Phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong bảo vệ môi trường hiện nay

Promoting the role of military youth in environmental protection today

ThS. Đỗ Thiện Diệu
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: dothiendieusqct@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số đã tác động đến công tác bảo vệ môi trường theo hai mặt. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và quan điểm của Đảng về chuyển đổi số quốc gia và bảo vệ môi trường trong thời kỳ mới, bài viết làm rõ khái niệm, quan niệm trung tâm và những đặc trưng cơ bản của việc phát huy vai trò thanh niên quân đội; phân tích cơ hội và thách thức mà chuyển đổi số tạo đặt ra; luận giải bốn phương diện thể hiện vai trò của lực lượng này. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị gắn với bồi dưỡng năng lực số và ý thức sinh thái cho thanh niên Quân đội.

Từ khóa: Thanh niên Quân đội; bảo vệ môi trường; chuyển đổi số; trí tuệ nhân tạo; giáo dục chính trị.

Abstract: Digital transformation and artificial intelligence exert a twofold impact on the protection of the natural environment. Based on dialectical materialist methodology and the Party’s viewpoints on science, technology, innovation, national digital transformation and environmental protection in the new period, the article clarifies the key concepts, the central conception and the basic features of promoting the role of military youth; analyses the opportunities and challenges posed by digital transformation and artificial intelligence; and examines four dimensions expressing the role of this force. On that basis, the article proposes five solutions, centred on improving the quality of political-theoretical education combined with fostering digital competence and ecological awareness among military youth.

Keywords: Military youth; environmental protection; digital transformation; artificial intelligence; political education.

1. Đặt vấn đề

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với hạt nhân là chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, đang làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác bảo vệ môi trường. Nhận thức rõ xu thế đó, Đảng ta xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại (Bộ Chính trị, 2024, tr.25). Đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường, chuyển đổi số vừa là công cụ hữu hiệu để nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, quản lý tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu, vừa làm nảy sinh những vấn đề môi trường mới cùng những thách thức về tư tưởng, nhận thức. Kế thừa và phát triển tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013); Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa môi trường trong toàn xã hội (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Trong bối cảnh ấy, thanh niên Quân đội – lực lượng trẻ, đông đảo, được tổ chức chặt chẽ, có bản lĩnh chính trị, tính kỷ luật cao và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ – giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường. Đây là lực lượng vừa trực tiếp thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở, vừa đóng quân trên những địa bàn có ý nghĩa đặc biệt về sinh thái như rừng phòng hộ, khu vực biên giới, biển đảo, vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai. Tuy nhiên, để lực lượng này thực sự trở thành chủ thể tích cực, tận dụng được cơ hội và hóa giải được mặt trái của công nghệ, cần nhận diện đúng tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và xác định định hướng phát huy vai trò phù hợp, mà trước hết là thông qua công tác giáo dục lý luận chính trị.

Về tình hình nghiên cứu, thời gian qua đã có nhiều công trình bàn về ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, về phát huy vai trò của thanh niên trong phát triển bền vững, cũng như về công tác giáo dục chính trị cho quân nhân trong môi trường thông tin mới. Tuy vậy, hướng nghiên cứu đặt vấn đề bảo vệ môi trường của thanh niên Quân đội trong quan hệ trực tiếp với tác động hai mặt của chuyển đổi số vẫn còn khoảng trống, nhất là ở phương diện luận giải cơ chế chuyển hóa tiềm năng công nghệ của lực lượng trẻ thành hiệu quả bảo vệ môi trường thực tế.

Bài viết tập trung làm rõ ba nhiệm vụ: xây dựng khung khái niệm và quan niệm trung tâm; phân tích tác động hai mặt của chuyển đổi số đến bảo vệ môi trường ; luận giải vai trò và đề xuất giải pháp phát huy vai trò của thanh niên Quân đội. Đối tượng nghiên cứu là việc phát huy vai trò của thanh niên Quân đội trong bảo vệ môi trường; phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay. Về phương pháp, bài viết vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích – tổng hợp, lôgíc – lịch sử, hệ thống – cấu trúc và khái quát hóa từ các tài liệu, báo cáo tổng kết của cơ quan chức năng.

