New productive forces in Vietnam in the context of digital transformation
ThS. Vũ Thị Thảo
Trường Đại học Dược Hà Nội
Email: vuthaok53@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết nghiên cứu sự phát triển của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0. Trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm mới của Đảng, tác giả phân tích sự biến đổi sâu sắc ở cả ba yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất là người lao động, tư liệu sản xuất và đối tượng lao động. Từ việc chỉ ra các thời cơ chiến lược và thách thức cấu trúc, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tạo động lực đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: Lực lượng sản xuất mới; chuyển đổi số; thời cơ chiến lược; thách thức cấu trúc; Việt Nam.
Abstract: This article examines the development of new productive forces in Vietnam amid digital transformation and the Fourth Industrial Revolution. Drawing on Marxist-Leninist theory and the Party’s new perspectives, the author analyzes the profound transformations across all three components of productive forces: the workforce, the means of production, and the objects of labor. By identifying strategic opportunities and structural challenges, the article proposes a comprehensive set of solutions designed to drive the country’s breakthrough in this new era of development.
Keywords: New productive forces; digital transformation; strategic opportunities; structural challenges; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự bứt phá của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học… không chỉ làm biến đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mà còn thúc đẩy sự hình thành lực lượng sản xuất mới, lấy tri thức, dữ liệu và năng lực đổi mới sáng tạo làm động lực cốt lõi. Phát triển lực lượng sản xuất mới gắn liền với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn đơn thuần mà trở thành yêu cầu khách quan, nhân tố quyết định tốc độ và chất lượng phát triển bứt phá của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam, sự phát triển của lực lượng sản xuất mới là kết quả vận động tất yếu từ tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn kết với chiến lược phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi số quốc gia. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng đặt ra yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Việc luận giải làm rõ bối cảnh, thực trạng của lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số từ đó đề xuất giải pháp có ý nghĩa cấp thiết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
2. Bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu đặt ra với lực lượng sản xuất
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, lực lượng sản xuất là sự thống nhất giữa người lao động và tư liệu sản xuất trong quá trình tác động vào tự nhiên, tạo ra của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự phát triển của tư liệu lao động thích ứng với bản thân con người, với sự phát triển văn hoá, khoa học, kỹ thuật của họ.
Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và các nền tảng số đã tạo ra bước nhảy vọt chưa từng có trong lực lượng sản xuất, làm thay đổi sâu sắc vị trí và vai trò của khoa học đối với nền kinh tế. Thực chất của giai đoạn phát triển hiện nay là sự chuyển dịch từ sản xuất tự động hóa cơ khí – điện tử sang sản xuất thông minh dựa trên nền tảng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vạn vật kết nối vạn năng và công nghệ số tiên tiến.
Sự hội tụ của công nghệ số và công nghệ sinh học tạo ra những ngành sản xuất hoàn toàn mới (như kinh tế số, công nghiệp bán dẫn, công nghệ lượng tử), tạo ra các vật liệu thông minh và nguồn năng lượng sạch thế hệ mới. Đặc biệt, chức năng của người lao động đã bước sang một bước ngoặt mới khi người lao động không chỉ dừng lại ở việc điều khiển các hệ thống tự động, mà trở thành chủ thể sáng tạo các thuật toán, quản trị hệ thống thông minh và khai thác tài nguyên dữ liệu. Tri thức khoa học được mã hóa thành dữ liệu, thuật toán và được kết tinh vào toàn bộ cấu trúc của lực lượng sản xuất mới.
Nghị quyết số 57-NQ/TW khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2024).
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra 2 yêu cầu cốt lõi đối với lực lượng sản xuất trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, đối với người lao động, nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu hình thành nguồn nhân lực số chất lượng cao. Trong kỷ nguyên mới, người lao động không chỉ dừng lại ở việc thao tác kỹ thuật truyền thống như trước đây mà phải chuyển đổi tư duy sang làm chủ công nghệ, có khả năng sáng tạo thuật toán, quản trị hệ thống thông minh và khai thác tài nguyên dữ liệu. Những yêu cầu này đòi hỏi lực lượng lao động phải liên tục tự đổi mới, tái đào tạo và duy trì kỹ năng tự học suốt đời để thích ứng linh hoạt với chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng rút ngắn.
