Solutions for developing green tourism linked to ethnic minority communities in Dak Lak province
ThS. Bùi Thị Ngọc Trâm
Trường Du lịch, Đại học Huế
Lương Hữu Nhật Khang
Trường Thương mại Quốc tế, Bắc Ninh
TS. Thân Trọng Thụy
Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh
Email: thantrongthuysg@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch xanh gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích tài liệu, phân tích chính sách và nghiên cứu trường hợp, bài viết chỉ ra một nghịch lý cốt lõi: mặc dù tỉnh đã có khung chính sách tương đối đầy đủ và du lịch tăng trưởng nhanh về lượng, năm 2024 đón 1,5 triệu lượt khách với tổng thu 1.255 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm 2023, nhưng du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số vẫn ở giai đoạn sơ khai, tự phát. Đến tháng 10/2024, toàn tỉnh mới có 4 trên 16 buôn được quy hoạch và công nhận là buôn du lịch cộng đồng; ngay tại buôn điểm Akô Dhông cũng chỉ có 6 trên 64 hộ người Ê Đê tham gia cung cấp dịch vụ. Trên nền tảng lý thuyết trao quyền cộng đồng của Scheyvens (1999), lý thuyết các bên liên quan, khung sinh kế bền vững và kinh nghiệm từ các mô hình trong nước và quốc tế, bài viết đề xuất bảy nhóm giải pháp được tổ chức theo ba trụ cột: thể chế và quy hoạch; trao quyền và chia sẻ lợi ích; sản phẩm và nguồn lực, cùng lộ trình triển khai ba giai đoạn đến năm 2030 kèm các chỉ báo theo dõi cụ thể.
Từ khóa: Du lịch xanh; du lịch cộng đồng; dân tộc thiểu số; trao quyền cộng đồng; chia sẻ lợi ích; Đắk Lắk.
Abstract: This paper analyses the current situation and proposes a system of solutions for developing green tourism in association with ethnic minority communities in Dak Lak province, Vietnam. Employing qualitative methods combining documentary analysis, policy analysis and case studies, the paper identifies a core paradox: despite a relatively comprehensive policy framework and rapid growth in tourist volume 1.5 million arrivals and total tourism receipts of VND 1,255 billion in 2024, up more than 21% year-on-year community-based tourism in ethnic minority areas remains rudimentary and spontaneous. As of October 2024, only 4 of 16 planned hamlets had been recognized as community-based tourism villages, and even in the flagship village of Ako Dhong, merely 6 of 64 Ede households provide tourism services. Drawing on Scheyvens’ (1999) community empowerment framework, stakeholder theory, the sustainable livelihoods framework, and lessons from domestic and international models, the paper proposes seven groups of solutions organized around three pillars institutions and planning; empowerment and benefit sharing; products and human resources together with a three-phase implementation roadmap to 2030 and specific monitoring indicators.
Keywords: Green tourism, community-based tourism, ethnic minorities, community empowerment, benefit sharing, Dak Lak.
1. Đặt vấn đề
Thực tiễn ở Đắk Lắk đang bộc lộ một nghịch lý đáng chú ý. Về mặt tăng trưởng, du lịch tỉnh phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch: năm 2024 đón khoảng 1,5 triệu lượt khách với tổng thu 1.255 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm 2023, lượng khách quốc tế tăng hơn 34%. Về mặt chính sách, tỉnh đã ban hành hệ thống văn bản tương đối đầy đủ, từ Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND ngày 13/8/2021 về hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số, đến Đề án số 08-ĐA/TU của Tỉnh ủy về phát triển du lịch giai đoạn 2021–2025 và Quy hoạch tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 30/12/2023. Tuy nhiên, kết quả trên thực tế còn khiêm tốn. Đến tháng 10/2024, trong số 16 thôn, buôn được quy hoạch phát triển du lịch cộng đồng, mới có 4 buôn được công nhận. Đáng chú ý hơn, tại buôn Akô Dhông – buôn du lịch cộng đồng đầu tiên và được xem là mô hình điểm của tỉnh cho đến nay mới chỉ có 6 trên tổng số 64 hộ người Ê Đê tham gia cung cấp dịch vụ du lịch, và đây cũng chính là những hộ đã làm du lịch từ trước khi buôn được công nhận. Nói cách khác, việc công nhận danh hiệu chưa tạo ra chuyển biến thực chất về mức độ tham gia của cộng đồng.