2. Một số khái niệm và quan niệm cơ bản

Thanh niên quân đội là những quân nhân trong độ tuổi thanh niên đang công tác, học tập, huấn luyện, phục vụ tại các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân, bao gồm sĩ quan trẻ, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ và học viên. Đây là lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong quân số, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở, đồng thời là nguồn kế cận, bổ sung cho đội ngũ cán bộ của Quân đội. So với thanh niên ngoài xã hội, thanh niên Quân đội có ba đặc điểm nổi bật: được rèn luyện trong môi trường có tổ chức, kỷ luật nghiêm; được giáo dục chính trị thường xuyên, có hệ thống; và hoạt động theo cơ chế tập trung, thống nhất, cho phép huy động nhanh lực lượng khi có yêu cầu. Những đặc điểm ấy tạo ra lợi thế riêng khi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường có quy mô lớn, đòi hỏi tính kỷ luật và khả năng phối hợp cao.

Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên. Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, bảo vệ môi trường là hoạt động phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện chất lượng môi trường; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu. Cách xác định này cho thấy bảo vệ môi trường không chỉ là hoạt động khắc phục hậu quả, mà trước hết là hoạt động phòng ngừa chủ động – điểm gặp gỡ trực tiếp với thế mạnh của công nghệ số trong dự báo và cảnh báo sớm.

Chuyển đổi số là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển đồng bộ chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực công nghệ mô phỏng các năng lực nhận thức của con người, cho phép hệ thống máy học hỏi, suy luận, nhận dạng và ra quyết định trên nền tảng dữ liệu lớn (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 xác định đưa trí tuệ nhân tạo trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trong đó có quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (Thủ tướng Chính phủ, 2021).

Trên cơ sở các khái niệm trên, phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong bảo vệ môi trường thời kỳ chuyển đổi sốđược quan niệm là tổng thể các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, tổ chức và tự tổ chức của các chủ thể nhằm khơi dậy, huy động và sử dụng có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của thanh niên Quân đội, chuyển hóa thành sức mạnh hiện thực để chủ động khai thác cơ hội, đồng thời hạn chế, hóa giải những thách thức mà chuyển đổi số, đặt ra đối với công tác bảo vệ môi trường, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Quan niệm này có kết cấu gồm bốn thành tố: (1) Chủ thể phát huy là cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, cơ quan chính trị, tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong Quân đội và bản thân mỗi thanh niên với tư cách chủ thể tự phát huy; trong đó, sự lãnh đạo của cấp ủy giữ vai trò quyết định, còn tính tự giác của mỗi thanh niên là nhân tố trực tiếp biến chủ trương thành hành động. (2) Mục tiêu là chuyển hóa tiềm năng của lực lượng trẻ thành hiệu quả thực tế trong bảo vệ môi trường thời kỳ chuyển đổi số. (3) Nội dung bao gồm làm chủ, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào bảo vệ môi trường; nhận diện, đấu tranh với mặt trái của công nghệ; lan tỏa lối sống xanh trong không gian số. (4) Phương thức thể hiện ở giáo dục lý luận chính trị, tổ chức phong trào hành động cách mạng, xây dựng cơ chế, chính sách và bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật.

Từ quan niệm trên, có thể rút ra bốn đặc trưng cơ bản:

Một là, tính hai mặt trong vị trí của chủ thể. Thanh niên quân đội vừa là lực lượng sử dụng, làm chủ công nghệ số để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, vừa là lực lượng phải nhận diện và đấu tranh với chính mặt trái của công nghệ số, như tiêu hao năng lượng, rác thải điện tử và thông tin xấu, độc. Đặc trưng này đòi hỏi công tác giáo dục không dừng ở trang bị kỹ năng sử dụng công nghệ mà phải hình thành thái độ phê phán khoa học đối với công nghệ.

Hai là, sự thống nhất biện chứng giữa bản lĩnh chính trị và năng lực số. Trong môi trường số, phát huy vai trò không chỉ đòi hỏi kỹ năng công nghệ mà trước hết phải dựa trên nền tảng chính trị – tư tưởng vững vàng. Nếu thiếu bản lĩnh, chính lực lượng nhạy bén công nghệ nhất lại dễ chịu tác động tiêu cực nhất, bởi mức độ tiếp xúc với không gian mạng của họ cao hơn hẳn các nhóm khác.

