Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong phát triển con người ở Việt Nam

Applying Ho Chi Minh’s thought on social equity to human development in Vietnam

NCS. Lê Thị Ngọc Nữ
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Email: hoaingoc165@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội là nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người, hướng tới bảo đảm quyền con người và tạo điều kiện để mọi người phát triển toàn diện. Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và triển khai Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, việc vận dụng tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển con người ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, bài viết làm rõ sự vận dụng của Đảng và Nhà nước trong việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách phát triển con người theo hướng bao trùm, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, an sinh xã hội và các nguồn lực phát triển. Đồng thời, bài viết đề xuất yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chính sách công bằng xã hội nhằm phát huy nguồn lực con người, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; công bằng xã hội; phát triển con người; Đại hội XIV; phát triển bền vững.

Abstract: Ho Chi Minh’s thought on social equity is an important content in his ideological system, aiming to guarantee human rights and create conditions for the comprehensive development of every individual. In the context of accelerating digital transformation, international integration, and implementing the Documents of the 14th National Party Congress, applying this thought is highly significant for human development in Vietnam. Based on analyzing the core contents of Ho Chi Minh’s thought on social equity, the article clarifies how the Party and State have institutionalized policies for inclusive human development, ensuring access to education, healthcare, social welfare, and development resources. It also proposes requirements for further improving social equity policies to promote human resources, meeting the demands of rapid and sustainable development in the new era.

Keywords: Ho Chi Minh’s thought; social equity; human development; 14th National Party Congress; sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Con người luôn là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Trong quá trình đổi mới, Đảng nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của sự phát triển; tinh thần này tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, công bằng xã hội giữ vai trò nền tảng trong việc bảo đảm cơ hội phát triển bình đẳng, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số, già hóa dân số và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội càng có ý nghĩa quan trọng. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội và làm rõ sự vận dụng của Đảng trong phát triển con người ở Việt Nam hiện nay.

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong phát triển con người

2.1. Giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng xã hội gắn liền với mục tiêu giải phóng con người và phát triển con người toàn diện. Theo Người, độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi Nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.64). Quan điểm này cho thấy, công bằng xã hội không chỉ là mục tiêu của chế độ mới mà còn là điều kiện bảo đảm quyền sống, quyền tự do và quyền phát triển của mỗi con người.

Xuất phát từ tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới lợi ích của Nhân dân. Người nhấn mạnh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.65). Theo đó, công bằng xã hội không chỉ thể hiện ở phân phối thành quả phát triển mà còn ở việc bảo đảm điều kiện để mọi người được học tập, lao động, chăm sóc sức khỏe và phát huy năng lực của mình. Cách tiếp cận này thể hiện tư duy nhân văn, coi trọng việc tạo lập cơ hội phát triển cho mọi người thay vì chỉ chú trọng phân phối lợi ích.

Tư tưởng ấy được thể hiện nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được kết tinh trong Di chúc. Người căn dặn Đảng phải chăm lo không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; đồng thời, quan tâm bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 612 – 614). Điều đó phản ánh quan niệm của Người về một xã hội công bằng, trong đó mọi người đều có cơ hội học tập, lao động, cống hiến và được quan tâm, đặc biệt là những người có công, người nghèo và các nhóm yếu thế. Như vậy, giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội là đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển, bảo đảm quyền và cơ hội phát triển cho mọi người, đồng thời kết hợp hài hòa giữa công bằng và động lực phát triển.

2.2. Công bằng xã hội phải được thực hiện bằng việc bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, công bằng xã hội không chỉ là phân phối hợp lý thành quả lao động mà trước hết phải tạo điều kiện để mọi người đều có cơ hội học tập, lao động, chăm sóc sức khỏe và tham gia đời sống xã hội. Ngay sau khi giành độc lập, Người xác định ba nhiệm vụ cấp bách là chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, bởi đói nghèo và thất học không chỉ cản trở sự phát triển của đất nước mà còn tước đi cơ hội phát triển của con người (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 26-31). Thực hiện công bằng xã hội vì thế phải bắt đầu từ việc bảo đảm những điều kiện cơ bản để mọi người được phát triển.