Khoảng cách giữa tiềm năng, chính sách và thực thi chính là vấn đề trung tâm bài viết hướng tới giải quyết. Bài viết đặt ra ba mục tiêu: phân tích thực trạng phát triển du lịch xanh và du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk, nhận diện các điểm nghẽn; rút kinh nghiệm từ các mô hình du lịch cộng đồng thành công trong nước và quốc tế; đề xuất hệ thống giải pháp có cơ sở lý thuyết và thực tiễn, kèm lộ trình và chỉ báo theo dõi.
2. Cơ sở lý luận và khung phân tích giải pháp
2.1. Trao quyền cộng đồng – nền tảng lý thuyết chủ đạo
Scheyvens (1999) đề xuất khung phân tích trao quyền cộng đồng trong du lịch sinh thái gồm bốn chiều: trao quyền kinh tế (cộng đồng thu được lợi ích tài chính ổn định và được phân phối công bằng), trao quyền tâm lý (cộng đồng tự hào về văn hóa và tài nguyên của mình), trao quyền xã hội (du lịch củng cố sự gắn kết và các thiết chế cộng đồng) và trao quyền chính trị (cộng đồng có tiếng nói thực chất trong các quyết định liên quan). Khung này đặc biệt phù hợp để chẩn đoán trường hợp Đắk Lắk, nơi trao quyền kinh tế được chú trọng thông qua hỗ trợ tài chính nhưng ba chiều còn lại chưa được quan tâm tương xứng.
Arnstein (1969) với thang bậc tham gia của người dân và Pretty (1995) với hệ thống phân loại các hình thức tham gia cung cấp công cụ đánh giá mức độ tham gia thực chất: từ tham gia mang tính hình thức (được thông báo, được tham vấn) đến tham gia thực chất (đồng ra quyết định, kiểm soát). Boley và McGehee (2014) phát triển thang đo trao quyền cư dân thông qua du lịch, cho phép đo lường định lượng khái niệm này.
2.2. Các khung lý thuyết bổ trợ
Lý thuyết các bên liên quan và quản trị hợp tác. Freeman (1984) cho rằng, tổ chức phải cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan. Jamal và Getz (1995) vận dụng lý thuyết hợp tác vào quy hoạch du lịch cộng đồng, chỉ ra rằng hiệu quả phụ thuộc vào việc thiết lập cơ chế đối thoại giữa chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng – điều còn thiếu tại nhiều buôn của Đắk Lắk khi doanh nghiệp bên ngoài chi phối phần lớn chuỗi giá trị.
Khung sinh kế bền vững và du lịch vì người nghèo. Khung sinh kế bền vững (DFID, 1999) phân tích năm loại vốn của hộ gia đình: vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính. Ashley, Roe và Goodwin (2001) cùng Mitchell và Ashley (2010) phát triển tiếp cận chuỗi giá trị du lịch vì người nghèo, tập trung vào việc tăng tỷ trọng giá trị gia tăng ở lại cộng đồng và giảm rò rỉ kinh tế.
Năng lực tải và vòng đời điểm đến. Butler (1980) mô tả vòng đời điểm đến du lịch qua các giai đoạn thăm dò, tham gia, phát triển, củng cố, đình trệ và suy thoái hoặc tái sinh. Khái niệm năng lực tải du lịch là công cụ cần thiết để tránh đưa các buôn nhỏ vào giai đoạn suy thoái do quá tải, đặc biệt trong mùa lễ hội.
Tính xác thực và thương mại hóa văn hóa. MacCannell (1973) cảnh báo hiện tượng tính xác thực dàn dựng, khi văn hóa bản địa được trình diễn theo kỳ vọng của du khách. Cohen (1988) phân tích quá trình thương mại hóa văn hóa có thể làm suy giảm giá trị nội tại của di sản. Đây là rủi ro trực tiếp đối với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và nghi lễ truyền thống của người Ê Đê, M’nông.
2.3. Khung phân tích giải pháp
Bài viết xây dựng khung phân tích giải pháp gồm ba trụ cột: (1) thể chế và quy hoạch; (2) trao quyền và chia sẻ lợi ích; (3) sản phẩm và nguồn lực, với nền tảng xuyên suốt là bảo tồn văn hóa và chống thương mại hóa. Khung này được trình bày chi tiết tại phần 6 và minh họa tại Hình 3.
