Đổi mới giáo dục di sản văn hóa trong các trường phổ thông theo hướng tiếp cận trải nghiệm nhằm phát huy giá trị di sản văn hóa

Innovating cultural heritage education in general education schools through an experiential approach to promote the values of cultural heritage

TS. Vương Toàn Thắng
ThS. Bùi Thị Thanh Thủy
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội
Email: thanhthuy28donal@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Di sản văn hóa là kết tinh giá trị lịch sử, văn hóa và tri thức qua nhiều thế hệ; đồng thời, là nguồn lực quan trọng bồi dưỡng bản sắc dân tộc, giáo dục truyền thống và phát triển con người. Giáo dục di sản trong trường phổ thông ở Việt Nam đã từng bước được quan tâm thông qua việc tích hợp vào chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục địa phương và các hoạt động trải nghiệm, góp phần nâng cao nhận thức của học sinh về giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn nhiều hạn chế. Bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ di sản và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh.

Từ khóa: Di sản văn hóa; giáo dục di sản văn hóa; trường phổ thông; trải nghiệm; phát huy giá trị di sản; Nghị quyết số 80-NQ/TW.

Abstract: Cultural heritage is the crystallization of historical, cultural, and intellectual values accumulated across generations; at the same time, it constitutes an important resource for nurturing national identity, providing education on traditions, and fostering human development. Heritage education in general education schools in Vietnam has gradually received attention through its integration into the general education curriculum, local educational content, and experiential activities, thereby contributing to raising students’ awareness of the value of national culture. However, practical implementation still faces numerous limitations. This article analyzes the current situation and proposes solutions to enhance effectiveness, contributing to the cultivation of love for the homeland, national pride, awareness of the need to protect cultural heritage, and the comprehensive development of students’ qualities and competencies.

Keywords: Cultural heritage; cultural heritage education; general education schools; experiential learning; promotion of heritage values; Resolution No. 80-NQ/TW.

1. Đặt vấn đề

Di sản văn hóa là kết tinh giá trị lịch sử, tri thức và bản sắc dân tộc; đồng thời, là nguồn lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển con người và đất nước. Những năm qua, giáo dục di sản văn hóa trong các trường phổ thông đã từng bước được quan tâm thông qua việc tích hợp vào Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nội dung giáo dục địa phương và hoạt động trải nghiệm. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn nhiều hạn chế: nội dung thiên về truyền thụ kiến thức; hoạt động trải nghiệm thiếu tính thường xuyên và hệ thống; sự phối hợp giữa nhà trường với bảo tàng, di tích, nghệ nhân và cộng đồng chưa chặt chẽ; ứng dụng công nghệ số còn hạn chế. Trước yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, việc đổi mới giáo dục di sản theo hướng tiếp cận trải nghiệm, chuyển di sản từ đối tượng giới thiệu thành nguồn học liệu sống trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục di sản, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực học sinh.

2. Thực trạng giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông

Theo Luật Di sản văn hóa năm 2024, di sản văn hóa được đặt trong phạm vi quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị, bao gồm: các giá trị vật thể, phi vật thể, tư liệu, di tích, hiện vật, lễ hội, tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống và các biểu đạt văn hóa của cộng đồng. Khi đi vào nhà trường, di sản không chỉ là đối tượng để giới thiệu mà trở thành chất liệu giáo dục, môi trường học tập và phương tiện hình thành phẩm chất, năng lực học sinh. Do đó, giáo dục di sản văn hóa có thể hiểu là quá trình tổ chức cho học sinh tiếp cận, nhận diện, cảm thụ, diễn giải, thực hành, bảo vệ và phát huy giá trị di sản thông qua các hoạt động học tập có định hướng.

Giáo dục di sản cần được phân biệt với giáo dục truyền thống, giáo dục địa phương và hoạt động tham quan ngoại khóa. Giáo dục truyền thống thường nhấn mạnh việc truyền đạt các giá trị lịch sử, đạo đức, cách mạng, cộng đồng. Giáo dục địa phương cung cấp tri thức về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kinh tế – xã hội của địa phương. Trong khi đó, hoạt động tham quan ngoại khóa chủ yếu tạo điều kiện để học sinh tiếp xúc với không gian ngoài lớp học. Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ trở thành giáo dục di sản theo nghĩa đầy đủ khi được thiết kế như một quá trình học tập có mục tiêu, nhiệm vụ, câu hỏi khám phá, sản phẩm học tập và đánh giá. Một chuyến tham quan di tích nếu chỉ dừng ở nghe thuyết minh sẽ khó tạo ra chuyển biến giáo dục sâu sắc, nhưng nếu học sinh được giao nhiệm vụ tìm hiểu, ghi chép, đối thoại, xây dựng sản phẩm truyền thông hoặc đề xuất cách bảo vệ di sản, hoạt động đó mới thực sự mang tính giáo dục di sản.

Do vậy, bản chất của giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông là chuyển di sản từ đối tượng “được giới thiệu” thành nguồn học liệu sống. Nguồn học liệu này vừa cung cấp tri thức về quá khứ, vừa giúp học sinh hiểu mối quan hệ giữa con người, cộng đồng, ký ức, bản sắc và trách nhiệm xã hội. Ở cấp độ sâu hơn, giáo dục di sản giúp học sinh tiếp cận văn hóa không như một kho thông tin tĩnh, mà như một hệ giá trị đang được cộng đồng gìn giữ, diễn giải và tiếp tục sáng tạo. Chính điều này làm cho giáo dục di sản có ý nghĩa khác với việc học thuộc tên di tích, lễ hội, nhân vật lịch sử hoặc phong tục tập quán. Hay nói cách khác, giáo dục di sản đòi hỏi người học phải tham gia vào quá trình khám phá giá trị, nhận thức trách nhiệm và hình thành năng lực ứng xử với di sản.