Từ quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng quyền học tập của Nhân dân, đề cao vai trò của giáo dục trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Đồng thời, Người yêu cầu Nhà nước chăm lo sức khỏe Nhân dân, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt đối với người nghèo, người có công và các nhóm yếu thế. Quan điểm của Người về công bằng xã hội luôn gắn với mục tiêu tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy năng lực và đóng góp cho xã hội (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021, tr.164 – 169).

2.3. Công bằng xã hội phải gắn với cống hiến, trách nhiệm và khơi dậy động lực phát triển

Một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội là sự thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ. Theo Người, công bằng không phải là sự ban phát hay chia đều lợi ích mà phải được xây dựng trên cơ sở lao động, cống hiến và trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi người” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 613). Lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn là cơ sở để thực hiện công bằng và phát huy giá trị của con người.

Xuất phát từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh quyền lợi phải gắn với nghĩa vụ, hưởng thụ phải tương xứng với cống hiến. Người phê phán tư tưởng chỉ đòi hỏi quyền lợi mà không thực hiện trách nhiệm; đồng thời, kiên quyết chống đặc quyền, đặc lợi, chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí và quan liêu. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực sự là “công bộc của dân”, đặt lợi ích của Nhân dân và của đất nước lên trên lợi ích cá nhân (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 611- 622). Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm công bằng xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không đồng nhất công bằng xã hội với bình quân chủ nghĩa. Theo Người, phân phối phải dựa trên kết quả lao động và mức độ đóng góp của mỗi cá nhân, bởi cào bằng sẽ làm giảm động lực sáng tạo và cống hiến (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 390 – 392). Ở góc độ lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội: Người thừa nhận lợi ích cá nhân là động lực chính đáng, nhưng lợi ích đó phải thống nhất với lợi ích của tập thể và dân tộc. Quan điểm này vừa bảo đảm công bằng, vừa khuyến khích mỗi cá nhân phát huy năng lực, góp phần tạo động lực cho sự phát triển của xã hội.

3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong phát triển con người ở Việt Nam hiện nay

3.1. Thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội trong các quan điểm phát triển con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội đã được Đảng và Nhà nước từng bước thể chế hóa thành các chủ trương, đường lối và chính sách phát triển con người trong suốt quá trình đổi mới. Kế thừa quan điểm của Người về xây dựng một xã hội “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, Đảng nhất quán xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; đồng thời, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Quan điểm đó được hình thành từ Đại hội VI (1986) và ngày càng hoàn thiện qua các kỳ Đại hội. Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 47). Đến Đại hội XIV, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Lấy con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển; phát triển con người toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.118). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội tiếp tục cụ thể hóa định hướng bảo đảm công bằng, bao trùm và bền vững trong hệ thống chính sách xã hội.

Việc thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh còn được thể hiện trong hệ thống pháp luật. Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không bị phân biệt đối xử; đồng thời, quy định quyền học tập, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và quyền được bảo đảm an sinh xã hội. Năm 2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, trong đó tiếp tục khẳng định yêu cầu phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, thực hiện dân chủ và tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền và cơ hội phát triển của mọi người dân. Trên nền tảng đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chiến lược, chương trình và chính sách nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và an sinh xã hội, nhất là đối với vùng khó khăn và các nhóm yếu thế.

3.2. Thực hiện công bằng xã hội theo tiếp cận phát triển bao trùm và chuyển đổi số

Trong giai đoạn hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội được triển khai theo hướng phát triển bao trùm, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Để hiện thực hóa quan điểm đó, Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực số, phổ cập kỹ năng số, xây dựng xã hội số và bảo đảm người dân được tiếp cận thành quả của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, định hướng lớn được xác lập tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.

Trong lĩnh vực giáo dục, chuyển đổi số đã góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức thông qua việc phát triển học liệu số, nền tảng học trực tuyến và cơ sở dữ liệu ngành giáo dục. Đối với y tế, việc triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa và kết nối dữ liệu theo Đề án 06 từng bước nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Cùng với đó, các chính sách giảm nghèo đa chiều, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội tiếp tục được mở rộng theo hướng bao trùm, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư.