3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với ba kỹ thuật chính: phân tích tài liệu thứ cấp từ báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Cổng thông tin điện tử tỉnh, các báo cáo chuyên ngành và công trình khoa học đã công bố; phân tích chính sách đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo ở cấp quốc gia và cấp tỉnh nhằm đánh giá mức độ đầy đủ của khung chính sách và khoảng cách giữa thiết kế chính sách với kết quả thực thi; nghiên cứu trường hợp đối với ba mô hình tiêu biểu: buôn Akô Dhông (du lịch cộng đồng), mô hình du lịch thân thiện với voi (chuyển đổi xanh) và các mô hình tham chiếu trong nước, quốc tế.
Cần nêu rõ một giới hạn về dữ liệu: hiện chưa có số liệu thống kê chính thức và cập nhật về tổng số cơ sở lưu trú, tổng số lao động ngành du lịch và đặc biệt là tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số trong ngành du lịch của tỉnh. Đây vừa là hạn chế của nghiên cứu, vừa là một phát hiện có ý nghĩa chính sách sẽ được đề cập tại phần giải pháp.
4. Thực trạng phát triển du lịch xanh gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk
4.1. Quy mô và động lực tăng trưởng
Du lịch Đắk Lắk tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2023–2025 (Bảng 1 và Hình 1). Từ 1.160.000 lượt khách với tổng thu 925 tỷ đồng năm 2023, tỉnh đạt 1,5 triệu lượt khách và 1.255 tỷ đồng năm 2024. Riêng quý I/2025, tỉnh đón hơn 700.000 lượt khách với doanh thu vượt 600 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ.
Bảng 1. Diễn biến khách và tổng thu du lịch Đắk Lắk, 2023–2025 và mục tiêu giai đoạn 2026–2030
| Chỉ tiêu | 2023 (thực hiện) | 2024 (thực hiện) | 2025 (mục tiêu) | 2026–2030 (mục tiêu) |
| Tổng lượt khách | 1.160.000 | 1.500.000 | ~1.600.000 | 43 triệu (cả giai đoạn) |
| Khách quốc tế | 30.240 | ~40.000 (+34%) | 50.000 | – |
| Tổng thu (tỷ đồng) | 925 | 1.255 (+21%) | 1.350 | > 97.000 (cả giai đoạn) |

Tuy nhiên, cần nhận diện đúng bản chất của tăng trưởng này. Mức tăng đột biến quý I/2025 chủ yếu đến từ chuỗi sự kiện kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột và Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 (tổ chức 9-13/3/2025, thu hút khoảng 250.000 lượt du khách, trong đó 1.800 khách quốc tế), chứ không phải từ hệ thống sản phẩm du lịch cộng đồng vận hành ổn định quanh năm. Đây là dấu hiệu của mô hình tăng trưởng phụ thuộc sự kiện, mang tính mùa vụ cao và dễ tổn thương – một đặc điểm cần được khắc phục bằng hệ thống sản phẩm nền tảng.
4.2. Thực trạng du lịch cộng đồng tại các buôn làng dân tộc thiểu số
Tỉnh Đắk Lắk đã quy hoạch 16 thôn, buôn phát triển du lịch cộng đồng. Đến tháng 10/2024, có 4 buôn được công nhận gồm Akô Dhông và Tơng Jú (thành phố Buôn Ma Thuột), buôn Trí (Buôn Đôn) và buôn Kuốp (Krông Ana); kế hoạch tiếp tục công nhận buôn Tuôr, Kli A và Jun. Kết quả hỗ trợ theo Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND được trình bày tại Bảng 2 và Hình 2.