Thứ hai, đối với tư liệu sản xuất, Nghị quyết 57 số 57-NQ/TW xác định sự chuyển dịch cơ bản trong cấu trúc tư liệu sản xuất, trong đó dữ liệu lớn (Big Data) đóng vai trò là tư liệu sản xuất mới, còn hạ tầng số trở thành tư liệu lao động cốt lõi. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa, cộng hưởng sâu sắc giữa con người và trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo nên phương thức sản xuất hiện đại, qua đó, thay đổi căn bản cách thức tạo ra của cải vật chất và nâng cao năng suất xã hội.
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để khơi thông, giải phóng và thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất mới. Lực lượng sản xuất mới trong giai đoạn hiện nay không đơn thuần là sự gia tăng về quy mô của các yếu tố truyền thống mà là một chỉnh thể cấu trúc hiện đại dựa trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Trong đó, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, năng lực đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái nguồn nhân lực số đóng vai trò là những nhân tố cốt lõi, quyết định phương thức sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Việt Nam đang đứng trước những thời cơ chiến lược chưa từng có để hình thành và phát triển lực lượng sản xuất mới. Quá trình chuyển đổi số quốc gia, cùng với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế, nơi các yếu tố cốt lõi như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng số trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo. Đây là thời cơ để nước ta tận dụng lợi thế đi sau, bứt phá vượt qua bẫy thu nhập trung bình thông qua việc tiếp nhận, làm chủ và sáng tạo các công nghệ tiên tiến.
Bên cạnh đó, sự chuyển dịch của khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã tái cấu trúc toàn diện thành phần của lực lượng lao động hiện đại. Trong kỷ nguyên kinh tế số, phạm vi của người lao động không còn bị giới hạn bởi sự phân biệt truyền thống giữa lao động chân tay và lao động trí óc, mà đã tiến tới sự tích hợp hữu cơ giữa các nhóm nhân lực có hàm lượng tri thức cao. Lực lượng này bao gồm các chuyên gia phát triển thuật toán, kỹ sư dữ liệu, chuyên gia AI, cùng đội ngũ vận hành hệ thống thông minh và an ninh mạng, họ trực tiếp sáng tạo, quản trị và tối ưu hóa các quy trình sản xuất tự động. Đáng chú ý, vị thế của người lao động hiện nay không chỉ là sự tham gia trực tiếp vào khâu vận hành kỹ thuật, mà là khả năng làm chủ công nghệ, năng lực tư duy phản biện để đưa ra các quyết định sáng tạo, và khả năng thích ứng linh hoạt trong môi trường tương tác giữa con người và hệ thống trí tuệ nhân tạo (Human-AI collaboration).
Quá trình hình thành và phát triển lực lượng sản xuất mới tại Việt Nam cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức lớn. Đó không chỉ là khoảng cách về hạ tầng công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo so với các quốc gia đi đầu, mà còn là những thách thức mang tính cấu trúc từ thể chế kinh tế, thị trường lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Tốc độ thay đổi chóng mặt của khoa học – công nghệ đặt ra áp lực lớn về việc tái cấu trúc toàn diện hệ thống quan hệ sản xuất và nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ công nghệ của nền kinh tế.
Mặt khác, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng đang đặt ra yêu cầu cấp bách về việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế quốc gia. Dưới tác động mạnh mẽ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bứt phá của các công cụ sản xuất trong nền kinh tế số đã tạo ra những biến đổi căn bản trong cấu trúc lực lượng sản xuất, qua đó đặt ra yêu cầu phải giải quyết những mâu thuẫn biện chứng mới nảy sinh với quan hệ sản xuất hiện hữu. Sự vận động này vừa tạo tiền đề, động lực cho việc hình thành phương thức sản xuất mới, vừa đòi hỏi phải đổi mới tư duy, thay đổi toàn diện phương thức tổ chức sản xuất, quản trị phát triển và quản lý xã hội.
