Innovation and digital transformation: the driving force for political schools in the new era
TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn
ThS. Đỗ Thị Phương Thảo
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: thanhnhantcth@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, các trường chính trị đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và những yêu cầu đặt ra đối với quá trình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong hệ thống trường chính trị; làm rõ vai trò của chuyển đổi số trong nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và hiện đại hóa quản trị nhà trường. Trên cơ sở đó, khẳng định đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để xây dựng trường chính trị chuẩn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: Đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; trường chính trị; động lực phát triển; kỷ nguyên mới
Abstract: Resolution No. 57-NQ/TW identifies science, technology, innovation, and digital transformation as the driving force for national development in the new era. Political schools face the need for strong innovation to meet the task of training and fostering cadres. This article analyzes the theoretical basis, current situation, and requirements for the process of innovation and digital transformation in the political school system; This study clarifies the role of digital transformation in improving the quality of training, scientific research, practical experience summation, and modernization of school administration. Based on this, the article affirms that innovation and digital transformation are important driving forces for building a standard political school in accordance with Regulation No. 396-QĐ/TW of the Party Central Committee, meeting the requirements of national development in the digital age.
Keywords: Innovation; digital transformation; political school; driving force for development; new era.
1. Đặt vấn đề
Thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ phát triển của mỗi quốc gia. Những thành tựu đột phá về trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức quản trị, sản xuất, giáo dục, đào tạo và đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là xu thế phát triển tất yếu mà còn trở thành yêu cầu chiến lược đối với mọi tổ chức, cơ quan và thiết chế giáo dục.
Nhận thức sâu sắc xu thế đó, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khẳng định: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “… tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a).
Trong hệ thống chính trị, các trường chính trị có vị trí đặc biệt quan trọng với chức năng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở địa phương. Chất lượng hoạt động của trường chính trị có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ, từ đó tác động đến năng lực lãnh đạo, quản lý và hiệu quả tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trước yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ “thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a) trong thời kỳ mới, các trường chính trị không thể tiếp tục vận hành theo phương thức truyền thống mà phải đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy, mô hình tổ chức, phương pháp đào tạo và phương thức quản trị.
Đặc biệt, sự ra đời của Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho hệ thống trường chính trị. Những yêu cầu về chuẩn hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và xây dựng đội ngũ giảng viên đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ hoạt động của hệ thống trường chính trị nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và tham vấn chính sách cho địa phương trong thời kỳ mới.
Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ vào các hoạt động hiện có, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức tổ chức và vận hành của trường chính trị trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Đây chính là động lực quan trọng để xây dựng các trường chính trị thực sự trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn coi trọng vai trò của khoa học, công nghệ và giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển đất nước. Bước vào thời kỳ chuyển đổi số toàn cầu, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhận thức đó tiếp tục được nâng lên tầm cao mới khi đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực chiến lược tạo ra bước phát triển đột phá.
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt nền móng cho quá trình chuyển đổi số quốc gia. Tiếp đó, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định giáo dục là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong lộ trình chuyển đổi số quốc gia.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo bước đột phá về tư duy khi xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia và là cơ hội lịch sử để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo nhằm “tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới […] nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh” cho đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a).
Những quan điểm đó không chỉ định hướng cho sự phát triển của quốc gia mà còn đặt ra yêu cầu trực tiếp đối với hệ thống trường chính trị. Với chức năng đào tạo đội ngũ cán bộ cho hệ thống chính trị, các trường chính trị phải đi đầu trong đổi mới tư duy giáo dục, hiện đại hóa phương thức đào tạo và xây dựng môi trường học tập số nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ mới.
Về nội hàm, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau. Trong trường chính trị, hai quá trình này không tồn tại tách biệt mà tạo thành động lực tổng hợp thúc đẩy sự phát triển của nhà trường.
Đổi mới sáng tạo được hiểu là quá trình tạo ra các giá trị mới, giải pháp mới trên cơ sở kết hợp tri thức, công nghệ và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong điều kiện môi trường luôn biến đổi. Đối với giáo dục lý luận chính trị, đổi mới sáng tạo đòi hỏi sự đổi mới trong tư duy, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, phương thức nghiên cứu khoa học và cách thức tổ chức hoạt động đào tạo. Tuy nhiên, đổi mới sáng tạo trong trường chính trị không thể tách rời những đặc trưng riêng của giáo dục lý luận chính trị. Đó là phải bảo đảm sự thống nhất giữa tính Đảng, tính khoa học và tính thực tiễn; đồng thời nâng cao năng lực tư duy phản biện, khả năng vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra đối với cán bộ, đảng viên.