Bảng 2. Kết quả hỗ trợ các buôn du lịch cộng đồng theo Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND
| Buôn | Năm hỗ trợ | Hạng mục và số hộ được hỗ trợ | Kinh phí (đồng) |
| Akô Dhông | 2022 | 10/12 hạng mục, 5 hộ | Hơn 716 triệu |
| Kuốp | 2023 | 12/12 hạng mục, 4 hộ | Hơn 793 triệu |
| Trí | 2023 | 12/12 hạng mục, 5 hộ | Hơn 920 triệu |
| Tuôr | 2024 | 12/12 hạng mục, 4 hộ | Hơn 874 triệu |
| Kli A | 2024 | 12/12 hạng mục, 4 hộ | Hơn 878 triệu |

Số liệu tại Bảng 2 và Hình 2 làm lộ rõ điểm nghẽn cốt lõi: mỗi buôn chỉ có 4–5 hộ được hỗ trợ trực tiếp với kinh phí dưới 1 tỷ đồng. Quy mô này quá nhỏ để tạo hiệu ứng lan tỏa trong một buôn có hàng chục đến hàng trăm hộ. Hệ quả là tỷ lệ tham gia rất thấp: tại buôn Akô Dhông mới có 6 trên 64 hộ người Ê Đê tham gia cung cấp dịch vụ du lịch và đây chính là những hộ đã làm du lịch từ trước khi buôn được công nhận.
Nguyên nhân sâu xa không chỉ nằm ở nguồn lực tài chính. Đề án bảo tồn nhà dài triển khai từ năm 2018 không thu hút được người dân do hai lo ngại: sợ rơi vào tình trạng phụ thuộc vào Nhà nước và lo mất quyền riêng tư của gia đình. Đây là biểu hiện điển hình của tình trạng thiếu trao quyền tâm lý và trao quyền chính trị theo khung của Scheyvens (1999): người dân được nhận hỗ trợ vật chất nhưng không được tham gia thực chất vào quá trình thiết kế và ra quyết định, dẫn đến tâm lý thụ động và hoài nghi. Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch cộng đồng còn trùng lặp và thiếu bản sắc riêng giữa các buôn. Giới chuyên môn nhận định du lịch cộng đồng khu vực Tây Nguyên còn thiếu ý tưởng và rập khuôn, nơi nào cũng tương tự nhau. Cùng với những hạn chế về kỹ năng nghiệp vụ, ngoại ngữ và tiềm lực tài chính của hộ dân, tình trạng này dẫn tới rò rỉ kinh tế khi doanh nghiệp lữ hành bên ngoài chi phối phần lớn giá trị gia tăng của chuỗi.
4.3. Ba trụ cột tài nguyên du lịch xanh và tình trạng khai thác rời rạc
Đắk Lắk sở hữu ba trụ cột tài nguyên có thể tạo nên bản sắc du lịch xanh mang tầm quốc gia (Bảng 3).
Bảng 3. Ba trụ cột tài nguyên du lịch xanh của tỉnh Đắk Lắk
| Trụ cột | Quy mô và đặc điểm | Giá trị du lịch xanh |
| Rừng và đa dạng sinh học | Vườn quốc gia Yok Đôn 115.545 ha (rừng khộp duy nhất Việt Nam, 1.006 loài thực vật, 650 loài động vật); Vườn quốc gia Chư Yang Sin 58.947 ha (876 loài thực vật, 143 loài đặc hữu) | Du lịch xem voi trong môi trường tự nhiên, trekking, giáo dục bảo tồn |
| Cà phê bền vững | 212.106 ha; sản lượng niên vụ 2023–2024 đạt 535.672 tấn; khoảng 66.200 ha có chứng nhận bền vững; vùng trồng đạt chứng nhận 4C-EUDR đầu tiên thế giới | Du lịch nông nghiệp, tham quan trang trại, cà phê đặc sản |
| Di sản văn hóa | Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (UNESCO ghi danh); nhà dài, dệt thổ cẩm, rượu cần của người Ê Đê, M’nông | Trải nghiệm văn hóa bản địa, nghệ thuật trình diễn dân gian |
Trường hợp mô hình du lịch thân thiện với voi minh họa rõ nhất cả tiềm năng và thách thức của chuyển đổi xanh. Dự án chuyển đổi mô hình du lịch cưỡi voi sang du lịch thân thiện với voi được Tổ chức Động vật Châu Á tài trợ 55,452 tỷ đồng, thực hiện từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2026. Tính cấp thiết của chuyển đổi thể hiện qua mức suy giảm đàn voi nhà: từ khoảng 500 cá thể năm 1985 xuống chỉ còn 35 cá thể hiện nay, tập trung chủ yếu tại hai địa bàn Buôn Đôn và Lắk.
