The impact of green tourism on ethnic minority communities’ support for tourism development in Dak Lak province
NCS.ThS. Bùi Thị Ngọc Trâm
Trường Du lịch, Đại học Huế
Nguyễn Ngọc Xuân Nghi
Kinh tế đối ngoại, Hà Nội
Nguyễn Tuấn Đức
Quản trị kinh doanh, Bắc Ninh
TS. Thân Trọng Thụy
Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh
Email: thantrongthuysg@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết xây dựng và luận giải một mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của du lịch xanh đến sự ủng hộ phát triển du lịch của cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk. Trên nền tảng lý thuyết trao đổi xã hội kết hợp với lý thuyết trao quyền cộng đồng và lý thuyết gắn bó nơi chốn, bài viết đề xuất mô hình trong đó du lịch xanh được khái niệm hóa như một cấu trúc bậc hai gồm bốn thành phần: thực hành xanh, hạ tầng xanh, quản lý xanh và nhận thức xanh, tác động đến sự ủng hộ của cư dân thông qua ba cơ chế trung gian là lợi ích cảm nhận, trao quyền cộng đồng và gắn bó cộng đồng; đồng thời bản sắc văn hóa dân tộc và niềm tin vào chính quyền đóng vai trò biến điều tiết. Hệ thống thang đo kế thừa từ các nghiên cứu quốc tế đã được kiểm định, thiết kế mẫu và quy trình phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM); bổ sung chiều cạnh phi kinh tế vào khung trao đổi xã hội vốn bị phê phán là quá thiên về lợi ích vật chất, đồng thời cung cấp khung phân tích phù hợp với đặc thù văn hóa – xã hội của cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Từ khóa: Du lịch xanh; sự ủng hộ của cộng đồng; dân tộc thiểu số; lý thuyết trao đổi xã hội; trao quyền cộng đồng, Đắk Lắk.
Abstract: This paper develops and analyzes a research model on the impact of green tourism on ethnic minority communities’ support for tourism development in Đắk Lắk Province. Building on the theoretical framework of social exchange theory, combined with community empowerment theory and place attachment theory, the paper proposes a model in which green tourism is conceptualized as a second-order structure comprising four components: green practices, green infrastructure, green management, and green awareness, which influence residents’ support through three mediating mechanisms perceived benefits, community empowerment, and community attachment while ethnic cultural identity and trust in the government serve as moderating variables. The measurement system, derived from validated international studies, was used to design the sample and conduct the analysis using the Partial Least Squares Structural Equation Modeling (PLS-SEM) approach; this approach incorporates non-economic dimensions into the social exchange framework which has been criticized for being overly focused on material benefits while providing an analytical framework suited to the cultural and social characteristics of the ethnic minority communities in the Central Highlands.
Keywords: Green tourism, resident support, ethnic minority, social exchange theory, community empowerment, Dak Lak.
1. Đặt vấn đề
Phát triển du lịch chỉ thực sự bền vững khi nhận được sự ủng hộ của cộng đồng cư dân địa phương. Đây là luận điểm đã được khẳng định trong nhiều thập kỷ nghiên cứu, bắt đầu từ công trình nền tảng của Ap (1992) và được củng cố qua các nghiên cứu tổng quan hệ thống của Sharpley (2014) cũng như phân tích tổng hợp của Gursoy và cộng sự (2019). Cư dân không chỉ là người chịu tác động mà còn là chủ thể cung cấp nguồn lực, gìn giữ tài nguyên và tạo nên trải nghiệm cho du khách. Khi cư dân phản đối, chi phí xã hội của phát triển du lịch tăng cao và tính bền vững của điểm đến bị đe dọa.
Vấn đề này trở nên đặc biệt phức tạp tại các địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Ở đó, tài nguyên du lịch không tách rời khỏi không gian sinh sống, tri thức bản địa và bản sắc văn hóa tộc người. Quá trình khai thác du lịch, vì vậy vừa mang lại cơ hội sinh kế, vừa tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa văn hóa, phân phối lợi ích bất bình đẳng và làm suy giảm quyền tự quyết của cộng đồng.
Tỉnh Đắk Lắk là địa bàn hội tụ đầy đủ những đặc điểm nêu trên. Sau khi hợp nhất với tỉnh Phú Yên theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội (hiệu lực từ ngày 01/7/2025), tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 18.096,40 km² và quy mô dân số 3.346.853 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 25,4%, tương đương gần 840.000 người thuộc 44 dân tộc. Đắk Lắk sở hữu không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – di sản được UNESCO ghi danh – cùng hệ thống vườn quốc gia, hồ, thác và không gian buôn làng truyền thống của người Ê Đê, M’nông, Gia Rai.