Trong khi đó, chuyển đổi số được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số nhằm tái cấu trúc toàn diện các hoạt động của tổ chức trên nền tảng dữ liệu và công nghệ. Đối với trường chính trị, chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc trang bị thiết bị, máy móc, sử dụng phần mềm quản lý hay trình chiếu bài giảng điện tử mà là quá trình chuyển đổi toàn diện từ nội dung, phương pháp đến mô hình tổ chức đào tạo trong môi trường số.
Chuyển đổi số phải được triển khai đồng thời trên nhiều phương diện: số hóa dữ liệu, hiện đại hóa công tác quản trị, xây dựng học liệu số, đổi mới phương pháp giảng dạy, phát triển hệ sinh thái học tập số và hình thành văn hóa số trong nhà trường. Đây là quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu; từ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều sang mô hình học tập tương tác, lấy người học làm trung tâm; từ không gian lớp học vật lý sang môi trường học tập mở và linh hoạt.
Yêu cầu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong trường chính trị trước hết xuất phát từ sự thay đổi của môi trường phát triển đất nước và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới.
Trong điều kiện xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số trên cơ sở thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và trong bối cảnh an ninh phi truyền thống, thế giới biến động khó lường hiện nay (VUCA), đội ngũ cán bộ không chỉ cần vững vàng về bản lĩnh chính trị, giỏi chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải có tư duy đổi mới, khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi và năng lực sử dụng công nghệ trong quản lý, điều hành. Vì vậy, với vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, các trường chính trị tỉnh, thành phố phải đổi mới mạnh mẽ phương thức đào tạo, bồi dưỡng để hình thành những năng lực mới cho người học.
Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn đã đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn đối với đội ngũ giảng viên, hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tác quản trị tại các trường chính trị. Do đó, các trường chính trị phải chuyển từ mô hình phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo làm trung tâm.
Từ góc độ giáo dục hiện đại, chuyển đổi số còn là công cụ quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đổi mới căn bản phương pháp giảng dạy. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo ra đội ngũ cán bộ “thực chiến”, có năng lực đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, phương pháp giảng dạy tại các trường chính trị phải chuyển từ mô hình truyền thụ kiến thức một chiều sang mô hình “đồng giảng”, “đồng kiến tạo tri thức”.
Các nền tảng số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data) và hệ thống học tập trực tuyến (LMS) tạo điều kiện để xây dựng môi trường học tập linh hoạt, cá thể hóa quá trình đào tạo và nâng cao khả năng tương tác giữa giảng viên với học viên. Đồng thời, công nghệ số cũng mở ra khả năng kết nối tri thức, chia sẻ học liệu và hợp tác nghiên cứu ở quy mô rộng lớn chưa từng có.
3. Thực trạng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị giai đoạn 2022-2025
Những năm gần đây, cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, các trường chính trị đã từng bước nhận thức rõ hơn vai trò của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với sự phát triển của nhà trường. Các chủ trương của Đảng, Nhà nước, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và cấp ủy địa phương đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình đổi mới trong toàn hệ thống.
Đặc biệt, việc Ban Chấp hành Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành Nghị quyết số 43-NQ/ĐU ngày 11/7/2024 về thúc đẩy chuyển đổi số đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để các trường chính trị triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản trị nhà trường. Nghị quyết xác định mục tiêu chuyển đổi số đồng bộ, toàn diện trong tất cả các mặt hoạt động của hệ thống Học viện và các trường chính trị, lấy người học, nhà khoa học và đội ngũ cán bộ, giảng viên làm trung tâm phục vụ.
Trên thực tế, nhiều trường chính trị đã tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin; triển khai hệ thống quản lý văn bản điện tử; ứng dụng chữ ký số; thực hiện số hóa hồ sơ, tài liệu; xây dựng các cổng thông tin điện tử phục vụ công tác quản lý, điều hành. Một số trường đã bước đầu hình thành kho học liệu điện tử, tổ chức các lớp học trực tuyến, ứng dụng các nền tảng số trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá học viên.
Trong hoạt động đào tạo, phương pháp giảng dạy cũng có những chuyển biến tích cực. Nhiều giảng viên đã sử dụng thành thạo các phần mềm trình chiếu, công cụ hỗ trợ trực tuyến, hệ thống khảo sát và tương tác điện tử nhằm tăng tính trực quan, sinh động cho bài giảng. Việc khai thác nguồn tư liệu số, cơ sở dữ liệu trực tuyến và các phần mềm hỗ trợ nghiên cứu bước đầu góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt, tư duy đổi mới sáng tạo trong hoạt động chuyên môn đang dần được hình thành. Nhiều giảng viên đã mạnh dạn áp dụng các phương pháp sư phạm hiện đại như học tập dựa trên tình huống, học tập dựa trên dự án, lớp học đảo ngược, thảo luận nhóm trên nền tảng số và các hình thức học tập tương tác khác nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học viên. Đây là những tín hiệu tích cực cho thấy quá trình đổi mới đang từng bước chuyển từ nhận thức sang hành động thực tiễn.
Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, song nhìn tổng thể, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các trường chính trị vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra của giai đoạn phát triển mới.
Kết quả khảo sát thực tiễn trên 412 giảng viên tại các trường chính trị cấp tỉnh do Đề án 587, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện; đánh giá theo thang đo Likert phác họa một bức tranh phân hóa rõ nét, phản ánh trạng thái “chuyển đổi dang dở” của hệ thống. Năng lực sử dụng công nghệ cơ bản đạt mức tương đối khả quan – điểm trung bình dao động 3,4 – 3,6/5 – cho thấy đại đa số giảng viên đã vượt qua ngưỡng “mù công nghệ” và có thể vận hành các công cụ số thông thường trong công việc. Tuy nhiên, khi tiến vào các năng lực bậc cao mang tính chuyển hóa – thiết kế học liệu số, tổ chức lớp học trực tuyến, tích hợp công nghệ vào phương pháp giảng dạy – điểm trung bình giảm sâu xuống chỉ còn 2,8 – 3,1, một khoảng lùi đáng kể so với yêu cầu chuẩn. Sự phân hóa này phản ánh thực trạng giảng viên các trường chính trị đã sử dụng công nghệ như một công cụ hỗ trợ nhưng chưa chuyển hóa được tư duy để dùng công nghệ như một phương tiện tái cấu trúc quá trình dạy và học. Nói cách khác, chuyển đổi số trong các trường chính trị hiện mới đạt cấp độ “số hóa công cụ”, chưa chạm tới cấp độ “đổi mới sư phạm” và chưa thể tiến tới cấp độ cao nhất – “tái thiết kế mô hình đào tạo”.
Phân tích khoảng cách năng lực giữa mức độ yêu cầu theo chuẩn hóa và mức độ hiện tại cho thấy những chênh lệch mang tính cấu trúc, không phải những lệch lạc ngẫu nhiên có thể khắc phục bằng các biện pháp đào tạo bổ sung đơn giản. Khoảng cách lớn nhất tập trung ở năng lực thiết kế học liệu số – dao động 0,9 – 1,2 điểm – tiếp đến là năng lực tổ chức dạy học trên nền tảng số, với chênh lệch 0,8 – 1,0 điểm. Đáng chú ý, các năng lực truyền thống như giảng dạy lý luận chính trị và tổ chức lớp học trực tiếp có khoảng cách thấp hơn nhiều – một bằng chứng thực chứng về hiện tượng “lệch pha năng lực”. Đội ngũ giảng viên vẫn vận hành tốt trong môi trường và phương thức đào tạo cũ, nhưng tụt hậu đáng kể so với yêu cầu của môi trường đào tạo mới mà Quy định số 396-QĐ/TW đang định hướng.
Thực trạng trên xuất phát từ một số guyên nhân:
Thứ nhất, nghịch lý hạ tầng. Công nghệ sẵn có nhưng năng lực khai thác chưa tương xứng. Nhiều trường chính trị đã được đầu tư hệ thống quản lý học tập trực tuyến, phòng học thông minh, thiết bị hiện đại. Tuy nhiên, tỷ lệ giảng viên sử dụng thường xuyên các nền tảng này trong giảng dạy thực chất còn hạn chế, hoạt động sử dụng chủ yếu dừng lại ở việc trình chiếu bài giảng số thay thế bảng đen – về bản chất vẫn là mô hình truyền đạt một chiều được “khoác áo” công nghệ. Đây là biểu hiện điển hình của một nghịch lý phổ biến trong chuyển đổi số giáo dục: Công nghệ được lắp đặt nhưng không được kích hoạt để tạo ra giá trị giáo dục mới.
Thứ hai, điểm nghẽn tư duy đổi mới phương pháp. Dữ liệu khảo sát cho thấy, tỷ lệ giảng viên thường xuyên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực đúng nghĩa, học tập dựa trên vấn đề, nghiên cứu tình huống, mô phỏng quyết định vẫn dưới ngưỡng 40%, trong khi phần lớn duy trì mô hình thuyết trình kết hợp trao đổi, vốn đã trở thành thói quen nghề nghiệp ăn sâu qua nhiều năm. Điều này không chỉ làm suy giảm vai trò chủ thể của người học – những cán bộ, đảng viên với vốn kinh nghiệm thực tiễn phong phú, hoàn toàn có thể và cần trở thành đồng chủ thể kiến tạo tri thức trong lớp học mà còn vô hiệu hóa phần lớn tiềm năng của công nghệ với tư cách là công cụ hỗ trợ đổi mới sư phạm.