Về tiến độ, Trung tâm Du lịch Cầu Treo Buôn Đôn đã triển khai mô hình thân thiện từ tháng 02/2023 đến 2025. Các đơn vị tại Buôn Đôn hầu như đã ngừng hoạt động cưỡi voi. Tuy vậy, tỉnh chưa chấm dứt hoàn toàn hoạt động này; cam kết đặt ra là sau năm 2026. Một số chủ voi phản ánh tình trạng chậm được hỗ trợ bù đắp thu nhập. Đây là bài học quan trọng: chuyển đổi xanh chỉ bền vững khi cơ chế bù đắp sinh kế cho các chủ thể chịu tác động – phần lớn là chủ voi và nài voi người M’nông, Ê Đê – được thực hiện kịp thời và minh bạch.
Hạn chế chung của cả ba trụ cột là đang được khai thác rời rạc, chưa được tích hợp thành chuỗi trải nghiệm liên hoàn có cơ chế chia sẻ lợi ích cho cộng đồng dân tộc thiểu số. Du khách đến xem voi, tham quan vườn cà phê và thưởng thức cồng chiêng như những hoạt động độc lập, thay vì trải nghiệm một câu chuyện du lịch xanh thống nhất.
4.4. Bối cảnh sáp nhập tỉnh: cơ hội và rủi ro
Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Phú Yên hợp nhất với Đắk Lắk theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025, hình thành tỉnh mới vừa có rừng vừa có biển. Về quy mô, năm 2024 Phú Yên đón 4.080.000 lượt khách với tổng thu 8.049,7 tỷ đồng, tăng 63,6% so với cùng kỳ; hệ thống lưu trú gồm 480 cơ sở với 7.980 buồng, trong đó khoảng 670 buồng đạt chuẩn 3-5 sao. Bờ biển dài 189 km tạo điều kiện hình thành sản phẩm liên hoàn biển – rừng. Tuy nhiên, cần nhận diện rủi ro đi kèm. Quy mô du lịch biển của Phú Yên trước đây lớn hơn nhiều lần so với Đắk Lắk cả về lượt khách lẫn doanh thu. Điều này tạo nguy cơ pha loãng nguồn lực và sự chú ý chính sách dành cho các buôn dân tộc thiểu số ở cao nguyên – vốn có sức cạnh tranh thị trường yếu hơn. Do đó, hệ thống giải pháp phải bảo đảm du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số được định vị là sản phẩm khác biệt hóa cốt lõi của tỉnh, chứ không bị lấn át bởi du lịch biển đã trưởng thành.
5. Hệ thống giải pháp phát triển du lịch xanh gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số
Để có căn cứ đề xuất giải pháp, bài viết khảo sát các mô hình du lịch cộng đồng thành công (Bảng 4).
Bảng 4. So sánh các mô hình du lịch cộng đồng tham chiếu
| Mô hình | Cơ chế cốt lõi | Bài học cho Đắk Lắk |
| Thái Hải (Thái Nguyên) | Cộng đồng Tày – Nùng tự quản, chia sẻ lợi ích tập thể theo nguyên tắc cộng đồng | Được UNWTO vinh danh Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2022, đại diện duy nhất của Đông Nam Á; chứng minh mô hình cộng đồng tự quản có thể đạt chuẩn quốc tế |
| Mae Kampong (Thái Lan) | Hợp tác xã du lịch cộng đồng; khoảng 20 homestay trên 130 hộ; lợi nhuận trích vào quỹ cộng đồng | Cơ chế hợp tác xã kết hợp quỹ tái đầu tư là công cụ hiệu quả chống rò rỉ kinh tế |
| CBT Thailand (DASTA) | Bộ tiêu chí du lịch cộng đồng cấp quốc gia | Bộ tiêu chí du lịch cộng đồng đầu tiên trên thế giới được Hội đồng Du lịch bền vững toàn cầu công nhận; mô hình để xây dựng bộ tiêu chí cấp tỉnh |
| Bhutan | Chiến lược giá trị cao – lượng khách thấp; thu phí phát triển bền vững | Kiểm soát năng lực tải, ưu tiên chất lượng thay vì số lượng |
| ACAP (Nepal), CST (Costa Rica) | Phí bảo tồn chia sẻ cho cộng đồng; hệ thống chứng nhận bền vững | Cơ chế chia sẻ doanh thu và chứng nhận xanh có thể áp dụng cho vùng đệm vườn quốc gia |
Điểm chung của các mô hình thành công là ba yếu tố mà Đắk Lắk hiện còn thiếu. Thứ nhất, cộng đồng không chỉ tham gia mà thực sự sở hữu và quản trị hoạt động du lịch, tương ứng với nấc cao trong thang bậc tham gia của Arnstein (1969). Thứ hai, tồn tại cơ chế quỹ chung và chia sẻ lợi ích minh bạch, bảo đảm phần lớn giá trị gia tăng ở lại cộng đồng. Thứ ba, hoạt động được gắn với bộ tiêu chí xanh có thể được đo lường và kiểm chứng độc lập.