Ba là, giáo dục lý luận chính trị giữ vai trò nền tảng, định hướng. Đây là điểm cốt lõi phản ánh yêu cầu xây dựng “sức đề kháng” và động cơ đúng đắn cho thanh niên trước tác động nhiều chiều của không gian số; đồng thời là cơ sở để hình thành ý thức sinh thái bền vững, khác với những hành vi bảo vệ môi trường mang tính phong trào, nhất thời.

Bốn là, tính chủ động và khả năng dự báo cao. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo cho phép chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa “từ sớm, từ xa”, phù hợp với tư duy bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ môi trường trong tình hình mới. Nhận thức đúng quan niệm và các đặc trưng nêu trên là cơ sở trực tiếp để phân tích tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và xác định hệ giải pháp phù hợp.

3. Tác động hai mặt của chuyển đổi số đến bảo vệ môi trường

Xét về bản chất, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo là những công cụ, phương tiện do con người tạo ra; giá trị và hệ quả của chúng đối với môi trường phụ thuộc vào cách con người sử dụng. Đây là điểm mấu chốt về phương pháp luận khi đánh giá tác động của chúng, đồng thời là cơ sở để khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người.

3.1. Cơ hội và những tác động tích cực

Thứ nhất, chuyển đổi số nâng cao đáng kể năng lực quan trắc, giám sát và cảnh báo sớm về môi trường. Hệ thống cảm biến kết nối vạn vật, dữ liệu lớn và các thuật toán trí tuệ nhân tạo cho phép theo dõi liên tục chất lượng không khí, nguồn nước, độ che phủ rừng; phân tích ảnh viễn thám để phát hiện sớm cháy rừng, phá rừng, sạt lở; mô hình hóa và dự báo diễn biến thiên tai với độ chính xác cao hơn. Nhờ đó, việc phòng ngừa, ứng phó chuyển từ thế bị động sang chủ động, “từ sớm, từ xa” – đúng với tinh thần của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 khi đặt hoạt động phòng ngừa lên hàng đầu (Quốc hội, 2020).

Thứ hai, công nghệ số giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và năng lượng, giảm phát thải. Các giải pháp số hóa trong quản lý năng lượng, giao thông, sản xuất góp phần tiết kiệm tài nguyên, hướng tới kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh, phù hợp với định hướng gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Trong phạm vi đơn vị quân đội, việc số hóa quản lý tiêu thụ điện, nước, nhiên liệu và vật tư cho phép phát hiện những khâu lãng phí mà phương thức quản lý thủ công khó nhận ra.

Thứ ba, trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, chuyển đổi số mở ra khả năng xây dựng doanh trại thông minh theo hướng xanh, số hóa dữ liệu môi trường khu vực đóng quân, ứng dụng công nghệ trong xử lý chất thải, quản lý tài nguyên và trong nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Đây là những dư địa để thanh niên Quân đội phát huy vai trò xung kích, sáng tạo trong thực hiện Điều lệ công tác bảo vệ môi trường của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thứ tư, không gian số tạo ra phương thức tuyên truyền, vận động mới về bảo vệ môi trường với khả năng lan tỏa nhanh, chi phí thấp và đo lường được hiệu quả. Các sản phẩm truyền thông số do chính thanh niên xây dựng thường có sức thuyết phục cao đối với người cùng thế hệ, tạo điều kiện chuyển hóa nhận thức thành hành vi.

3.2. Thách thức và những tác động tiêu cực

Một là, bản thân hạ tầng số tiêu tốn nhiều năng lượng, tài nguyên, làm phát sinh những vấn đề môi trường mới. Các trung tâm dữ liệu và quá trình huấn luyện những mô hình trí tuệ nhân tạo quy mô lớn tiêu thụ lượng điện năng, nước làm mát rất lớn; thiết bị số nhanh lỗi thời làm gia tăng rác thải điện tử – loại chất thải khó xử lý, chứa nhiều kim loại nặng, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm đất và nguồn nước. Nếu không được quản lý tốt, chuyển đổi số có thể để lại”dấu chân sinh thái” đáng kể, làm suy giảm chính những lợi ích mà nó mang lại.