Đáng chú ý, Đắk Lắk đang thực hiện một cuộc chuyển đổi mô hình du lịch xanh có thể quan sát được: chấm dứt hoạt động cưỡi voi để chuyển sang du lịch sinh thái thân thiện với voi theo thỏa thuận hợp tác với Tổ chức Động vật Châu Á. Cuộc chuyển đổi này tác động trực tiếp đến sinh kế của các hộ chủ voi và nài voi, phần lớn là người dân tộc thiểu số và vì vậy là một bối cảnh thực nghiệm lý tưởng để nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch xanh và thái độ của cộng đồng.
Tuy nhiên, tổng quan tài liệu cho thấy hai khoảng trống nghiên cứu. Thứ nhất, phần lớn nghiên cứu về sự ủng hộ của cư dân tập trung vào du lịch nói chung hoặc du lịch bền vững, chưa làm rõ vai trò riêng biệt của du lịch xanh với tư cách một cấu trúc đo lường được. Thứ hai, các nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề này còn mỏng; nghiên cứu định lượng gần nhất tại khu vực Tây Nguyên (Hoang & Trinh, 2024) thực hiện ở cấp vùng và ghi nhận một số kết quả gây tranh luận, trong khi chưa có nghiên cứu chuyên biệt về cộng đồng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk.
2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
2.1. Du lịch xanh và phân biệt với các khái niệm liên quan
Du lịch xanh (green tourism) khởi nguồn từ thập niên 1980 với hàm nghĩa du lịch quy mô nhỏ, ít tác động đến môi trường; về sau khái niệm được mở rộng thành du lịch thân thiện với môi trường. Trong hệ thống các khái niệm liên quan, du lịch xanh được xem là một tập con của du lịch bền vững, tập trung chủ yếu vào khía cạnh môi trường mà không nhất thiết bao trùm đầy đủ các vấn đề kinh tế và văn hóa (Bảng 1).
Bảng 1. Phân biệt du lịch xanh với các khái niệm liên quan
| Khái niệm | Nội hàm | Phạm vi |
| Du lịch bền vững | Cân bằng ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường nhằm bảo đảm tính bền vững dài hạn; bắt nguồn từ Báo cáo Brundtland (1987) | Bao trùm nhất |
| Du lịch sinh thái | Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên nhằm bảo tồn môi trường, duy trì phúc lợi của người dân địa phương và có yếu tố diễn giải, giáo dục (TIES, 1990) | Gắn với thiên nhiên; hiếm khi áp dụng cho đô thị |
| Du lịch xanh | Du lịch thân thiện với môi trường, giảm thiểu dấu chân sinh thái trong toàn bộ hoạt động cung ứng và tiêu dùng du lịch | Tập trung khía cạnh môi trường; áp dụng được cả ở đô thị và nông thôn |
| Du lịch có trách nhiệm | Nhấn mạnh trách nhiệm chủ động của tất cả các bên liên quan trong giảm thiểu tác động tiêu cực | Nhấn mạnh chủ thể hành động |
Tại Việt Nam, nội hàm du lịch xanh được thể chế hóa thông qua Nhãn Du lịch bền vững Bông sen xanh, ban hành theo Quyết định số 1355/QĐ-BVHTTDL ngày 12/4/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bộ tiêu chí gồm 81 tiêu chí đánh giá với tối đa 154 điểm và 25 điểm thưởng, chia thành bốn nhóm: (A) quản lý bền vững; (B) tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phương; (C) giảm thiểu tác động tiêu cực tới di sản văn hóa và di sản thiên nhiên; (D) giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường. Bốn nhóm tiêu chí này là căn cứ quan trọng để xây dựng nội dung đo lường khái niệm du lịch xanh trong bối cảnh Việt Nam.
Cần lưu ý một hạn chế phương pháp: cho đến nay chưa có thang đo du lịch xanh chuẩn hóa dành riêng cho đối tượng cư dân. Các thang đo hiện có, tiêu biểu là thang đo sáng kiến quản lý môi trường trong khách sạn (HEMI) gồm 21 mục thuộc ba chiều, hay thang đo ý định lưu trú tại khách sạn xanh của Han và cộng sự (2010), chủ yếu đo lường từ góc độ doanh nghiệp hoặc du khách. Đây vừa là khoảng trống nghiên cứu vừa là thách thức về giá trị nội dung mà nghiên cứu này phải xử lý bằng quy trình điều chỉnh và thẩm định chuyên gia.
2.2. Sự ủng hộ của cộng đồng đối với phát triển du lịch
Sự ủng hộ phát triển du lịch (support for tourism development) được khái niệm hóa vừa như một thái độ (Gursoy, Jurowski & Uysal, 2002) vừa như một ý định hành vi (Nunkoo & Ramkissoon, 2010). Ap (1992) cho rằng cư dân ủng hộ phát triển du lịch bổ sung nhằm thỏa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội và tâm lý, qua đó cải thiện phúc lợi của cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, sự ủng hộ được hiểu là mức độ cư dân dân tộc thiểu số tán thành, sẵn sàng tham gia và bảo vệ các hoạt động phát triển du lịch xanh trên địa bàn buôn làng của mình.
