai, chuyển từ chú trọng quy mô đầu tư sang lấy chất lượng và hiệu quả kinh tế – xã hội làm mục tiêu. Hạ tầng cần được đo bằng những thay đổi cụ thể: thời gian đi lại được rút ngắn, chi phí logistics và tổn thất hàng hóa giảm, dịch vụ thiết yếu dễ tiếp cận hơn, năng suất và khả năng chống chịu được nâng lên. Chỉ quyết định đầu tư khi cơ bản bảo đảm các điều kiện về quy hoạch, đất đai, mặt bằng, nguồn vốn, vật liệu, công nghệ, nhân lực và hạ tầng kết nối. Đồng thời, cần quản trị công trình theo toàn bộ vòng đời, xác định rõ trách nhiệm vận hành, bảo trì và đánh giá hiệu quả sau đầu tư.

Thứ ba, phát triển hài hòa hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên. Giao thông, năng lượng, thủy lợi, đô thị và logistics cần được thiết kế gắn với dữ liệu không gian, cảm biến, hệ thống giám sát và cơ chế chia sẻ dữ liệu. Rừng ngập mặn, hành lang thoát lũ, vùng trữ nước, bãi bồi, kênh rạch và hệ sinh thái ven biển cần được xem là những cấu phần hạ tầng có chức năng bảo vệ sản xuất, dân cư và sinh kế. Cách tiếp cận này phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, góp phần giảm chi phí khắc phục hậu quả và nâng cao khả năng thích ứng lâu dài.

Thứ tư, gắn đầu tư hạ tầng với phát triển lực lượng sản xuất và năng lực nội sinh của vùng. Các chương trình giao thông, cảng biển, năng lượng, đô thị và hạ tầng số cần mở rộng thị trường cho doanh nghiệp xây dựng, cơ khí, vật liệu mới, thiết bị điện, tự động hóa, phần mềm và tư vấn vận hành. Đấu thầu và hợp tác quốc tế phải gắn với đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và phát triển doanh nghiệp tại chỗ. Khi đó, hạ tầng không chỉ tạo thuận lợi cho lưu thông mà còn trực tiếp góp phần nâng cao trình độ công nghệ, kỹ năng lao động và năng lực tổ chức sản xuất của vùng.

Thứ năm, phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt của Nhà nước, đồng thời hoàn thiện cơ chế điều phối vùng và huy động nguồn lực xã hội. Đầu tư công cần tập trung vào các công trình nền tảng, thiết yếu, liên vùng, có sức lan tỏa lớn; những dự án có khả năng thu hồi vốn cần được chuẩn bị minh bạch để thu hút nguồn lực tư nhân và vốn dài hạn. Đối với công trình liên tỉnh, cần xây dựng danh mục ưu tiên chung, kế hoạch vốn liên kết, cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ chế cùng quyết định, cùng giám sát, phân chia hợp lý lợi ích.

4. Kết luận

Đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng phải xuất phát từ yêu cầu phát triển chung của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, khắc phục cách làm phân tán, khép kín theo địa giới hành chính. Hạ tầng không chỉ “đi trước mở đường” mà phải tạo lập không gian phát triển mới, kết nối các yếu tố của lực lượng sản xuất và phục vụ thiết thực đời sống nhân dân. Khi bảo đảm đồng bộ, liên thông, thích ứng và lấy hiệu quả vùng làm thước đo, kết cấu hạ tầng sẽ trở thành nền tảng quan trọng để đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2012). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2024). Kết luận số 72-KL/TW ngày 23/02/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025. Bộ Tài chính.
Đảng bộ thành phố Cần Thơ (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Đảng bộ tỉnh An Giang (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2025). Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 17/10/2025 của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đinh Văn Thụy (2025). Xây dựng, phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Triết học, 2 (398).
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 616/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.