Improving the quality of mass mobilization work at grassroots units of Military Region 2 in preventing and countering the “peaceful evolution” strategy
Trung tá Hoàng Ngọc Dương
NCS, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: hoangngocduong1988@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong củng cố mối quan hệ quân – dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng và chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trên cơ sở làm rõ đặc điểm địa bàn, yêu cầu nhiệm vụ và thực trạng công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Từ khóa: Công tác dân vận; đơn vị cơ sở Quân khu 2; “diễn biến hòa bình”; “thế trận lòng dân”; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Abstract: Mass mobilization work of the Vietnam People’s Army in general, and of grassroots units of Military Region 2 in particular, plays an important role in strengthening the flesh-and-blood relationship between the army and the people, building a solid “people’s heart posture”, defending the Party’s ideological front, and defeating the “peaceful evolution” schemes of hostile forces. Based on the analysis of local characteristics, mission requirements and the current state of mass mobilization work in grassroots units of Military Region 2, the article proposes key solutions to improve the quality of this work, meeting the requirements of building a politically strong Army and firmly defending the Fatherland in the new context.
Keywords: Mass mobilization work; grassroots units of Military Region 2; “peaceful evolution”; “people’s heart posture”; building a politically strong Army.
1. Đặt vấn đề
Quân khu 2 là địa bàn chiến lược ở khu vực Tây Bắc của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh. Địa bàn Quân khu rộng, chủ yếu là đồi núi, nhiều vùng sâu, vùng xa; điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên chịu tác động của lũ ống, lũ quét, sạt lở đất; trên 53% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Điều kiện kinh tế – xã hội và trình độ dân trí giữa các khu vực còn chưa đồng đều, đời sống của một bộ phận Nhân dân còn khó khăn. Những đặc điểm này vừa đặt ra yêu cầu cao đối với nhiệm vụ xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, vừa tạo những vấn đề cần quan tâm trong công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp quần chúng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn.
Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Địa bàn Tây Bắc với những đặc điểm về dân cư, dân tộc, tôn giáo, điều kiện kinh tế – xã hội và vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh tiếp tục là địa bàn cần chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động chống phá. Vì vậy, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, củng cố niềm tin và mối quan hệ gắn bó giữa Quân đội với Nhân dân có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa, hạn chế tác động của các hoạt động chống phá ngay từ cơ sở.
Đơn vị cơ sở Quân khu 2 là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; tổ chức thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị và tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Đồng thời, đây là lực lượng thường xuyên gắn bó với cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương, trực tiếp tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thông qua những hoạt động đó, công tác dân vận góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân, tạo sự đồng thuận xã hội và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, các đơn vị cơ sở Quân khu 2 đã triển khai nhiều nội dung, hình thức công tác dân vận tương đối phong phú, thiết thực, phù hợp với đặc điểm địa bàn và nhiệm vụ của từng đơn vị, qua đó, góp phần củng cố cơ sở chính trị địa phương, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Tuy nhiên, trước sự gia tăng về mức độ tinh vi, phức tạp của các hoạt động chống phá và yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 cần tiếp tục được đổi mới về nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng nhằm phát huy vai trò của công tác dân vận trong củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững trận địa tư tưởng và góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên địa bàn.
2. Sự cần thiết nâng cao chất lượng công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”
Công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 là tổng thể các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chi bộ, chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ, chiến sĩ và các tổ chức, lực lượng trong đơn vị nhằm tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân – dân; tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn; qua đó, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” và phòng ngừa, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 234). Theo Người, cán bộ làm công tác dân vận phải có phương pháp phù hợp, xuất phát từ thực tiễn đời sống của Nhân dân, thể hiện qua yêu cầu: “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 233-234). Tư tưởng đó cho thấy, công tác dân vận không chỉ là hoạt động tuyên truyền, vận động đơn thuần mà đòi hỏi cán bộ phải sâu sát thực tiễn, hiểu dân, gần dân và bằng hành động cụ thể tạo dựng niềm tin của Nhân dân.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác dân vận là một nội dung cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, góp phần thể hiện bản chất, truyền thống “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu” của Quân đội. Chất lượng công tác dân vận ở đơn vị cơ sở có tác động trực tiếp đến việc củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân, xây dựng cơ sở chính trị và phát huy sức mạnh của Nhân dân trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
3. Thực trạng công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2
3.1. Những kết quả đạt được
Những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nhiều nội dung, hình thức công tác dân vận, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, xây dựng địa bàn an toàn và tạo cơ sở xã hội để phòng ngừa, hạn chế tác động của các hoạt động chống phá.