2.3. Các lý thuyết nền
Lý thuyết trao đổi xã hội (Social Exchange Theory – SET).Bắt nguồn từ Homans (1961) và Blau (1964), được Ap (1992) vận dụng vào lĩnh vực du lịch. Luận điểm cốt lõi là cư dân đánh giá quan hệ trao đổi với ngành du lịch trên cơ sở cân bằng giữa lợi ích nhận được và chi phí phải gánh chịu; khi lợi ích vượt trội chi phí, họ hình thành thái độ tích cực và ủng hộ phát triển du lịch. SET là khung lý thuyết chủ đạo của dòng nghiên cứu này trong hơn ba thập kỷ.
Phê phán đối với SET và hướng mở rộng.SET bị phê phán là quá thiên về lợi ích vật chất, giản lược hóa quan hệ giữa cư dân và du lịch thành một phép tính kinh tế thuần túy. Các nghiên cứu hiện đại đã bổ sung những cấu trúc phi kinh tế: Nunkoo và Ramkissoon (2012) đưa vào yếu tố quyền lực và niềm tin; Nunkoo và Gursoy (2012) tiếp cận từ góc độ bản sắc; đặc biệt Boley và McGehee (2014) phát triển thang đo trao quyền cư dân thông qua du lịch (Resident Empowerment through Tourism Scale – RETS) gồm ba chiều tâm lý, xã hội và chính trị, với hệ số tải nhân tố dao động 0,65–0,92 và độ tin cậy 0,85–0,92. Boley và cộng sự (2014) chứng minh trao quyền tâm lý có tác động trực tiếp và tích cực đến sự ủng hộ, độc lập với lợi ích kinh tế.
Lý thuyết gắn bó nơi chốn và gắn bó cộng đồng.Williams và Vaske (2003) phát triển thang đo gắn bó nơi chốn gồm hai chiều bản sắc nơi chốn và phụ thuộc nơi chốn. Lee (2013) chứng minh rằng gắn bó cộng đồng và tham gia cộng đồng là các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến mức độ ủng hộ phát triển du lịch bền vững, trong đó lợi ích cảm nhận đóng vai trò trung gian.
Lý thuyết giá trị – niềm tin – chuẩn mực (VBN).Stern (2000) lập luận hành vi vì môi trường hình thành theo chuỗi nhân quả từ giá trị cá nhân đến niềm tin về môi trường, rồi đến chuẩn mực cá nhân và cuối cùng là hành vi. Lý thuyết này lý giải vì sao nhận thức về thực hành xanh có thể tác động đến thái độ ủng hộ ngay cả khi lợi ích kinh tế trực tiếp chưa rõ ràng, một cơ chế đặc biệt phù hợp với cộng đồng dân tộc thiểu số có truyền thống tín ngưỡng gắn bó với rừng và tự nhiên.
2.4. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống
Bảng 2. Tổng hợp một số nghiên cứu tiêu biểu về sự ủng hộ của cộng đồng
| Nghiên cứu | Bối cảnh và phương pháp | Phát hiện chính |
| Ap (1992) | Nghiên cứu lý thuyết | Đặt nền móng vận dụng SET vào giải thích cảm nhận của cư dân về tác động du lịch |
| Gursoy và cộng sự (2002); Gursoy & Rutherford (2004) | Mô hình cấu trúc | Lợi ích và chi phí cảm nhận là các tiền tố trực tiếp của thái độ ủng hộ; gắn bó cộng đồng và mức độ quan tâm sinh thái là tiền tố gián tiếp |
| Lee (2013) | Đài Loan; SEM | Gắn bó cộng đồng và tham gia cộng đồng là yếu tố then chốt; lợi ích cảm nhận giữ vai trò trung gian |
| Boley & McGehee (2014); Boley và cộng sự (2014) | Hoa Kỳ; phát triển thang đo RETS | Trao quyền tâm lý và xã hội tác động tích cực, trực tiếp đến sự ủng hộ, độc lập với lợi ích kinh tế |
| Nunkoo & Ramkissoon (2012); Nunkoo & So (2016) | Mauritius; SEM | Niềm tin vào thể chế và quyền lực cảm nhận là các cấu trúc bổ sung quan trọng cho SET |
| Gursoy và cộng sự (2019) | Phân tích tổng hợp | Xác nhận tính ổn định của quan hệ lợi ích – thái độ qua nhiều bối cảnh; chỉ ra sự khác biệt theo văn hóa |
| Hoang & Trinh (2024) | Tây Nguyên, Việt Nam; PLS-SEM, 443 mẫu | Chất lượng cuộc sống tác động tích cực; lợi ích văn hóa – xã hội tác động tiêu cực; cảm nhận về nơi chốn không có ý nghĩa thống kê |
Từ tổng quan trên, ba khoảng trống nghiên cứu được xác định.