Bên cạnh thách thức của quá trình phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên số còn nằm ở sự thích ứng và yêu cầu tự đổi mới không ngừng của người lao động. Nếu như trong các phương thức sản xuất truyền thống, kỹ năng nghề nghiệp có độ ổn định cao và ít biến động qua thời gian thì dưới tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chu kỳ sống của tri thức và công nghệ đang bị rút ngắn lại với tốc độ chóng mặt. Sự thay đổi mang tính cấp số nhân của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và dữ liệu lớn đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa yêu cầu vận hành của phương thức sản xuất mới với năng lực đáp ứng của nguồn nhân lực hiện tại. Công nghệ liên tục được nâng cấp đòi hỏi người lao động không chỉ dừng lại ở việc thích nghi thụ động, mà phải liên tục tự đổi mới, thực hiện tái đào tạo và hình thành kỹ năng tự học suốt đời. Nếu không chủ động chuyển dịch từ tư duy thao tác kỹ thuật truyền thống sang tư duy làm chủ công nghệ, cộng tác cùng hệ thống thông minh và khai thác dữ liệu, người lao động sẽ nhanh chóng rơi vào nguy cơ tụt lại phía sau.
3. Thực trạng phát triển lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam
Trong thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay, sự vận động của lực lượng sản xuất mới đang biểu hiện sinh động thông qua sự biến đổi sâu sắc, mang tính cách mạng ở tất cả các yếu tố cấu thành: người lao động, tư liệu sản xuất và phương thức lao động.
Thứ nhất, về người lao động trong lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam
Hiện nay, lực lượng lao động Việt Nam ước đạt 53,2 triệu người vào năm 2025, với cơ cấu chuyển dịch tích cực; tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm mạnh, còn 25,2%, chất lượng nguồn nhân lực không ngừng nâng cao với 70% lao động qua đào tạo. Nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong các lĩnh vực then chốt, như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin được tập trung phát triển, bước đầu hình thành đội ngũ lao động với tư duy số và kỹ năng số ngày càng được nâng cao (Cục Thống kê, 2026).
Trong nền sản xuất số, người lao động đang dịch chuyển mạnh mẽ từ lao động cơ khí, thao tác thủ công sang lao động tri thức số. Như vậy, thước đo năng lực người lao động không còn nằm ở sức mạnh cơ bắp hay kỹ năng lặp đi lặp lại, mà chuyển sang tư duy dữ liệu, năng lực làm chủ trí tuệ nhân tạo (AI), khả năng sáng tạo và thích ứng liên tục với sự thay đổi công nghệ. Tính đến đầu năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ của Việt Nam đạt khoảng 29,2% – 29,5% (Cục Thống kê, 2026).
Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện kết hợp với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa thế hệ mới, nhân tố người lao động đang đứng trước những đòi hỏi mang tính bước ngoặt về cấu trúc năng lực. Người lao động không chỉ cần nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật để vận hành các hệ thống sản xuất thông minh, mà quan trọng hơn, phải hình thành năng lực số toàn diện. Đòi hỏi này bao hàm sự kết hợp hài hòa giữa khả năng làm chủ công nghệ hiện đại với các kỹ năng cốt lõi của thế kỷ XXI, như: tư duy đổi mới sáng tạo, tư duy phản biện, năng lực thích ứng linh hoạt, trình độ hội nhập quốc tế và tính kỷ luật lao động công nghiệp cao.
Tuy nhiên, đối chiếu với thực tiễn phát triển đất nước bước vào kỷ nguyên mới, chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực số chất lượng cao vẫn chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Sự lệch pha giữa tốc độ đổi mới công nghệ và năng lực thích ứng của lực lượng lao động đã phản ánh sâu sắc mâu thuẫn giữa sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất với độ trễ của quan hệ sản xuất và hạ tầng thể chế. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đẩy mạnh đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong đó, trọng tâm là thể chế hóa các cơ chế phát triển giáo dục – đào tạo, quản trị nguồn nhân lực nhằm giải phóng toàn diện năng suất lao động xã hội.