Một là, công tác dân vận góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân, xây dựng và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Thông qua tuyên truyền, vận động, giúp đỡ Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện chính sách an sinh xã hội, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị ngày càng gắn bó với Nhân dân, nhất là ở những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những việc làm cụ thể, thiết thực của cán bộ, chiến sĩ góp phần tạo dựng niềm tin, củng cố sự đồng thuận và làm sâu sắc hơn mối quan hệ gắn bó quân – dân. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng “thế trận lòng dân” trên địa bàn Quân khu 2. Trong điều kiện các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng những khó khăn về kinh tế – xã hội và các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, việc củng cố niềm tin của Nhân dân có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng phòng ngừa, hạn chế tác động của thông tin xuyên tạc và các hoạt động chống phá từ cơ sở.
Hai là, công tác dân vận góp phần phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Thông qua tuyên truyền, vận động và các hoạt động phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, Nhân dân được nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện, chủ động phòng ngừa các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá.
Thực hiện phương châm bám địa bàn, gần dân, sát dân, các đơn vị cơ sở Quân khu 2 đã chủ động nắm tình hình, kịp thời phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở. Các đơn vị biên phòng trên địa bàn tích cực tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phối hợp xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh. Các đoàn kinh tế – quốc phòng triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định dân cư, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ở những địa bàn khó khăn. Qua đó, công tác dân vận không chỉ góp phần giải quyết những vấn đề dân sinh mà còn tạo nền tảng xã hội vững chắc cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Ba là, công tác dân vận được triển khai bằng nhiều mô hình, cách làm thiết thực, phù hợp với đặc điểm địa bàn, tạo hiệu quả chính trị – xã hội và góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân. Các đơn vị đã triển khai nhiều phong trào, mô hình, như: “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Dân vận khéo”, “Đơn vị dân vận tốt”, “Quân đội chung tay vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Nhà Đồng đội”, “Nhà Tình nghĩa”, “Làng bản văn hóa – quốc phòng”… Đối với các đơn vị biên phòng, nhiều mô hình có ý nghĩa thiết thực được triển khai, như: “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Nâng bước em tới trường – Con nuôi đồn Biên phòng”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Lớp học xóa mù chữ”, “Quân dân liên kết bảo đảm an ninh trật tự”, “Tiếng loa Biên phòng”… Các đoàn kinh tế – quốc phòng triển khai những mô hình như “Cơm nóng cho em tới trường”, “Con nuôi đội sản xuất”, “Ngôi nhà Tình quân dân”, “Chắp cánh ước mơ”…, góp phần ổn định dân cư, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.
Những kết quả trên được thể hiện qua các số liệu cụ thể: Giai đoạn 2020 – 2025, Quân khu 2 đã phối hợp tuyên truyền, vận động 15.655 buổi, với 1.070.633 lượt người dân tham gia; cử 34.197 lượt cán bộ, chiến sĩ xuống 32.334 thôn, bản để nắm tình hình. Các đơn vị đã giúp Nhân dân làm mới, tu sửa 2.346 km đường giao thông nông thôn, 1.023 km kênh mương thủy lợi; hỗ trợ phát triển sản xuất, sửa chữa, làm mới 1.459 nhà và 39 cầu các loại; xây dựng, sửa chữa 519 lớp học; vận động 4.988 học sinh trở lại trường; nhận đỡ đầu 727 học sinh là con nuôi đồn biên phòng (Đảng ủy Quân khu 2, 2025). Những kết quả này cho thấy, công tác dân vận đã được gắn với giải quyết các vấn đề thiết thực của đời sống Nhân dân, qua đó, góp phần tạo dựng niềm tin, tăng cường sự đồng thuận và củng cố nền tảng xã hội ở cơ sở.