Thứ nhất, du lịch xanh chưa được khái niệm hóa và đo lường như một cấu trúc độc lập trong các mô hình giải thích sự ủng hộ của cư dân; các nghiên cứu hiện có chủ yếu dừng ở du lịch nói chung hoặc du lịch bền vững.
Thứ hai, cơ chế phi kinh tế đặc biệt là trao quyền và bản sắc văn hóa, chưa được tích hợp đầy đủ vào khung SET trong bối cảnh cộng đồng dân tộc thiểu số, nơi giá trị văn hóa và quyền tự quyết có ý nghĩa không kém lợi ích vật chất.
Thứ ba, phát hiện gây tranh luận của Hoang và Trinh (2024) về tác động tiêu cực của lợi ích văn hóa – xã hội cần được kiểm định lại ở cấp độ cộng đồng cụ thể, bởi kết quả này có thể phản ánh lo ngại về thương mại hóa văn hóa, một hiện tượng đã được Cohen (1988) cảnh báo và ghi nhận tại nhiều điểm du lịch vùng dân tộc thiểu số Việt Nam như Sa Pa.
3. Bối cảnh nghiên cứu: du lịch xanh và cộng đồng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk
3.1. Đặc điểm cộng đồng dân tộc thiểu số
Đồng bào dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk chiếm khoảng 25,4% dân số toàn tỉnh sau sáp nhập. Cơ cấu tộc người có tính phân tầng rõ rệt giữa nhóm dân tộc tại chỗ và nhóm dân tộc di cư đến (Hình 1). Người Ê Đê là tộc người đông nhất với 427.736 người, chiếm 12,93% dân số toàn tỉnh; tiếp đến là Nùng (90.971 người, 2,75%), Tày (66.645 người, 2,02%), M’nông (56.485 người, 1,71%), Mông (45.073 người, 1,36%), Gia Rai và Thái (mỗi dân tộc khoảng 24.000 người, 0,72%). Trong đó Ê Đê, M’nông và Gia Rai là các tộc người tại chỗ, có quan hệ gắn bó lâu đời với không gian rừng và buôn làng; các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông là cộng đồng di cư từ phía Bắc.

Sự phân tầng này có ý nghĩa phương pháp quan trọng: mức độ gắn bó nơi chốn, bản sắc văn hóa và quan hệ với tài nguyên du lịch của nhóm tộc người tại chỗ khác biệt đáng kể so với nhóm di cư, do đó cần được kiểm soát trong thiết kế mẫu và phân tích đa nhóm.
Về điều kiện kinh tế, khoảng cách giữa cộng đồng dân tộc thiểu số và mặt bằng chung của tỉnh còn lớn (Hình 2). Cuối năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 9,15% trong khi tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số lên tới 19,7%. Đến cuối năm 2024, các con số tương ứng giảm còn 6,38% (34.434 hộ) và 13,71% (24.282 hộ). Mặc dù giảm nghèo có tiến bộ rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số vẫn cao gấp hơn hai lần mức chung. Điều này cho thấy du lịch là kênh sinh kế có ý nghĩa đối với cộng đồng, đồng thời hàm ý rằng yếu tố lợi ích kinh tế nhiều khả năng vẫn giữ vai trò quan trọng trong quan hệ trao đổi xã hội tại địa bàn nghiên cứu.

3.2. Thực trạng phát triển du lịch và du lịch xanh
Năm 2024, ngành du lịch Đắk Lắk đón khoảng 1,5 triệu lượt khách với tổng thu từ du lịch đạt 1.255 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm 2023; lượng khách quốc tế tăng hơn 34%. Riêng quý I/2025, tỉnh đón hơn 700.000 lượt khách với doanh thu vượt 600 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ, chủ yếu nhờ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 (tổ chức 9–13/3/2025) thu hút khoảng 250.000 lượt du khách, trong đó có 1.800 khách quốc tế. Quy mô này còn khiêm tốn so với tiềm năng văn hóa – sinh thái của địa phương, phản ánh dư địa phát triển đáng kể (Bảng 3).
Bảng 3. Một số chỉ tiêu du lịch tỉnh Đắk Lắk
| Chỉ tiêu | Năm 2024 | Quý I/2025 |
| Lượt khách du lịch | ~1.500.000 | > 700.000 |
| Tổng thu từ du lịch | 1.255 tỷ đồng (+21%) | > 600 tỷ đồng |
| Tăng trưởng khách quốc tế | +34% | – |
| Lượt khách Lễ hội Cà phê lần thứ 9 | – | ~ 250.000 (1.800 khách quốc tế) |
Về thực hành du lịch xanh, có 2 xu hướng đáng chú ý đang diễn ra.