Trong tiến trình hình thành và phát triển lực lượng sản xuất mới tại Việt Nam, ưu điểm nổi bật trước hết nằm ở quy mô nguồn lực lao động đông đảo cùng cấu trúc dân số ưu việt. Tính đến đầu năm 2026, quy mô dân số Việt Nam đã vượt mốc 102,5 triệu người (Cục Dân số – Bộ Y tế, 2026), xếp thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 16 trên thế giới. Trong đó, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên duy trì ổn định ở mức khoảng 53,4 triệu người (Cục Thống kê, 2026).
Quy mô nhân lực dồi dào này không chỉ bảo đảm nguồn cung lao động liên tục cho nền sản xuất xã hội mà còn tạo ra lợi thế quy mô vượt trội, giúp Việt Nam nhanh chóng mở rộng không gian kinh tế, thu hút các dòng vốn đầu tư công nghệ cao và cung ứng lực lượng lao động cho các ngành công nghiệp thế hệ mới. Đặc biệt lực lượng lao động trẻ nhạy bén nhất với sự vận động của lực lượng sản xuất mới. Nhờ không bị trói buộc bởi các thói quen sản xuất cơ khí truyền thống, thế hệ lao động trẻ sở hữu lợi thế vượt trội trong việc tiếp thu, hấp thụ và chuyển hóa nhanh chóng các tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại vào thực tiễn sản xuất. Khả năng làm chủ các công cụ công nghệ mới, từ việc khai thác trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) đến vận hành các hệ thống tự động hóa phức tạp, đã giúp lao động trẻ giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu khoa học đến ứng dụng thực tiễn.
Không chỉ có ưu thế về tư duy công nghệ, lực lượng lao động trẻ còn thể hiện khả năng thích ứng và bắt nhịp nhanh với môi trường sản xuất hiện đại. Sự dẻo dai về thể lực cùng tính linh hoạt về trí lực giúp người lao động trẻ dễ dàng hòa nhập vào các chuỗi cung ứng toàn cầu, các nhà máy thông minh và các mô hình quản trị tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Trong bối cảnh kỷ nguyên số làm thay đổi diện mạo các ngành nghề với tốc độ chưa từng có, tính năng động nội tại giúp lực lượng lao động trẻ sẵn sàng chấp nhận rủi ro, chịu đựng áp lực cạnh tranh khốc liệt và coi thách thức công nghệ là cơ hội để khẳng định giá trị bản thân.
Đặc biệt, ưu thế lớn nhất của lao động trẻ trong lực lượng sản xuất mới chính là khả năng dịch chuyển nghề nghiệp và linh hoạt thích ứng với các điều kiện làm việc mới. Nền sản xuất số xóa bỏ mô hình việc làm cố định, trọn đời của thời kỳ công nghiệp truyền thống, thay vào đó là yêu cầu học tập suốt đời (lifelong learning), tái đào tạo (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) liên tục. Lao động trẻ Việt Nam tỏ ra rất nhạy bén trong việc chuyển đổi giữa các lĩnh vực công nghệ, thích ứng nhanh với các hình thức lao động mới như làm việc từ xa, mô hình kinh tế nền tảng (Gig Economy) hay các dự án liên ngành.
Đặt trong mối quan hệ giữa lịch sử – văn hóa và bản chất của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực Việt Nam mang những đặc tính ưu việt được tôi luyện qua tiến trình phát triển dân tộc. Sinh trưởng từ một xã hội nông nghiệp truyền thống, người lao động Việt Nam hun đúc nên phẩm chất cần cù, chịu khó, nhẫn nại, cùng sự khéo léo và khả năng ứng biến linh hoạt trước những biến động của môi trường sản xuất. Khi bước vào nền kinh tế số và phát triển lực lượng sản xuất mới, những giá trị truyền thống này không bị triệt tiêu mà được chuyển hóa về chất: tính cần cù, chịu khó biến thành động lực tự học hỏi, kiên trì tích lũy tri thức khoa học – kỹ thuật phức tạp.