(1) Quy hoạch tích hợp và kiểm soát năng lực tải. Xây dựng quy hoạch du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số tích hợp trong Quy hoạch tỉnh theo Quyết định số 1747/QĐ-TTg, tổ chức theo ba cụm chuyên đề nhằm khắc phục tình trạng sản phẩm trùng lặp: cụm Buôn Ma Thuột với chủ đề cà phê và cồng chiêng; cụm Buôn Đôn – Yok Đôn với chủ đề voi thân thiện và rừng khộp; cụm hồ Lắk – Chư Yang Sin với chủ đề văn hóa M’nông và sinh thái. Đồng thời, áp dụng chỉ số năng lực tải du lịch theo Butler (1980) cho từng buôn, quy định số lượng khách tối đa mỗi ngày và trong mùa cao điểm, nhằm tránh đưa các buôn nhỏ vào giai đoạn suy thoái do quá tải.
(2) Áp dụng bộ tiêu chí xanh chuẩn quốc tế. Triển khai Nhãn Du lịch bền vững Bông sen xanh theo Quyết định số 1355/QĐ-BVHTTDL cho các cơ sở lưu trú trên địa bàn. Cần lưu ý rằng hiện không có số liệu công khai về số cơ sở đã được cấp nhãn tại Đắk Lắk cũng như trên cả nước, phản ánh việc công cụ chứng nhận xanh này chưa được triển khai rộng rãi và cần được kích hoạt lại.
Xây dựng bộ tiêu chí du lịch cộng đồng cấp tỉnh theo mô hình CBT Thailand, tham chiếu Bộ tiêu chí điểm đến của Hội đồng Du lịch Bền vững toàn cầu (bốn trụ cột: quản lý bền vững, kinh tế – xã hội, văn hóa và môi trường) cùng Bộ tiêu chuẩn du lịch cộng đồng ASEAN. Bộ tiêu chí này vừa là công cụ quản lý chất lượng, vừa là cơ sở để công nhận du lịch cộng đồng một cách thực chất thay vì mang tính hình thức.
(3) Trao quyền cộng đồng theo bốn chiều. Đây là nhóm giải pháp then chốt nhằm khắc phục trực tiếp điểm nghẽn tỷ lệ tham gia thấp. Theo khung Scheyvens (1999), cần triển khai đồng bộ bốn chiều.
Trao quyền kinh tế: thiết kế cơ chế bảo đảm tối thiểu 60-70% giá trị gia tăng của chuỗi du lịch ở lại cộng đồng; mở rộng diện hộ được hỗ trợ thay vì chỉ tập trung vào 4–5 hộ mỗi buôn như hiện nay.
Trao quyền tâm lý: xử lý trực tiếp nỗi lo phụ thuộc vào Nhà nước và mất quyền riêng tư thông qua tham vấn cộng đồng trước khi thiết kế đề án, tôn trọng quyền từ chối của hộ dân – bài học rút ra từ thất bại của đề án bảo tồn nhà dài.
Trao quyền xã hội: củng cố các thiết chế cộng đồng như đội cồng chiêng, tổ dệt thổ cẩm, câu lạc bộ văn hóa dân gian, gắn với nguồn lực từ Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trao quyền chính trị: để cộng đồng bầu ra ban quản lý buôn du lịch cộng đồng có thẩm quyền thực chất trong quyết định giá dịch vụ, phân chia lượt đón khách và sử dụng quỹ chung – tương ứng nấc cao trong thang bậc tham gia của Arnstein (1969).
(4) Chỉ báo theo dõi: nâng tỷ lệ hộ tham gia cung cấp dịch vụ tại mỗi buôn điểm từ mức dưới 10% hiện nay lên tối thiểu 30% trong vòng ba năm.