Thứ nhất, chuyển đổi mô hình du lịch voi. Ngày 15/12/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ký thỏa thuận hợp tác với Tổ chức Động vật Châu Á nhằm xây dựng mô hình du lịch sinh thái thân thiện với voi, hướng tới chấm dứt hoạt động cưỡi voi. Dự án chuyển đổi được phê duyệt tháng 11/2022 với kinh phí hơn 55,4 tỷ đồng do tổ chức này tài trợ, thực hiện giai đoạn 2022–2026 tại địa bàn Buôn Đôn và Lắk, trong đó hỗ trợ chủ voi 10 triệu đồng/tháng và nài voi 5 triệu đồng/tháng để bù đắp thu nhập. Đây là một can thiệp du lịch xanh tác động trực tiếp đến sinh kế của cư dân dân tộc thiểu số, tạo điều kiện quan sát rõ nét quan hệ trao đổi xã hội.
Thứ hai, phát triển du lịch cộng đồng tại các buôn làng. Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND ngày 13/8/2021 về hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021–2025; Tỉnh ủy ban hành Đề án số 08-ĐA/TU ngày 08/4/2022 về phát triển du lịch tỉnh giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030. Buôn Akô Dhông của người Ê Đê được công bố là buôn du lịch cộng đồng đầu tiên của tỉnh ngày 03/3/2023, trở thành mô hình điểm với hệ thống nhà dài, cồng chiêng, dệt thổ cẩm và nấu rượu cần. Các buôn Kli A, Tuôr, Tơng Jú, Tơng Bông, Ea Bông, Alê A đang trong quá trình triển khai hoặc khảo sát.
Ở cấp quốc gia, Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Quyết định số 1719/QĐ-TTg) đã hỗ trợ bảo tồn 124 lễ hội truyền thống tiêu biểu, 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống trên cả nước giai đoạn 2021–2025. Tại Đắk Lắk, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành các kế hoạch triển khai cụ thể.
Bên cạnh kết quả tích cực, thực tiễn cũng bộc lộ bất cập: hoạt động homestay tại Buôn Ma Thuột phát triển mang tính phong trào, thiếu định hướng, trong khi tiềm lực tài chính của hộ dân còn hạn chế. Đây là biểu hiện của mức độ trao quyền chưa đầy đủ – một cấu trúc trọng tâm trong mô hình nghiên cứu đề xuất.
4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở tích hợp Lý thuyết trao đổi xã hội với lý thuyết trao quyền cộng đồng và lý thuyết gắn bó nơi chốn, nghiên cứu đề xuất mô hình trình bày tại Hình 3. Trong mô hình này, du lịch xanh được khái niệm hóa như một cấu trúc bậc hai gồm bốn thành phần: thực hành xanh, hạ tầng xanh, quản lý xanh và nhận thức xanh – tương ứng với bốn nhóm tiêu chí của Nhãn Bông sen xanh. Du lịch xanh tác động đến sự ủng hộ của cư dân thông qua ba cơ chế trung gian: lợi ích cảm nhận (cơ chế trao đổi kinh tế – xã hội), trao quyền cộng đồng (cơ chế quyền lực và năng lực tự quyết) và gắn bó cộng đồng (cơ chế tình cảm – bản sắc). Bản sắc văn hóa dân tộc và niềm tin vào chính quyền đóng vai trò biến điều tiết.

4.2. Các giả thuyết nghiên cứu
Việc triển khai thực hành du lịch xanh, như quản lý chất thải, sử dụng vật liệu địa phương, bảo vệ rừng và nguồn nước, mô hình du lịch thân thiện với voi, làm gia tăng cảm nhận của cư dân về lợi ích mà du lịch mang lại trên cả ba phương diện kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường. Theo logic của SET, đây là vế lợi ích trong quan hệ trao đổi.
Du lịch xanh, khi được triển khai theo mô hình du lịch cộng đồng với sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định, làm gia tăng cảm nhận về trao quyền trên ba phương diện tâm lý (tự hào về văn hóa và nơi cư trú), xã hội (gắn kết cộng đồng) và chính trị (tiếng nói trong hoạch định). Đồng thời, việc bảo tồn không gian buôn làng, cảnh quan và di sản văn hóa thông qua thực hành xanh củng cố sự gắn bó của cư dân với cộng đồng.