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội, người lao động Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế, như: (1) Thể lực, sức khoẻ của người lao động Việt Nam nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu cao về sức bền, cường độ lao động cao. Trong những năm qua, mặc dù thể lực, tầm vóc của người lao động Việt Nam đã có nhiều cải thiện nhưng nhìn chung, người Việt Nam nói chung và người lao động trong lực lượng sản xuất nói riêng vẫn “thấp bé nhẹ cân”. (2) Tính kỷ luật, ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái…của người lao động Việt Nam còn nhiều hạn chế. Do ảnh hưởng lâu dài bởi phương thức sản xuất theo mô hình công xã nông thôn dựa trên nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, tự cấp, tự túc và khép kín, cũng như ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh lâu dài, liên tục đã tạo nên lối sống khép kín, lối làm ăn manh mún, tản mạn… nên tính kỷ luật trong lao động của người Việt Nam nhìn chung còn thấp. Điều đó đã ảnh hưởng đến lối sống sản xuất nhỏ lẻ, thiếu quy củ (Lê Thị Chiên, 2018, tr.86).
Thứ hai, về tư liệu lao động trong lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam
Hệ thống máy móc cơ khí truyền thống đang nhanh chóng dịch chuyển hoặc được nâng cấp tích hợp vào hệ sinh thái “máy móc thông minh”, hệ thống tự động hóa thế hệ mới, trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT). Công cụ lao động không còn đóng vai trò thụ động cơ học mà đã sở hữu năng lực “tự học”, tự phân tích và tối ưu hóa quy trình theo thời gian thực. Để làm bệ phóng vật chất cho tư liệu lao động thông minh này, hệ thống hạ tầng số quốc gia được đầu tư bứt phá với việc phủ sóng 5G thương mại đạt trên 95% khu vực đô thị và trung tâm kinh tế (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2025).
Theo triết học Mác – Lênin, tư liệu lao động không chỉ là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà còn là công cụ để con người thống trị và cải tạo tự nhiên. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hạn chế lớn nhất về tư liệu lao động ở Việt Nam hiện nay nằm ở sự phụ thuộc vào công nghệ lõi và tính phân mảnh của hạ tầng dữ liệu.
Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, phần lớn hạ tầng phần cứng công nghệ cao, các nền tảng số cốt lõi và mô hình thuật toán quy mô lớn vẫn đang phụ thuộc chặt chẽ vào các tập đoàn công nghệ xuyên quốc gia. Việc chưa tự chủ được công nghệ lõi khiến hệ thống tư liệu lao động trong nước đối mặt với nguy cơ bị lệ thuộc hoàn toàn về mặt kỹ thuật, làm gia tăng chi phí bản quyền, phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài, đồng thời tiềm ẩn rủi ro lớn đối với an toàn, an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Về hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất, dữ liệu tuy được xác định là đối tượng lao động mới nhưng để đi vào quy trình sản xuất xã hội, dữ liệu buộc phải vận hành trên một hệ thống hạ tầng đồng bộ và kết nối. Thực trạng hiện nay cho thấy hạ tầng dữ liệu ở nước ta vẫn trong tình trạng cục bộ, phân mảnh và thiếu tính liên kết. Dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chưa được chia sẻ, tích hợp kịp thời theo thời gian thực nên chưa tạo thành mạng lưới lưu thông dữ liệu quy mô lớn để làm đầu vào cho các thuật toán trí tuệ nhân tạo phân tích và tối ưu hóa quá trình sản xuất. Khó khăn trong kết nối dữ liệu này tạo ra sự lãng phí tài nguyên lớn, làm suy giảm hiệu quả vận hành của tư liệu lao động số, trực tiếp trở thành lực cản kìm hãm bước nhảy vọt về năng suất của lực lượng sản xuất mới tại Việt Nam.