Bốn là, công tác dân vận góp phần xây dựng sức mạnh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng “tự đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch của cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở Quân khu 2. Thông qua giáo dục chính trị, tuyên truyền, vận động và hoạt động thực tiễn tại địa bàn, cán bộ, chiến sĩ có điều kiện nhận thức sâu sắc hơn quan điểm “dân là gốc”, bản chất, truyền thống của Quân đội và trách nhiệm của quân nhân trong giữ gìn, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Quá trình gần dân, sát dân, thực hiện công tác dân vận cũng giúp cán bộ, chiến sĩ nâng cao khả năng nắm bắt tình hình tư tưởng, nhận diện những vấn đề nảy sinh từ cơ sở; đồng thời, củng cố bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý thức trách nhiệm trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.
Từ đó, công tác dân vận không chỉ hướng tới củng cố niềm tin của Nhân dân mà còn góp phần xây dựng bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ; phòng ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là yếu tố quan trọng để xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới.
3.2. Một số hạn chế bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vận ở một số đơn vị cơ sở Quân khu 2 vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới.
Một là, nhận thức của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ về vị trí, vai trò và trách nhiệm đối với công tác dân vận chưa thật đầy đủ. Ở một số đơn vị, vẫn còn quân nhân nhận thức công tác dân vận chủ yếu thuộc trách nhiệm của cơ quan chính trị hoặc lực lượng chuyên trách, trong khi chưa thấy đầy đủ đây là trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy và mọi cán bộ, chiến sĩ. Nhận thức chưa đầy đủ có thể dẫn đến việc triển khai công tác dân vận thiếu tính chủ động, chưa gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ của từng cá nhân và yêu cầu phòng, chống “diễn biến hòa bình” ngay từ địa bàn cơ sở.
Hai là, nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành công tác dân vận ở một số đơn vị chậm đổi mới, chưa theo kịp sự thay đổi của địa bàn và phương thức tác động mới. Một số hoạt động còn thiên về tuyên truyền theo phương thức truyền thống, chưa khai thác đầy đủ các hình thức truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện tiếp nhận thông tin của Nhân dân. Trong khi đó, các hoạt động xuyên tạc, kích động, chia rẽ trên không gian mạng có tốc độ lan truyền nhanh, nội dung và phương thức ngày càng đa dạng, đòi hỏi công tác dân vận phải chủ động hơn trong nắm bắt tình hình, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và tạo sự đồng thuận từ cơ sở.
Ba là, chất lượng và hiệu quả công tác dân vận giữa các đơn vị, địa bàn còn chưa đồng đều. Việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề phát sinh trong đời sống Nhân dân ở một số địa bàn có lúc chưa kịp thời; khả năng dự báo và tham mưu giải quyết một số vấn đề nảy sinh từ cơ sở còn hạn chế. Trong điều kiện địa bàn rộng, dân cư phân tán, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và điều kiện kinh tế – xã hội giữa các khu vực còn khác nhau, những hạn chế này có thể làm giảm hiệu quả tuyên truyền, vận động và khả năng tạo đồng thuận xã hội. Đây cũng là điều kiện để các thông tin sai lệch, xuyên tạc, nhất là những thông tin lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và những khó khăn trong đời sống, tác động đến nhận thức của một bộ phận người dân nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.
Bốn là, năng lực, kỹ năng công tác dân vận của một số cán bộ chưa đồng đều, nhất là kỹ năng nắm bắt, phân tích và xử lý thông tin từ cơ sở. Đặc thù Quân khu 2 đòi hỏi cán bộ làm công tác dân vận không chỉ nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn phải am hiểu phong tục, tập quán, đặc điểm văn hóa của từng dân tộc, có kỹ năng giao tiếp, vận động quần chúng và xử lý các tình huống phát sinh ở cơ sở. Trong khi đó, khả năng sử dụng các phương tiện truyền thông số, nhận diện và phản ứng trước thông tin sai lệch, xuyên tạc trên không gian mạng của một số cán bộ còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng nhất định đến tính chủ động, kịp thời và hiệu quả của công tác dân vận trong điều kiện mới.
4. Một số giải pháp
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng về vị trí, vai trò của công tác dân vận trong xây dựng “thế trận lòng dân”, phòng, chống “diễn biến hòa bình”.