(5) Hợp tác xã du lịch và cơ chế chia sẻ lợi ích. Nhân rộng mô hình hợp tác xã du lịch cộng đồng theo kinh nghiệm Mae Kampong: thành lập hợp tác xã tại mỗi buôn, trích một tỷ lệ phần trăm doanh thu vào quỹ cộng đồng để tái đầu tư hạ tầng và hoạt động bảo tồn. Cơ chế này vừa chống rò rỉ kinh tế, vừa bảo đảm cả những hộ không trực tiếp kinh doanh vẫn được hưởng lợi, qua đó mở rộng cơ sở ủng hộ trong cộng đồng.
Đối với các vườn quốc gia Yok Đôn và Chư Yang Sin, xây dựng hợp đồng nhượng quyền dịch vụ du lịch sinh thái có điều khoản bắt buộc về chia sẻ doanh thu cho cộng đồng vùng đệm, theo kinh nghiệm của Dự án Khu bảo tồn Annapurna (Nepal). Đồng thời áp dụng tiếp cận chuỗi giá trị du lịch vì người nghèo (Ashley và cộng sự, 2001) để xác định các điểm can thiệp có hiệu quả cao nhất trong chuỗi.
(6) Đóng gói chuỗi sản phẩm du lịch xanh đặc thù. Tích hợp ba trụ cột tài nguyên thành tuyến trải nghiệm xanh liên hoàn: xem voi trong môi trường tự nhiên tại Yok Đôn và Buôn Đôn, tham quan trang trại cà phê bền vững có chứng nhận 4C-EUDR, và trải nghiệm không gian nhà dài, cồng chiêng tại buôn làng. Câu chuyện xuyên suốt là hành trình từ khai thác sang bảo tồn — một thông điệp có sức thuyết phục cao với thị trường khách quốc tế quan tâm đến du lịch có trách nhiệm.
Trong bối cảnh sáp nhập, phát triển tuyến kết nối biển – rừng với địa bàn Phú Yên trước đây, tạo sản phẩm đại ngàn – biển xanh có tính độc đáo cao trong khu vực.
(7) Điều kiện tiên quyết: hoàn tất chấm dứt hoạt động cưỡi voi đúng cam kết sau năm 2026 và bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp thời khoản bù đắp thu nhập cho chủ voi, nài voi trước thời điểm chấm dứt. Nếu không, chuyển đổi xanh sẽ tạo ra tổn thất sinh kế và làm suy giảm sự ủng hộ của chính cộng đồng. Đào tạo kỹ năng nghiệp vụ du lịch, ngoại ngữ và chuyển đổi số cho lao động là người dân tộc thiểu số; ưu tiên đào tạo và cấp thẻ hướng dẫn viên tại điểm cho người bản địa, bởi chính họ là người kể câu chuyện văn hóa một cách xác thực nhất.
Tuy nhiên, trước khi triển khai, cần thiết lập hệ thống thống kê về lao động ngành du lịch và tỷ lệ lao động là người dân tộc thiểu số, hiện đang là khoảng trống dữ liệu. Không có số liệu nền, mọi mục tiêu về việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số đều không thể đo lường và đánh giá.
(8) Bảo tồn văn hóa và phòng ngừa thương mại hóa. Thiết lập nguyên tắc trình diễn văn hóa dựa trên đồng thuận của cộng đồng: các nghi lễ mang tính thiêng không được biến thành tiết mục biểu diễn theo yêu cầu; cộng đồng có quyền quyết định nội dung nào được chia sẻ với du khách và theo hình thức nào. Nguyên tắc này nhằm phòng ngừa hiện tượng tính xác thực dàn dựng (MacCannell, 1973) và thương mại hóa văn hóa (Cohen, 1988). Đồng thời, lồng ghép nguồn lực từ Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, Đắk Lắk được phân bổ 104.621 triệu đồng và đã thành lập 12 câu lạc bộ văn hóa dân gian để duy trì lễ hội, cồng chiêng và nghề thủ công truyền thống như một sinh kế thực chất, chứ không chỉ là hoạt động trình diễn phục vụ du lịch.
Các ngưỡng điều chỉnh chiến lược.Thứ nhất, nếu một buôn vượt ngưỡng năng lực tải trong mùa cao điểm hoặc mức độ hài lòng của cư dân suy giảm, cần chủ động giãn khách và tăng phí thay vì tiếp tục mở rộng quy mô. Thứ hai, nếu sau ba năm tỷ lệ hộ tham gia tại buôn điểm vẫn dưới 20%, cần rà soát lại toàn bộ cơ chế trao quyền thay vì tiếp tục tăng hỗ trợ tài chính đơn thuần bởi vấn đề khi đó không nằm ở nguồn lực mà ở thiết kế thể chế. Thứ ba, nếu xuất hiện dấu hiệu xung đột trong cộng đồng về phân phối lợi ích, cần tạm dừng mở rộng để củng cố cơ chế quỹ chung và đối thoại.