Thứ ba, về đối tượng lao động trong lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam
Thực tiễn ghi nhận bước ngoặt mở rộng phạm vi từ các tài nguyên thiên nhiên vật chất hữu hạn (đất đai, khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch) sang dữ liệu lớn (Big Data). Khác với tài nguyên truyền thống bị tiêu hao trong quá trình sản xuất, dữ liệu có đặc tính tái tạo liên tục; càng được phân tích, chia sẻ và khai thác thông qua các thuật toán AI, dữ liệu càng sản sinh ra giá trị mới. Nhờ sự chuyển dịch này, tỷ trọng kinh tế số đã có sự gia tăng ngoạn mục, ước đạt xấp xỉ 19,5% – 20% GDP của cả nước, đóng góp quan trọng vào quy mô kinh tế số Việt Nam. Dữ liệu đã trở thành “dầu mỏ mới”, mở ra dư địa sinh lời không giới hạn cho nền kinh tế (Cục Thống kê, 2026).
Đặc biệt, khoa học – công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số đã bước lên trình độ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở cấp độ cao nhất. Thông qua việc triển khai Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo và Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn, tri thức khoa học và thuật toán không còn nằm ở dạng lý thuyết hay hỗ trợ bên ngoài, mà trực tiếp thâm nhập vào các khâu của chuỗi giá trị sản xuất, quản trị doanh nghiệp và dịch vụ công. Khoảng cách từ nghiên cứu lý thuyết đến ứng dụng thực tiễn được rút ngắn với tốc độ nhanh, biến tri thức thành năng suất thực tế ngay trong quá trình vận hành.
4. Giải pháp phát triển lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam
Một là, triển khai đồng bộ hệ giải pháp chiến lược.
Việc triển khai đồng bộ hệ giải pháp chiến lược bao gồm: hoàn thiện thể chế, chính sách tiên phong linh hoạt; đầu tư đột phá vào nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại; cùng với thúc đẩy đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ lõi có ý nghĩa quyết định. Trong chỉnh thể đó, quan điểm xuyên suốt có tính nguyên tắc là quá trình phát triển lực lượng sản xuất mới phải luôn lấy con người làm trung tâm, con người là chủ thể và mục tiêu của sự phát triển. Dưới ánh sáng của triết học Mác – Lênin, con người không chỉ là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại, mà còn là giá trị cao nhất của sự phát triển xã hội. Mọi chính sách thể chế, hạ tầng hay công nghệ xét đến cùng đều phải hướng tới giải phóng năng lực con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm cho sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân trong phương thức sản xuất mới.
Hai là, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực số.
Trong nền sản xuất số, tư liệu sản xuất không còn đơn thuần là các công cụ cơ khí hay cơ sở hạ tầng vật chất truyền thống, mà đã biến đổi về chất, hàm chứa hàm lượng tri thức rất lớn về kỹ thuật, thuật toán và công nghệ hiện đại. Để không bị lệ thuộc vào máy móc thông minh hay trí tuệ nhân tạo, người lao động Việt Nam buộc phải vươn lên làm chủ các tư liệu sản xuất mới. Việc hình thành đội ngũ nhân lực số có tư duy dữ liệu, có năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng vận hành, làm chủ công nghệ lõi chính là chìa khóa để chuyển hóa các tư liệu sản xuất tiên tiến thành năng lực thực tiễn, tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lao động xã hội và thiết lập vị thế tự chủ của nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, việc ưu tiên tối đa nguồn lực quốc gia cho các lĩnh vực này chính là phương thức căn bản nhất để tạo ra sự tích lũy về chất cho lực lượng sản xuất, giúp nền kinh tế bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, thay đổi về phương thức tổ chức và quản lý sản xuất.