Các đơn vị cơ sở Quân khu 2 cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về công tác dân vận; trong đó chú trọng Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Quyết định số 23-QĐ/TW ngày 30/7/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26/01/2015 của Quân ủy Trung ương về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới; Quy chế số 718-QC/QUTW ngày 05/11/2021 của Quân ủy Trung ương về công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam và các chủ trương, đề án có liên quan.
Trên cơ sở đặc điểm địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần cụ thể hóa các chủ trương, quy định về công tác dân vận vào nghị quyết lãnh đạo, chương trình, kế hoạch công tác; xác định rõ nội dung, chỉ tiêu, lực lượng thực hiện và trách nhiệm của từng cấp, từng cán bộ. Đồng thời, đổi mới nội dung giáo dục, quán triệt để cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ rằng công tác dân vận không chỉ là tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách mà còn là quá trình xây dựng niềm tin, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân, phát huy sức mạnh của Nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Cần khắc phục nhận thức coi công tác dân vận là nhiệm vụ riêng của cơ quan chính trị hoặc cán bộ chuyên trách; đề cao trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ trong quan hệ với Nhân dân. Nội dung giáo dục cần gắn với những vấn đề thực tiễn trên địa bàn, nhất là các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống xã hội và thông tin trên không gian mạng có nguy cơ bị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chia rẽ. Qua đó, nâng cao khả năng nhận diện, phòng ngừa và chủ động xử lý những tác động tiêu cực, không để bị động, bất ngờ trước các tình huống phát sinh từ cơ sở.
Hai là, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp công tác dân vận phù hợp với đặc điểm địa bàn, đối tượng của đơn vị cơ sở Quân khu 2.
Trước những thay đổi của tình hình và phương thức chống phá ngày càng đa dạng, tinh vi, công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 cần được đổi mới theo hướng thiết thực, cụ thể, sát địa bàn, sát đối tượng và lấy hiệu quả củng cố niềm tin của Nhân dân làm một trong những tiêu chí đánh giá. Nội dung và phương thức dân vận cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm dân cư, văn hóa, phong tục, tập quán và điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa bàn, từng nhóm đối tượng; tránh cách làm đồng loạt, hành chính hóa hoặc nặng về tuyên truyền một chiều.
Đối với cán bộ, chiến sĩ, cần gắn công tác dân vận với giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý thức trách nhiệm trong giữ gìn phẩm chất, uy tín của người quân nhân cách mạng; nâng cao khả năng nhận diện, phòng ngừa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện và đấu tranh với thông tin sai lệch, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đối với Nhân dân, cần kết hợp tuyên truyền, vận động với giải quyết những vấn đề thiết thực của đời sống; tăng cường đối thoại, lắng nghe và giải đáp những vấn đề Nhân dân quan tâm. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào những vấn đề dễ bị lợi dụng để chống phá, như: dân tộc, tôn giáo, di cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép và thông tin xuyên tạc trên không gian mạng; giúp Nhân dân nâng cao khả năng nhận diện thông tin sai lệch, chủ động phòng ngừa và không bị lôi kéo vào các hoạt động vi phạm pháp luật.
Tiếp tục phát huy hiệu quả các mô hình “Dân vận khéo”, “Đơn vị dân vận tốt”, “Nâng bước em tới trường – Con nuôi đồn Biên phòng”, “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Làng bản văn hóa – quốc phòng”…; đồng thời, thường xuyên đánh giá hiệu quả thực chất của từng mô hình để lựa chọn, nhân rộng những cách làm phù hợp. Kết hợp công tác dân vận thường xuyên với hành quân dã ngoại làm công tác dân vận, tăng cường cán bộ cho cơ sở, phân công cán bộ theo dõi, giúp đỡ các hộ gia đình khó khăn; chú trọng duy trì mối quan hệ với Nhân dân, tránh tình trạng dân vận theo đợt, hình thức hoặc thiếu tính bền vững.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Các đơn vị cơ sở Quân khu 2 cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, phương pháp và tác phong công tác khoa học, sâu sát cơ sở. Chú trọng lựa chọn, bố trí cán bộ có năng lực, trách nhiệm, tâm huyết với công tác dân vận; ưu tiên các địa bàn trọng điểm, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn có vấn đề phức tạp về dân tộc, tôn giáo.