Hai là, mặt trái của môi trường số có thể làm suy giảm hoạt động thực tiễn và ý thức sinh thái của một bộ phận thanh niên. Việc lệ thuộc vào thiết bị, thay thế trải nghiệm thực bằng trải nghiệm số có nguy cơ làm mai một tình yêu thiên nhiên, kỹ năng lao động và tinh thần dấn thân – những phẩm chất chỉ có thể hình thành qua hoạt động thực tiễn trực tiếp. Đây là thách thức đặc biệt đáng lưu ý, bởi ý thức bảo vệ môi trường bền vững bao giờ cũng bắt nguồn từ sự gắn bó thực sự với tự nhiên chứ không từ tri thức gián tiếp.

Ba là, không gian mạng trở thành địa bàn để các thế lực thù địch lợi dụng, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc chủ trương, chính sách về môi trường, kích động, gây nhiễu loạn nhận thức, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Thủ đoạn thường thấy là thổi phồng một sự cố môi trường cục bộ thành thất bại của cả chủ trương, hoặc lợi dụng các vấn đề sinh thái để kích động chia rẽ. Trước biển thông tin thật – giả lẫn lộn, nếu thiếu bản lĩnh chính trị và tư duy phản biện khoa học, thanh niên dễ bị dẫn dắt, ngộ nhận.

Bốn là, còn tồn tại khoảng cách về năng lực số giữa các nhóm đối tượng và giữa các đơn vị; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là ở đơn vị vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo – trong khi đây lại thường là những địa bàn có giá trị sinh thái cao nhất. Đồng thời, việc số hóa dữ liệu môi trường khu vực đóng quân đặt ra yêu cầu rất cao về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bởi dữ liệu môi trường ở nhiều trường hợp gắn liền với dữ liệu quốc phòng.

Như vậy, tác động của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo mang tính hai mặt biện chứng. Vấn đề đặt ra không phải là chấp nhận hay khước từ công nghệ, mà là làm chủ và định hướng công nghệ vì mục tiêu bảo vệ môi trường – điều này càng làm nổi bật vai trò của nhân tố con người, trong đó có thanh niên Quân đội.

4. Vai trò của thanh niên quân đội trong bảo vệ môi trường thời kỳ chuyển đổi số

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định con người là chủ thể cải biến tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn và thông qua việc không ngừng phát triển, ứng dụng khoa học – công nghệ. C.Mác chỉ rõ: “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 2000, tr. 135), con người và giới tự nhiên thống nhất với nhau trong quá trình sản xuất vật chất; do đó, mọi hành vi hủy hoại tự nhiên xét đến cùng đều là hành vi tự hủy hoại điều kiện tồn tại của chính con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi thanh niên là lực lượng xung kích, “người chủ tương lai của nước nhà” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011a, tr. 216); đồng thời, hết sức coi trọng vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển đất nước. Kế thừa những quan điểm đó, có thể khẳng định thanh niên Quân đội giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường trước tác động của chuyển đổi số, thể hiện trên bốn phương diện chủ yếu:

Thứ nhất, thanh niên Quân đội là lực lượng tiên phong trong làm chủ và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào bảo vệ môi trường. Với ưu thế về sức trẻ, khả năng tiếp thu nhanh tri thức mới và được đào tạo cơ bản, thanh niên Quân đội có điều kiện đi đầu trong vận hành các hệ thống quan trắc, giám sát môi trường thông minh; ứng dụng viễn thám, dữ liệu lớn trong quản lý tài nguyên, dự báo, phòng, chống thiên tai; triển khai các mô hình doanh trại thông minh theo hướng xanh.

Thực tiễn cho thấy, một trăm phần trăm tổ chức Đoàn trong toàn quân đã hướng dẫn, tổ chức cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào “Bình dân học vụ số”, “Phổ cập trí tuệ nhân tạo” (Tổng cục Chính trị, 2025), nền tảng quan trọng để chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành sức mạnh hiện thực trong bảo vệ môi trường. Vai trò tiên phong ở đây không chỉ là sử dụng thành thạo công nghệ, mà còn là khả năng đề xuất cách vận dụng công nghệ vào những nhiệm vụ môi trường cụ thể của đơn vị mình.