Thứ ba, thiếu vắng cơ chế khuyến khích tạo động lực nội sinh cho đổi mới. Hệ thống đánh giá giảng viên hiện hành vẫn thiên mạnh về các chỉ số định lượng dễ đo như số giờ giảng hoàn thành, số bài báo công bố, số đề tài tham gia…, trong khi những đóng góp mang tính chuyển hóa như đổi mới phương pháp giảng dạy, thiết kế học liệu số sáng tạo hay xây dựng mô hình lớp học tích cực chưa có tiêu chí nhận diện và ghi nhận tương xứng. Hơn 60% giảng viên cho rằng hoạt động đổi mới sáng tạo của họ “chưa được ghi nhận xứng đáng” – một tín hiệu cảnh báo nghiêm trọng về khoảng trống thể chế trong việc nuôi dưỡng và duy trì tinh thần đổi mới. Khi sáng tạo không được định giá cao hơn sự tuân thủ, lý trí tối ưu của cá nhân sẽ nghiêng về phía an toàn và quen thuộc.
Thứ tư, văn hóa đổi mới sáng tạo trong nhà trường chưa hình thành. Tại các trường chính trị, trong đội ngũ cán bộ, giảng viên vẫn tồn tại tâm lý an toàn, ngại thay đổi, ngại thử nghiệm cái mới. Trong khi đó, đổi mới sáng tạo luôn đòi hỏi tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm và chấp nhận những rủi ro nhất định trong quá trình tìm kiếm giải pháp mới. Đáng chú ý là vai trò quyết định của người đứng đầu đối với thành công của quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại các trường chính trị. Thực tiễn cho thấy, nơi nào người đứng đầu có tầm nhìn chiến lược, quyết tâm chính trị cao và trực tiếp dẫn dắt quá trình đổi mới thì nơi đó chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu thiếu vai trò kiến tạo và dẫn dắt của người đứng đầu thì chuyển đổi số dễ rơi vào tình trạng hình thức, manh mún hoặc thiếu tính bền vững.
Thực trạng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các trường chính trị hiện nay cho thấy một bức tranh vừa có những gam màu sáng, vừa tồn tại không ít điểm nghẽn cần tháo gỡ. Những kết quả đạt được là nền tảng quan trọng để tiếp tục phát triển, nhưng khoảng cách giữa yêu cầu của Quy định số 396-QĐ/TW về xây dựng trường chính trị chuẩn với thực trạng hiện nay vẫn còn khá lớn.
4. Một số giải pháp
Một là, phát triển hệ sinh thái số trong trường chính trị. Đây không đơn thuần là đầu tư hạ tầng công nghệ, mà là xây dựng một môi trường số tích hợp, trong đó hạ tầng kỹ thuật, nền tảng học tập và hệ thống dữ liệu được thiết kế theo một logic vận hành thống nhất, phục vụ trực tiếp cho quá trình đào tạo và nghiên cứu. Hệ sinh thái này phải cho phép giảng viên không chỉ “sử dụng” công nghệ, mà có thể “vận hành” và “sáng tạo” trên chính nền tảng ấy – từ thiết kế học liệu, tổ chức lớp học đến phân tích dữ liệu học tập. Theo nghĩa đó, chuyển đổi số không nằm ở thiết bị, mà nằm ở khả năng biến công nghệ thành năng lực nghề nghiệp thường trực của giảng viên.
Hai là, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng giảng viên theo hướng phát triển năng lực. Trọng tâm không phải là bổ sung kiến thức công nghệ theo kiểu ngắn hạn, mà là hình thành năng lực tích hợp giữa sư phạm, công nghệ và thực tiễn. Điều này đòi hỏi tái cấu trúc chương trình bồi dưỡng giảng viên theo hướng “học qua thực hành”, “học qua dự án”, trong đó giảng viên vừa là người học, vừa là người thiết kế và thử nghiệm các mô hình giảng dạy mới. Đặc biệt, cần đặt trọng tâm vào ba hợp phần năng lực cốt lõi đã được nhận diện: năng lực sư phạm số, năng lực sáng tạo học liệu, và năng lực nghiên cứu gắn với thực tiễn địa phương – những năng lực có tính chuyển hóa trực tiếp thành chất lượng đào tạo.