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với yêu cầu thực tiễn, tập trung vào kiến thức về địa bàn, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo; kỹ năng tuyên truyền, vận động, đối thoại, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và xử lý các tình huống phát sinh ở cơ sở. Đối với cán bộ trực tiếp làm công tác dân vận, cần chú trọng năng lực nắm tình hình Nhân dân, quan hệ dòng họ, đặc điểm tâm lý – xã hội của cộng đồng; kỹ năng phối hợp với cấp ủy, chính quyền, già làng, trưởng bản, người có uy tín và các lực lượng nòng cốt trong cộng đồng.
Cùng với bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn, cần rèn luyện tác phong công tác dân chủ, gần gũi, tôn trọng và có trách nhiệm với Nhân dân. Cán bộ làm công tác dân vận phải thực sự sâu sát cơ sở, nói đi đôi với làm, lấy hiệu quả giải quyết những vấn đề chính đáng của Nhân dân và mức độ đồng thuận của cộng đồng làm cơ sở đánh giá chất lượng công tác. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự là cầu nối giữa đơn vị với Nhân dân, góp phần củng cố cơ sở chính trị, tăng cường đoàn kết quân – dân và phòng ngừa từ sớm những yếu tố có thể bị lợi dụng để chống phá. Do vậy, cần thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ công tác ở địa bàn khó khăn; tạo điều kiện để cán bộ yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với cơ sở. Đây là cơ sở để tích lũy kinh nghiệm, xây dựng uy tín và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ dân vận, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Bốn là, tăng cường phối hợp giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân địa phương trong xây dựng cơ sở chính trị, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc.
Các đơn vị cần tiếp tục duy trì, nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương; thường xuyên trao đổi thông tin, nắm chắc tình hình địa bàn, chủ động dự báo và phối hợp giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh liên quan đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện, di cư tự do, xuất nhập cảnh trái phép và những vấn đề khác có khả năng tác động đến ổn định địa bàn. Quá trình phối hợp cần bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng lực lượng, tránh chồng chéo hoặc hành chính hóa công tác dân vận.
Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc, chức việc tôn giáo và các lực lượng nòng cốt trong cộng đồng trong tuyên truyền, vận động Nhân dân. Đây là những cầu nối quan trọng giúp truyền tải chủ trương, chính sách, pháp luật đến Nhân dân, đồng thời phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân với cấp ủy, chính quyền và đơn vị quân đội. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên, thực chất, bảo đảm những vấn đề phát sinh từ cơ sở được phát hiện, phản ánh và xử lý kịp thời.
Công tác dân vận cần được gắn với tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, hỗ trợ Nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, thực hiện chính sách xã hội, chăm lo gia đình chính sách, người có công. Thông qua những hoạt động thiết thực, tiếp tục củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội và tạo nền tảng chính trị – xã hội vững chắc để phòng ngừa, đấu tranh với âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và quan hệ quân – dân.
Bên cạnh đó, cần tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá thực chất kết quả công tác dân vận; chú trọng đánh giá mức độ phù hợp của nội dung, phương thức dân vận với từng địa bàn, đối tượng và kết quả thực tế trong xây dựng quan hệ quân – dân. Kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập, nhất là biểu hiện dân vận hình thức, hành chính hóa, thiếu sâu sát cơ sở hoặc chưa nắm chắc tình hình Nhân dân, để điều chỉnh phương pháp tổ chức thực hiện. Qua đó, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc và chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên địa bàn Quân khu 2.
Năm là, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trên không gian mạng, chủ động định hướng thông tin và phòng ngừa tác động của các hoạt động chống phá.
Trong điều kiện không gian mạng ngày càng tác động sâu rộng đến nhận thức, thái độ và hành vi của người dân, nhất là ở những địa bàn mà khả năng tiếp cận thông tin trực tuyến ngày càng gia tăng, công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 cần được mở rộng và đổi mới theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa dân vận trực tiếp với dân vận trên không gian mạng. Các đơn vị cần chủ động nắm bắt thông tin, dư luận xã hội và những vấn đề Nhân dân quan tâm trên các nền tảng số; kịp thời phát hiện những thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động liên quan đến tình hình địa bàn, dân tộc, tôn giáo, chính sách của Đảng, Nhà nước và hoạt động của Quân đội để tham mưu, phối hợp xử lý theo đúng chức năng, nhiệm vụ và quy định.