6. Kết luận
Thứ nhất, vấn đề của Đắk Lắk không nằm ở sự thiếu vắng chính sách hay tài nguyên, mà ở khoảng cách giữa việc thiết kế chính sách và kết quả thực thi. Tỉnh có khung chính sách tương đối đầy đủ và ba trụ cột tài nguyên du lịch xanh có tầm vóc quốc gia, nhưng mới có 4 trên 16 buôn quy hoạch được công nhận và tỷ lệ hộ tham gia tại buôn điểm chỉ đạt khoảng 9%.
Thứ hai, nguyên nhân cốt lõi của khoảng cách này là tình trạng trao quyền phiến diện: chính sách tập trung vào trao quyền kinh tế thông qua hỗ trợ tài chính cho một số ít hộ, trong khi ba chiều còn lại theo khung Scheyvens (1999) trao quyền tâm lý, xã hội và chính trị chưa được quan tâm tương xứng. Thất bại của đề án bảo tồn nhà dài do người dân lo ngại phụ thuộc và mất quyền riêng tư là minh chứng rõ nét.
Thứ ba, giải pháp không thể chỉ là tăng nguồn lực tài chính mà phải là tái thiết kế thể chế theo hướng đưa cộng đồng từ vị thế đối tượng thụ hưởng sang vị thế chủ thể sở hữu và quản trị. Ba yếu tố then chốt rút ra từ các mô hình thành công là cộng đồng sở hữu và quản trị, cơ chế quỹ chung chia sẻ lợi ích minh bạch, và bộ tiêu chí xanh có thể đo lường.
Tài liệu tham khảo:
Arnstein, S. R. (1969). A ladder of citizen participation. Journal of the American Institute of Planners, 35(4), 216–224.
Ashley, C., Roe, D., & Goodwin, H. (2001). Pro-poor tourism strategies: Making tourism work for the poor. London: ODI, IIED and CRT.
Boley, B. B., & McGehee, N. G. (2014). Measuring empowerment: Developing and validating the Resident Empowerment through Tourism Scale (RETS). Tourism Management, 45, 85–94.
Butler, R. W. (1980). The concept of a tourist area cycle of evolution: Implications for management of resources. Canadian Geographer, 24(1), 5–12.
Cohen, E. (1988). Authenticity and commoditization in tourism. Annals of Tourism Research, 15(3), 371–386.
DFID (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets. London: Department for International Development.
Freeman, R. E. (1984). Strategic management: A stakeholder approach. Boston: Pitman.
Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2021). Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND ngày 13/8/2021 về hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021–2025.
Jamal, T. B., & Getz, D. (1995). Collaboration theory and community tourism planning. Annals of Tourism Research, 22(1), 186–204.
MacCannell, D. (1973). Staged authenticity: Arrangements of social space in tourist settings. American Journal of Sociology, 79(3), 589–603.
Mitchell, J., & Ashley, C. (2010). Tourism and poverty reduction: Pathways to prosperity. London: Earthscan.
Pretty, J. N. (1995). Participatory learning for sustainable agriculture. World Development, 23(8), 1247–1263.
Quốc hội (2017). Luật Du lịch số 09/2017/QH14.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Scheyvens, R. (1999). Ecotourism and the empowerment of local communities. Tourism Management, 20(2), 245–249.
Scheyvens, R., & van der Watt, H. (2021). Tourism, empowerment and sustainable development: A new framework for analysis. Sustainability, 13(22), 12606.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk (2024, 2025). Báo cáo kết quả hoạt động du lịch. Đắk Lắk.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 30/12/2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tỉnh ủy Đắk Lắk (2022). Đề án số 08-ĐA/TU ngày 28/3/2022 về phát triển du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012). Quyết định số 1355/QĐ-BVHTTDL ngày 12/4/2012 ban hành Bộ tiêu chí Nhãn Du lịch bền vững Bông sen xanh áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch tại Việt Nam.