Thứ hai, thanh niên Quân đội là lực lượng nòng cốt, xung kích trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường có ứng dụng công nghệ. Tính tổ chức, kỷ luật và sức mạnh tập thể của Quân đội cho phép triển khai nhanh, đồng bộ, hiệu quả các hoạt động quy mô lớn như phòng, chống cháy rừng, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số – những nhiệm vụ mà thanh niên Quân đội thường là lực lượng trực tiếp, đi đầu. Đây là ưu thế mà ít lực lượng xã hội nào có được: khả năng chuyển từ trạng thái thường xuyên sang trạng thái khẩn cấp trong thời gian ngắn, với đội hình được tổ chức sẵn và kỷ luật chấp hành nghiêm. Trong nhiệm kỳ 2022 – 2025, tuổi trẻ toàn quân đã trồng mới 1.378.896 cây xanh, tăng 555.958 cây so với nhiệm kỳ trước (Tổng cục Chính trị, 2025), góp phần trực tiếp cải thiện môi trường sinh thái ở địa bàn đóng quân.

Thứ ba, thanh niên quân đội là lực lượng tích cực trên mặt trận tư tưởng, thông tin về môi trường trong không gian số. Bằng bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học, thanh niên Quân đội có thể chủ động tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; lan tỏa lối sống xanh và văn hóa số lành mạnh; đồng thời tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Ưu thế của lực lượng này là nói với thanh niên bằng ngôn ngữ của thanh niên, trên chính những nền tảng mà thanh niên sử dụng hằng ngày, nên sức thuyết phục thường cao hơn các hình thức tuyên truyền một chiều.

Thứ tư, thanh niên quân đội là lực lượng sáng tạo, nghiên cứu khoa học trẻ, đề xuất và hiện thực hóa các sáng kiến, giải pháp công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường. Phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo” và hoạt động nghiên cứu khoa học trong Quân đội là kênh quan trọng để hình thành các sản phẩm công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng, xử lý chất thải, góp phần giải quyết chính những mặt trái mà công nghệ số có thể gây ra. Trong nhiệm kỳ 2022 – 2025, Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” trong Quân đội đã thu hút 2.213 công trình, sáng kiến của 129 đầu mối cơ quan, đơn vị, trong đó 1.164 công trình được trao giải (Tổng cục Chính trị, 2025). Giá trị của những sáng kiến này không chỉ ở hiệu quả kinh tế – kỹ thuật trực tiếp, mà còn ở chỗ chúng hình thành thói quen tư duy giải quyết vấn đề môi trường bằng công cụ khoa học.

Tuy nhiên, bốn phương diện nêu trên chỉ được phát huy đầy đủ khi thanh niên Quân đội có nền tảng chính trị – tư tưởng vững vàng, có “sức đề kháng” trước mặt trái của môi trường số. Nếu thiếu bản lĩnh và tri thức, chính lực lượng nhạy bén công nghệ nhất lại có thể chịu tác động tiêu cực nhiều nhất. Do đó, phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong bối cảnh chuyển đổi số phải đặt công tác giáo dục lý luận chính trị vào vị trí nền tảng.

5. Một số giải pháp phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong bảo vệ môi trường thời kỳ chuyển đổi số

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị gắn với bồi dưỡng tri thức số, đạo đức số và ý thức sinh thái cho thanh niên quân đội. Đây là giải pháp giữ vai trò nền tảng. Thấm nhuần chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011b, tr. 528), cần đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục theo hướng tích hợp giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về phát triển bền vững và chuyển đổi số với việc trang bị năng lực số, tư duy phản biện khoa học và văn hóa sinh thái. Về hình thức, cần tăng tỷ trọng các buổi trao đổi, tọa đàm, xử lý tình huống thực tế thay cho lối truyền thụ một chiều; đưa nội dung nhận diện thông tin xấu, độc về môi trường vào sinh hoạt chính trị định kỳ. Mục tiêu là xây dựng thế hệ thanh niên Quân đội vững vàng về chính trị, giỏi về công nghệ và có trách nhiệm với môi trường, đủ bản lĩnh làm chủ công nghệ, miễn nhiễm trước thông tin xấu, độc.