Cả ba cơ chế trung gian này lần lượt thúc đẩy sự ủng hộ phát triển du lịch xanh. Ngoài ra, bản sắc văn hóa dân tộc được kỳ vọng làm mạnh thêm quan hệ giữa du lịch xanh và gắn bó cộng đồng, bởi cư dân có ý thức bản sắc mạnh sẽ nhạy cảm hơn với các can thiệp bảo tồn; niềm tin vào chính quyền được kỳ vọng làm mạnh thêm quan hệ giữa trao quyền và sự ủng hộ, do trao quyền chỉ chuyển hóa thành ủng hộ khi cư dân tin rằng cam kết của chính quyền là thực chất. Hệ tám giả thuyết được trình bày tại Bảng 4.
Bảng 4. Hệ giả thuyết nghiên cứu
| Giả thuyết | Nội dung | Cơ sở lý thuyết |
| H1 | Du lịch xanh có tác động tích cực đến lợi ích cảm nhận của cư dân dân tộc thiểu số | SET (Ap, 1992); Gursoy và cộng sự (2002) |
| H2 | Du lịch xanh có tác động tích cực đến cảm nhận về trao quyền cộng đồng | Boley & McGehee (2014) |
| H3 | Du lịch xanh có tác động tích cực đến gắn bó cộng đồng | Williams & Vaske (2003); Lee (2013) |
| H4 | Lợi ích cảm nhận có tác động tích cực đến sự ủng hộ phát triển du lịch xanh | SET; Gursoy & Rutherford (2004) |
| H5 | Trao quyền cộng đồng có tác động tích cực đến sự ủng hộ phát triển du lịch xanh | Boley và cộng sự (2014) |
| H6 | Gắn bó cộng đồng có tác động tích cực đến sự ủng hộ phát triển du lịch xanh | Lee (2013) |
| H7 | Bản sắc văn hóa dân tộc điều tiết (làm mạnh thêm) quan hệ giữa du lịch xanh và gắn bó cộng đồng | Nunkoo & Gursoy (2012) |
| H8 | Niềm tin vào chính quyền điều tiết (làm mạnh thêm) quan hệ giữa trao quyền và sự ủng hộ | Nunkoo & Ramkissoon (2012) |
Bên cạnh các quan hệ trực tiếp, nghiên cứu kiểm định vai trò trung gian của lợi ích cảm nhận, trao quyền và gắn bó cộng đồng trong quan hệ giữa du lịch xanh và sự ủng hộ, theo cách phân loại của Zhao, Lynch và Chen (2010).
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Thang đo
Các thang đo được kế thừa từ những nghiên cứu quốc tế đã được kiểm định, sau đó dịch sang tiếng Việt theo quy trình dịch ngược (back-translation) và điều chỉnh cho phù hợp bối cảnh cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Tất cả biến quan sát sử dụng thang Likert 5 điểm (1 = hoàn toàn không đồng ý đến 5 = hoàn toàn đồng ý). Nguồn gốc thang đo được trình bày tại Bảng 5.
Bảng 5. Hệ thống thang đo và nguồn gốc
| Khái niệm nghiên cứu | Số biến dự kiến | Nguồn gốc thang đo |
| Du lịch xanh (bậc hai) | 16–20 | Điều chỉnh từ thang đo HEMI; Han và cộng sự (2010); nhóm tiêu chí A–D của Nhãn Bông sen xanh (Quyết định 1355/QĐ-BVHTTDL) |
| Lợi ích cảm nhận (kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường) | 9–12 | Gursoy, Jurowski & Uysal (2002); Nunkoo & Ramkissoon (2011); Lee (2013) |
| Trao quyền cộng đồng (tâm lý, xã hội, chính trị) | 12 | Boley & McGehee (2014) – thang đo RETS |
| Gắn bó cộng đồng | 4–5 | McCool & Martin (1994); Lee (2013) |
| Bản sắc văn hóa dân tộc | 4–5 | Nunkoo & Gursoy (2012) |
| Niềm tin vào chính quyền | 4–5 | Nunkoo & Ramkissoon (2012); Nunkoo, Ramkissoon & Gursoy (2012) |
| Sự ủng hộ phát triển du lịch xanh | 4–6 | Gursoy và cộng sự (2002); Nunkoo & Ramkissoon (2011); Lee (2013) |
5.2. Mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Đối tượng khảo sát là cư dân dân tộc thiểu số từ 18 tuổi trở lên đang sinh sống tại các buôn có hoạt động du lịch hoặc nằm trong vùng ảnh hưởng của các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Địa bàn khảo sát dự kiến gồm buôn Akô Dhông, Tơng Jú, Kli A, Tuôr (khu vực Buôn Ma Thuột), khu vực Buôn Đôn và các buôn ven hồ Lắk.
Cỡ mẫu được xác định theo hai căn cứ: quy tắc 10 lần (tối thiểu gấp 10 lần số đường dẫn lớn nhất trỏ vào một khái niệm) và phân tích công suất thống kê bằng phần mềm G*Power với mức công suất tối thiểu 0,80. Với mô hình gồm bảy khái niệm và tám giả thuyết, cỡ mẫu mục tiêu là 300–400 quan sát nhằm bảo đảm độ ổn định của ước lượng và đủ điều kiện thực hiện phân tích đa nhóm.