Ba là, xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo mang tính thể chế. Đổi mới sáng tạo không thể dựa vào động lực tự phát nếu không được bảo đảm bằng các cơ chế đánh giá và đãi ngộ tương xứng. Cần chuyển từ cách đánh giá dựa trên khối lượng công việc (số giờ giảng, số bài báo, số đề tài…) sang đánh giá dựa trên giá trị tạo ra – trong đó kết quả đổi mới phương pháp giảng dạy, mức độ tích hợp công nghệ, và các đóng góp nghiên cứu có tác động thực tiễn trở thành những tiêu chí cốt lõi. Đồng thời, cần thiết lập các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chấp nhận rủi ro trong đổi mới, qua đó tạo ra một không gian thể chế đủ an toàn để sáng tạo được phát triển thay vì bị kìm hãm bởi nỗi sợ sai lầm.
Bốn là, hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo trong trường chính trị như một nền tảng phát triển bền vững. Nếu thể chế tạo ra “khung”, thì văn hóa tạo ra “động lực nội sinh” cho đổi mới – một yếu tố thường bị coi nhẹ nhưng lại quyết định sự bền vững của bất kỳ cuộc cải cách nào. Văn hóa ấy phải khuyến khích tư duy độc lập, tranh luận học thuật, tinh thần phản biện xây dựng và học tập suốt đời; đồng thời đề cao vai trò nêu gương của lãnh đạo và giảng viên chủ chốt trong việc dẫn dắt đổi mới. Chỉ khi đổi mới sáng tạo thực sự trở thành một giá trị được chia sẻ, một chuẩn mực hành vi trong toàn bộ nhà trường thì chuyển đổi số mới có thể tiến từ “ứng dụng” sang “chuyển hóa” – và từ đó tạo ra những thay đổi thực chất, bền vững trong chất lượng đào tạo.
5. Kết luận
Trong kỷ nguyên số, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là yêu cầu mang tính chiến lược đối với sự phát triển của hệ thống trường chính trị. Đây là điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tham mưu, tư vấn chính sách; đồng thời là cơ sở quan trọng để xây dựng các trường chính trị chuẩn mực, hiện đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I, II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Bí thư (2026). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
Ban Bí thư (2026). Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố.
Bond, M., Marín, V. I., Dolch, C., Bedenlier, S., & Zawacki-Richter, O. (2018). Digital transformation in higher education: A systematic review. Educational Technology & Society, 21(4), 1–16.
Christensen, C. M., & Eyring, H. J. (2011). The innovative university: Changing the DNA of higher education from the inside out. Jossey-Bass.
DeSeCo. (2003). Key competencies for a successful life and a well-functioning society. OECD Publishing.
Ertmer, P. A., & Ottenbreit-Leftwich, A. T. (2010). Teacher technology change. Journal of Research on Technology in Education, 42(3), 255–284.
European Commission. (2017). DigCompEdu: European framework for the digital competence of educators. Publications Office of the European Union.
European Commission. (2022). DigComp 2.2: The digital competence framework for citizens. Publications Office of the European Union.
Ferrari, A. (2013). DIGCOMP: A framework for developing and understanding digital competence in Europe. European Commission.
Fullan, M. (2013). Stratosphere: Integrating technology, pedagogy, and change knowledge. Pearson.
Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Cengage Learning.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2023). Báo cáo tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Hà Nội.
Koehler, M. J., & Mishra, P. (2009). What is technological pedagogical content knowledge? Contemporary Issues in Technology and Teacher Education, 9(1), 60–70.
Lucia, A. D., & Lepsinger, R. (1999). The art and science of competency models. Jossey-Bass.
Ng, W. (2012). Can we teach digital natives digital literacy? Computers & Education, 59(3), 1065–1078.
OECD. (2019). Measuring innovation in education 2019. OECD Publishing.
Redecker, C. (2017). European framework for the digital competence of educators: DigCompEdu. European Commission.
Selwyn, N. (2016). Education and technology: Key issues and debates (2nd ed.). Bloomsbury.
Thurlings, M., Evers, A. T., & Vermeulen, M. (2015). Toward a model of explaining teachers’ innovative behavior. Review of Educational Research, 85(3), 430–471.
Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Hà Nội.
Weinert, F. E. (2001). Concept of competence: A conceptual clarification. In D. Rychen & L. Salganik (Eds.), Defining and selecting key competencies (pp. 45–65). Hogrefe & Huber.
Westerman, G., Bonnet, D., & McAfee, A. (2014). Leading digital: Turning technology into business transformation. Harvard Business Review Press.
Ban Bí thư. (2026). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn. Hà Nội.
Ban Bí thư. (2026). Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố. Hà Nội.