Những kết quả trên đã góp phần nâng cao chất lượng phát triển con người ở Việt Nam. Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2025 của UNDP, Việt Nam đạt HDI 0,766, thuộc nhóm quốc gia có mức phát triển con người cao và xếp thứ 93/193 quốc gia, vùng lãnh thổ; tuổi thọ bình quân đạt 74,7 năm, số năm đi học kỳ vọng đạt 13,3 năm (UNDP, 2025). Bên cạnh đó, theo Cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm 2026 đạt 8,18%, tạo thêm nguồn lực để đầu tư cho giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ và an sinh xã hội (Cục Thống kê, 2026).

Tuy nhiên, quá trình thực hiện công bằng xã hội trong phát triển con người vẫn đứng trước không ít thách thức. Khi điều chỉnh theo bất bình đẳng, chỉ số IHDI của Việt Nam còn 0,641, giảm 16,3% so với HDI, phản ánh khoảng cách về giáo dục, y tế và thu nhập giữa các nhóm dân cư vẫn còn tồn tại (UNDP, 2025). Bên cạnh đó, khoảng cách số giữa các vùng, khả năng tiếp cận công nghệ của người dân và chất lượng nguồn nhân lực vẫn là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm.

3.3. Những yêu cầu mới đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong phát triển con người

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với sự tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, việc thực hiện công bằng xã hội trong phát triển con người cần được tiếp cận theo những yêu cầu mới. Trước hết, công bằng xã hội cần chuyển từ tư duy bảo đảm quyền thụ hưởng sang bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển. Mọi người dân không chỉ được tiếp cận các dịch vụ cơ bản, như: giáo dục, y tế và an sinh xã hội mà còn phải có cơ hội tiếp cận tri thức, công nghệ, kỹ năng số và các nguồn lực phục vụ phát triển bản thân. Công bằng vì thế không chỉ được đánh giá ở kết quả phân phối mà còn ở khả năng tạo lập môi trường phát triển bình đẳng cho mọi cá nhân.

Bên cạnh đó, phát triển con người cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng trước những biến động của thời đại số. Sự phát triển nhanh của AI, tự động hóa và kinh tế số đang làm thay đổi cơ cấu việc làm và yêu cầu về năng lực của con người. Do đó, thực hiện công bằng xã hội cần hướng đến việc tạo điều kiện để mọi người được học tập suốt đời, nâng cao kỹ năng và thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động.

Một yêu cầu quan trọng khác là bảo đảm tính bao trùm trong quá trình phát triển. Bên cạnh việc thu hẹp khoảng cách về thu nhập, cần tiếp tục giảm chênh lệch về cơ hội phát triển giữa các vùng miền, giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư và các đối tượng yếu thế. Đồng thời, việc thực hiện công bằng xã hội cần được gắn với mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống. Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, các chính sách phát triển cần quan tâm nhiều hơn đến các yếu tố, như: sức khỏe, giáo dục, môi trường sống, văn hóa, an sinh xã hội và hạnh phúc của con người,  những tiêu chí phản ánh chất lượng phát triển con người trong điều kiện mới.

4. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội luôn hướng đến mục tiêu phát triển con người toàn diện, bảo đảm mọi người đều có cơ hội học tập, lao động, cống hiến và thụ hưởng thành quả phát triển. Kế thừa tư tưởng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng thể chế hóa và vận dụng trong đường lối phát triển đất nước, đặc biệt được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng với quan điểm lấy con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc tiếp tục hoàn thiện các chính sách bảo đảm công bằng xã hội theo hướng bao trùm, tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi người dân là yêu cầu cấp thiết. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy tối đa nguồn lực con người, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Hồ Chí Minh toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2014). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
United Nations Development Programme (2025). Human Development Report 2025: A matter of choice – People and possibilities in the age of AI. UNDP, New York.