Mẫu được chọn theo phương pháp phân tầng theo hai tiêu chí: nhóm tộc người (dân tộc tại chỗ gồm Ê Đê, M’nông, Gia Rai và dân tộc di cư đến) và mức độ tham gia hoạt động du lịch (hộ trực tiếp kinh doanh du lịch, hộ có thành viên làm việc trong ngành du lịch, hộ không tham gia). Do đặc thù về trình độ học vấn và rào cản ngôn ngữ phổ thông tại một số buôn xa, nghiên cứu sử dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp có hỗ trợ của điều tra viên thay vì phát phiếu tự điền, đồng thời huy động cộng tác viên là người địa phương am hiểu tiếng dân tộc.
Trước khi khảo sát chính thức, nghiên cứu thực hiện khảo sát thử với 30–50 đáp viên nhằm đánh giá độ tin cậy sơ bộ (hệ số Cronbach’s Alpha đạt trên 0,70) và mức độ dễ hiểu của bảng hỏi; đồng thời kết hợp thẩm định nội dung thang đo bởi hội đồng chuyên gia gồm nhà nghiên cứu du lịch, cán bộ quản lý văn hóa và người có uy tín trong cộng đồng.
5.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) với phần mềm SmartPLS 4. PLS-SEM được lựa chọn vì ba lý do: mô hình có cấu trúc bậc hai và nhiều quan hệ trung gian phức tạp; nghiên cứu thiên về khám phá và dự báo hơn là kiểm định lý thuyết đã hoàn chỉnh; và phương pháp này không đòi hỏi giả định phân phối chuẩn của dữ liệu. Quy trình đánh giá tuân thủ hướng dẫn của Hair và cộng sự (2019, 2022) trình bày tại Bảng 6.
Bảng 6. Tiêu chí đánh giá mô hình PLS-SEM
| Bước đánh giá | Tiêu chí | Ngưỡng chấp nhận |
| Mô hình đo lường | Hệ số tải ngoài (outer loading) | ≥ 0,708 |
| Cronbach’s Alpha và độ tin cậy tổng hợp (CR) | 0,70 – 0,90 (tối đa 0,95) | |
| Phương sai trích trung bình (AVE) | ≥ 0,50 | |
| Giá trị phân biệt (HTMT) | < 0,85 (hoặc < 0,90 với khái niệm tương đồng) | |
| Mô hình cấu trúc | Hệ số phóng đại phương sai (VIF) | < 5 (lý tưởng < 3) |
| Hệ số xác định R²; hệ số tác động f² | f² = 0,02 / 0,15 / 0,35 (nhỏ/trung bình/lớn) | |
| Giá trị dự báo Q² | > 0 | |
| Kiểm định ý nghĩa (bootstrapping) | 5.000 lần lặp; p < 0,05 | |
| Kiểm định bổ sung | Sai lệch phương pháp chung (full collinearity VIF) | < 3,3 (Kock, 2015) |
Vai trò trung gian được kiểm định thông qua bootstrapping hiệu ứng gián tiếp và phân loại theo Zhao, Lynch và Chen (2010). Vai trò điều tiết được kiểm định bằng phương pháp tích số chỉ báo. Phân tích đa nhóm (MGA) được thực hiện để so sánh giữa nhóm dân tộc tại chỗ và nhóm dân tộc di cư đến, cũng như giữa các nhóm có mức độ tham gia du lịch khác nhau.
6. Hàm ý quản trị và kết luận
Bài viết đã xây dựng khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của du lịch xanh đến sự ủng hộ của cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk, cùng với hệ thống thang đo, thiết kế mẫu và quy trình phân tích bằng PLS-SEM.
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu có ba đóng góp dự kiến.
Một là, khái niệm hóa và thao tác hóa du lịch xanh như một cấu trúc bậc hai đo lường được từ góc độ cư dân, góp phần lấp khoảng trống về thang đo trong y văn.
Hai là, mở rộng khung trao đổi xã hội bằng cách tích hợp đồng thời cơ chế kinh tế (lợi ích cảm nhận), cơ chế quyền lực (trao quyền) và cơ chế tình cảm – bản sắc (gắn bó cộng đồng, bản sắc văn hóa), qua đó đáp ứng phê phán rằng SET quá thiên về lợi ích vật chất.
Ba là, kiểm định lại trong bối cảnh cộng đồng dân tộc thiểu số phát hiện gây tranh luận của Hoang và Trinh (2024) về tác động tiêu cực của lợi ích văn hóa – xã hội; nếu kết quả xác nhận, điều này sẽ củng cố luận điểm về nguy cơ thương mại hóa văn hóa và đòi hỏi cách tiếp cận thận trọng hơn trong khai thác di sản tộc người.