Cách thức tổ chức sản xuất vốn được thiết kế cho nền sản xuất công nghiệp truyền thống với cấu trúc phân cấp, tuyến tính và tập trung hóa giờ đây đã bộc lộ nhiều hạn chế, cần phải nhanh chóng dịch chuyển sang mô hình vận hành dựa trên nền tảng số, dữ liệu và tri thức. Trong nền sản xuất mới, dữ liệu trở thành đối tượng lao động cốt lõi, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đóng vai trò công cụ lao động tiên phong. Việc tái cấu trúc mô hình quản trị từ cấp độ doanh nghiệp đến quản trị quốc gia theo hướng mạng lưới, linh hoạt, dựa trên dữ liệu và phi trung gian hóa chính là chìa khóa để triệt tiêu các điểm nghẽn hành chính, giảm thiểu chi phí giao dịch, đồng thời gia tăng tối đa tốc độ chu chuyển của các nguồn lực xã hội.
Quá trình chuyển đổi sâu sắc này đòi hỏi phải luôn giữ vững quan điểm mang tính nguyên tắc của triết học Mác – Lênin là lấy con người làm trung tâm, con người là chủ thể, động lực và mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Trong nền sản xuất số, tư liệu sản xuất không còn là máy móc cơ khí đơn thuần mà chứa đựng hàm lượng tri thức kỹ thuật và công nghệ hiện đại rất cao; do đó, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực số có ý nghĩa sống còn. Người lao động không còn bị trói buộc trong các thao tác thủ công hay quy trình lặp đi lặp lại, mà trở thành các chủ thể sáng tạo, có tư duy dữ liệu và năng lực làm chủ công nghệ mới. Việc làm chủ các tư liệu sản xuất hiện đại giúp người lao động Việt Nam chuyển hóa tri thức khoa học thành năng lực thực tiễn, tạo bước nhảy vọt về năng suất lao động xã hội và bảo đảm tính tự chủ của nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
5. Kết luận
Quá trình chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra bước ngoặt mang tính lịch sử đối với sự vận động của lực lượng sản xuất tại Việt Nam. Sự xuất hiện của lực lượng sản xuất mới với đặc trưng cốt lõi là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, hạ tầng số và nguồn nhân lực số không chỉ làm thay đổi sâu sắc diện mạo của tư liệu lao động và đối tượng lao động, mà còn tái cấu trúc toàn diện vị thế, vai trò của người lao động trong nền sản xuất xã hội. Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ở trình độ cao, tạo ra tiền đề vật chất – kỹ thuật chưa từng có để nước ta đi tắt đón đầu, khắc phục các mâu thuẫn mang tính cấu trúc và bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình.
Thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam hiện nay đang đan xen giữa những thời cơ chiến lược vượt trội về quy mô dân số vàng, tính nhạy bén công nghệ của lao động trẻ với những hạn chế, khó khăn về hạ tầng dữ liệu, sự phụ thuộc vào công nghệ lõi và sự chênh lệch về chất lượng nguồn nhân lực. Để giải phóng toàn diện năng lực sản xuất xã hội, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là đòi hỏi cấp bách. Trong đó, phát triển lực lượng sản xuất mới phải được thực hiện đồng bộ qua hệ giải pháp: Hoàn thiện thể chế, chính sách tiên phong linh hoạt; Đột phá đầu tư phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao; Xây dựng hạ tầng số đồng bộ, tiến tới làm chủ công nghệ lõi; Đổi mới căn bản phương thức tổ chức, quản trị sản xuất xã hội.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2025). Báo cáo tổng kết công tác phát triển hạ tầng số, kinh tế số và xã hội số năm 2025. Nxb. Thông tin và Truyền thông.
Cục Thống kê (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025 và đo lường đóng góp của kinh tế số vào GDP. Nxb Thống kê.
Cục Dân số – Bộ Y tế (2026). Báo cáo Thống kê quy mô và cơ cấu dân số Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025, định hướng đến năm 2030.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lê Thị Chiên (2018). Nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay. Nxb. Lý luận chính trị.