Hai là, phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên trong quân đội; xây dựng, nhân rộng các mô hình, công trình thanh niên ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào bảo vệ môi trường, như hệ thống quan trắc thông minh, doanh trại thông minh theo hướng xanh, bản đồ số về môi trường và tài nguyên khu vực đóng quân. Cần biến các phong trào thành hoạt động thực chất, có tiêu chí đánh giá cụ thể và cơ chế duy trì sau khi mô hình được nghiệm thu, tránh hình thức, chạy theo số lượng. Việc xây dựng, nhân rộng mô hình phải bám sát yêu cầu của Điều lệ công tác bảo vệ môi trường của Quân đội nhân dân Việt Nam về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong toàn quân, đồng thời phù hợp với điều kiện cụ thể của từng loại hình đơn vị.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý môi trường quốc phòng và hoạt động nghiên cứu khoa học trẻ. Cần đầu tư, hoàn thiện hạ tầng số và cơ sở dữ liệu môi trường của các đơn vị; chuẩn hóa quy trình thu thập, cập nhật, khai thác dữ liệu; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trẻ có năng lực số đáp ứng yêu cầu vận hành các hệ thống này. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích, tôn vinh kịp thời các sáng kiến công nghệ xanh, giải pháp tiết kiệm năng lượng, xử lý rác thải điện tử do thanh niên đề xuất, và tạo điều kiện để những sáng kiến có giá trị được ứng dụng rộng rãi thay vì dừng lại ở phạm vi một đơn vị.

Bốn là, phát huy vai trò xung kích của thanh niên quân đội trên không gian mạng trong tuyên truyền, bảo vệ môi trường và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần tổ chức, định hướng để thanh niên chủ động sản xuất và lan tỏa nội dung tích cực về bảo vệ môi trường, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc; gắn nhiệm vụ này với hoạt động của các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng ở đơn vị. Song song, phải bồi dưỡng kỹ năng kiểm chứng nguồn tin, nhận diện thông tin do máy tạo sinh, đồng thời tuân thủ nghiêm quy định về bảo vệ bí mật quân sự và kỷ luật phát ngôn.

Năm là, chú trọng quản lý, hạn chế mặt trái của công nghệ số đối với môi trường và con người. Ở phương diện kỹ thuật, cần thực hành tiết kiệm năng lượng số, quản lý và xử lý rác thải điện tử theo quy định, bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu môi trường gắn với dữ liệu quốc phòng. Ở phương diện con người, cần tăng cường các hoạt động thực tiễn, trải nghiệm thiên nhiên, lao động sản xuất và công tác dân vận để cân bằng đời sống số, bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên và kỹ năng lao động cho thanh niên – những giá trị không thể hình thành qua màn hình.

Các giải pháp trên có quan hệ chặt chẽ, trong đó giáo dục lý luận chính trị là nền tảng, phát huy vai trò tổ chức Đoàn và ứng dụng công nghệ là phương thức, quản lý mặt trái của công nghệ là điều kiện. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ giúp thanh niên Quân đội vừa làm chủ công nghệ, vừa giữ vững bản lĩnh, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ môi trường.

6. Kết luận

Nghiên cứu vấn đề phát huy vai trò của thanh niên quân đội trong bảo vệ môi trường dưới tác động của chuyển đổi số cho thấy, công nghệ không tự quyết định được chất lượng môi trường, mà chính phương thức con người làm chủ và định hướng công nghệ mới giữ vai trò quyết định. Cách tiếp cận này đặt nhân tố chính trị – tư tưởng vào vị trí trung tâm của một vấn đề thường được xem là thuần túy kỹ thuật, và đó cũng là đóng góp chủ yếu của bài viết.

Ý nghĩa thực tiễn của kết quả nghiên cứu thể hiện ở chỗ hệ giải pháp đề xuất có thể được vận dụng trong xây dựng kế hoạch công tác Đoàn và phong trào thanh niên, trong đổi mới nội dung giáo dục chính trị ở đơn vị cơ sở, cũng như trong xây dựng các mô hình bảo vệ môi trường gắn với chuyển đổi số. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bao gồm: xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả phát huy vai trò của thanh niên Quân đội trong bảo vệ môi trường; khảo sát định lượng mức độ tác động của môi trường số đến ý thức sinh thái của quân nhân trẻ; và tổng kết thực tiễn các mô hình doanh trại xanh gắn với công nghệ số ở những loại hình đơn vị khác nhau. Đây là hướng nghiên cứu góp phần xây dựng thế hệ thanh niên quân đội “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Quốc phòng (2026). Văn bản hợp nhất số 49/VBHN-BQP ngày 27/5/2026 về Điều lệ công tác bảo vệ môi trường của Quân đội nhân dân Việt Nam.
C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (2000). Tập 42. H. NXB Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh toàn tập (2011a). Tập 5. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh toàn tập (2011b). Tập 11. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2020). Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Tổng cục Chính trị (2025). Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.