Về mặt thực tiễn, mô hình cung cấp căn cứ cho chính quyền địa phương trong việc thiết kế chính sách phát triển du lịch cộng đồng. Nếu cơ chế trao quyền được xác nhận có tác động mạnh, hàm ý chính sách sẽ là chuyển trọng tâm từ hỗ trợ tài chính đơn thuần sang nâng cao năng lực và mở rộng sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định – điều đặc biệt phù hợp với thực trạng homestay phát triển tự phát và tiềm lực tài chính hạn chế của hộ dân tại Đắk Lắk hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
Ap, J. (1992). Residents’ perceptions on tourism impacts. Annals of Tourism Research, 19(4), 665–690.
Blau, P. M. (1964). Exchange and power in social life. New York: John Wiley & Sons.
Boley, B. B., & McGehee, N. G. (2014). Measuring empowerment: Developing and validating the Resident Empowerment through Tourism Scale (RETS). Tourism Management, 45, 85–94.
Boley, B. B., McGehee, N. G., Perdue, R. R., & Long, P. (2014). Empowerment and resident attitudes toward tourism: Strengthening the theoretical foundation through a Weberian lens. Annals of Tourism Research, 49, 33–50.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012). Quyết định số 1355/QĐ-BVHTTDL ngày 12/4/2012 ban hành Bộ tiêu chí Nhãn Du lịch bền vững Bông sen xanh áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch tại Việt Nam.
Cohen, E. (1988). Authenticity and commoditization in tourism. Annals of Tourism Research, 15(3), 371–386.
Gursoy, D., Jurowski, C., & Uysal, M. (2002). Resident attitudes: A structural modeling approach. Annals of Tourism Research, 29(1), 79–105.
Gursoy, D., & Rutherford, D. G. (2004). Host attitudes toward tourism: An improved structural model. Annals of Tourism Research, 31(3), 495–516.
Gursoy, D., Ouyang, Z., Nunkoo, R., & Wei, W. (2019). Residents’ impact perceptions of and attitudes towards tourism development: A meta-analysis. Journal of Hospitality Marketing & Management, 28(3), 306–333.
Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2–24.
Hair, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2022). A primer on partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) (3rd ed.). Thousand Oaks: Sage.
Han, H., Hsu, L. T., & Sheu, C. (2010). Application of the theory of planned behavior to green hotel choice. Tourism Management, 31(3), 325–334.
Hoang, T. P. T., & Trinh, T. H. (2024). Rural tourism development: How to attract the residents’ participation? A study of the Central Highlands, Vietnam. Tạp chí Khoa học Đại học Đà Lạt, 15(1), 122–151.
Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2021). Nghị quyết số 08/2021/NQ-HĐND ngày 13/8/2021 về hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại các thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2021–2025.
Homans, G. C. (1961). Social behavior: Its elementary forms. New York: Harcourt, Brace & World.
Kock, N. (2015). Common method bias in PLS-SEM: A full collinearity assessment approach. International Journal of e-Collaboration, 11(4), 1–10.
Lee, T. H. (2013). Influence analysis of community resident support for sustainable tourism development. Tourism Management, 34, 37–46.
McCool, S. F., & Martin, S. R. (1994). Community attachment and attitudes toward tourism development. Journal of Travel Research, 32(3), 29–34.
Nunkoo, R., & Gursoy, D. (2012). Residents’ support for tourism: An identity perspective. Annals of Tourism Research, 39(1), 243–268.
Nunkoo, R., & Ramkissoon, H. (2011). Developing a community support model for tourism. Annals of Tourism Research, 38(3), 964–988.
Nunkoo, R., & Ramkissoon, H. (2012). Power, trust, social exchange and community support. Annals of Tourism Research, 39(2), 997–1023.
Nunkoo, R., Ramkissoon, H., & Gursoy, D. (2012). Public trust in tourism institutions. Annals of Tourism Research, 39(3), 1538–1564.
Nunkoo, R., & So, K. K. F. (2016). Residents’ support for tourism: Testing alternative structural models. Journal of Travel Research, 55(7), 847–861.
Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Sharpley, R. (2014). Host perceptions of tourism: A review of the research. Tourism Management, 42, 37–49.
Stern, P. C. (2000). Toward a coherent theory of environmentally significant behavior. Journal of Social Issues, 56(3), 407–424.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Williams, D. R., & Vaske, J. J. (2003). The measurement of place attachment: Validity and generalizability of a psychometric approach. Forest Science, 49(6), 830–840.
Zhao, X., Lynch, J. G., & Chen, Q. (2010). Reconsidering Baron and Kenny: Myths and truths about mediation analysis. Journal of Consumer Research, 37(2), 197–206.