Cùng với việc nâng cao năng lực nhận diện, phân tích và xử lý thông tin cho cán bộ, chiến sĩ, cần chủ động cung cấp thông tin chính thống, dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng và đặc điểm văn hóa, xã hội của địa bàn. Phát huy hiệu quả các kênh thông tin của đơn vị và phối hợp với cơ quan báo chí, truyền thông, chính quyền địa phương trong tuyên truyền những chủ trương, chính sách mới, kết quả phát triển kinh tế – xã hội, hoạt động quốc phòng, an ninh và những việc làm thiết thực của cán bộ, chiến sĩ giúp đỡ Nhân dân. Chú trọng sử dụng hình thức trực quan, ngắn gọn, dễ tiếp nhận, trong đó có video, hình ảnh và các sản phẩm truyền thông số phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của người dân.
Công tác dân vận trên không gian mạng cần gắn với phương châm “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, không chỉ tập trung truyền đạt thông tin một chiều mà phải tạo điều kiện để tiếp nhận, tổng hợp và phản ánh những tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của Nhân dân. Những vấn đề phát sinh trên môi trường mạng có liên quan đến đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân cần được phối hợp xác minh, giải thích và xử lý kịp thời, tránh để khoảng trống thông tin tạo điều kiện cho thông tin sai lệch, xuyên tạc lan truyền.
Đồng thời, tăng cường giáo dục kỹ năng sử dụng mạng xã hội, ý thức chấp hành pháp luật và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ khi tham gia môi trường mạng; thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật quân sự, bí mật nhà nước và phát ngôn trên không gian mạng. Phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, góp phần nâng cao khả năng tự phòng ngừa, tự nhận diện thông tin sai lệch của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân. Qua đó, từng bước hình thành môi trường thông tin lành mạnh, củng cố niềm tin xã hội, tăng cường “thế trận lòng dân” và góp phần làm giảm hiệu quả tác động của các hoạt động xuyên tạc, kích động, chia rẽ trên không gian mạng.
5. Kết luận
Nâng cao chất lượng công tác dân vận ở đơn vị cơ sở Quân khu 2 là yêu cầu thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong củng cố mối quan hệ đoàn kết quân – dân, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Trong bối cảnh các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nhất là trên không gian mạng, công tác dân vận cần được đổi mới theo hướng chủ động, thực chất, sát cơ sở và phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, đối tượng. Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ với lắng nghe, giải quyết kịp thời những vấn đề chính đáng của Nhân dân; giữa dân vận trực tiếp với dân vận trên không gian mạng; giữa hoạt động của đơn vị với sự phối hợp của cấp ủy, chính quyền và các lực lượng ở địa phương.
Thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức, trách nhiệm; đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận; tăng cường phối hợp với địa phương và nâng cao hiệu quả dân vận trên không gian mạng sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo nền tảng xã hội vững chắc để chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021). Quyết định số 23-QĐ/TW ngày 30/7/2021 về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.
Bộ Quốc phòng (2024). Kết luận số 5113/KL-BQP ngày 22/11/2024 về việc tiếp tục thực hiện Đề án “Quân đội phòng, chống ‘diễn biến hòa bình’ trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới”.
Bùi Xuân Huấn (27/3/2025). Phát huy vai trò công tác dân vận của bộ chỉ huy quân sự tỉnh trên địa bàn Quân khu 1 trong bối cảnh mới. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/03/27/phat-huy-vai-tro-cong-tac-dan-van-cua-bo-chi-huy-quan-su-tinh-tren-dia-ban-quan-khu-1-trong-boi-canh-moi/
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I & II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng ủy Quân khu 2 (2025). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa IX tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ X, nhiệm kỳ 2025 – 2030, ngày 19/8/2025.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quân ủy Trung ương (2015). Nghị quyết số 49-NQ/QUTW ngày 26/01/2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Quân đội trong tình hình mới.
Quân ủy Trung ương (2021). Quy chế số 718-QC/QUTW ngày 05/11/2021 về công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam.