Trong điều kiện đổi mới giáo dục phổ thông, Thông tư số 17/2025/TT-BGDĐT ngày 12/9/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó nhấn mạnh định hướng chuyển từ giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực; đồng thời, dành không gian cho hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và nội dung giáo dục địa phương.

Trên thực tế, nội dung giáo dục địa phương, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và các chủ trương mới về phát triển văn hóa, giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông ở Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Các chuyển biến này được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, nhận thức và cơ sở chính sách đối với giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường ngày càng rõ hơn.

Nếu trước đây giáo dục di sản thường được nhìn nhận chủ yếu như hoạt động ngoại khóa, tham quan hoặc giáo dục truyền thống bổ trợ thì hiện nay nội dung này đã dần được đặt trong tổng thể phát triển văn hóa, con người Việt Nam và đổi mới giáo dục phổ thông. Luật Di sản văn hóa năm 2024 củng cố nền tảng chính sách, pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Khi đặt trong môi trường giáo dục phổ thông, các định hướng này cho thấy, di sản văn hóa không chỉ cần được bảo tồn trong thiết chế văn hóa mà cần được chuyển hóa thành tri thức, thái độ, năng lực và trách nhiệm văn hóa của thế hệ trẻ. Sự chuyển biến về nhận thức này có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp giáo dục di sản thoát khỏi vị trí là “hoạt động bổ trợ” mà từng bước trở thành nội dung có cơ sở chính sách trong quá trình giáo dục con người Việt Nam toàn diện.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng cũng yêu cầu phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam; xây dựng môi trường văn hóa trong gia đình, nhà trường, cơ quan, cộng đồng dân cư; đồng thời, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống dân tộc trong quá trình phát triển. Định hướng này tạo cơ sở chính trị quan trọng để coi giáo dục di sản trong trường phổ thông là một phương thức hình thành bản sắc văn hóa, lòng yêu nước và phẩm chất công dân cho học sinh chứ không chỉ là việc truyền đạt tri thức lịch sử – văn hóa (Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 11/02/2026).

Thứ hai, việc lồng ghép di sản văn hóa trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, giáo dục địa phương và hoạt động trải nghiệm đã có chuyển biến tích cực.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học; đồng thời, tạo không gian cho giáo dục địa phương, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và các chủ đề liên môn. Đây là điều kiện thuận lợi để di sản văn hóa được đưa vào nhiều môn học và hoạt động giáo dục, như: Lịch sử, Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân, Nghệ thuật, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Điểm tích cực ở đây là di sản không còn chỉ được sử dụng như tư liệu minh họa cho bài học mà có thể trở thành chủ đề học tập, tình huống giáo dục và nguồn học liệu gắn với thực tiễn địa phương.

Thực tiễn ở một số địa phương cho thấy, việc đưa di sản vào nhà trường đã có những cách làm cụ thể. Tại TP. Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa và Thể thao cùng Sở Giáo dục và Đào tạo đã ký kết kế hoạch liên tịch phối hợp đẩy mạnh chuyển đổi số và sử dụng di sản văn hóa trong dạy và học ở bảo tàng, trường học. Nội dung giáo dục di sản được lồng ghép vào các môn Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể, văn nghệ, thể thao; đồng thời, các bảo tàng hỗ trợ nhà trường xây dựng chương trình, tiết học và học liệu gắn với di sản. Cách làm này phản ánh chuyển biến từ giáo dục di sản theo hướng giới thiệu đơn lẻ sang thiết kế hoạt động học tập có sự phối hợp giữa nhà trường và thiết chế văn hóa, qua đó, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng trải nghiệm và phát triển năng lực học sinh (Hồ Phúc, 16/12/2022).

Một số địa phương có hệ thống di sản đặc thù cũng đã bước đầu khai thác di sản như chất liệu của giáo dục địa phương. Chẳng hạn, việc tổ chức cho học sinh tiếp cận di sản văn hóa Tây Nguyên thông qua chuyên đề, hoạt động trải nghiệm và các bài học gắn với đời sống cộng đồng cho thấy, di sản có thể trở thành môi trường giáo dục bản sắc, không chỉ là nội dung thông tin (Thành Tâm, 25/12/2025). Ý nghĩa của chuyển biến này là học sinh được đặt trong mối liên hệ giữa tri thức nhà trường và không gian văn hóa nơi các em sinh sống, từ đó, giáo dục di sản có khả năng nuôi dưỡng tình yêu quê hương, sự tôn trọng đa dạng văn hóa và ý thức bảo vệ giá trị truyền thống.

Ba là, các mô hình phối hợp giữa nhà trường với bảo tàng, di tích, nghệ nhân và cộng đồng địa phương ngày càng phong phú hơn.

Đây là chuyển biến có ý nghĩa trực tiếp đối với tiếp cận trải nghiệm, bởi giáo dục di sản chỉ thực sự phát huy tác dụng khi học sinh được tiếp xúc với không gian văn hóa, hiện vật, câu chuyện, nghệ nhân và cộng đồng đang lưu giữ di sản. Tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đã có khoảng 30 chương trình giáo dục di sản được triển khai dành cho học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông, trong đó chương trình “Lớp học xưa” tổ chức cho học sinh trải nghiệm viết chữ bằng bút lông trên giấy dó để hiểu thêm về thư pháp và tinh thần hiếu học. Mô hình này cho thấy, di tích không chỉ là điểm tham quan mà có thể trở thành không gian học tập được thiết kế theo mục tiêu giáo dục cụ thể (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 06/3/2025).

Hay như tại Thanh Hóa, một số trường đã thường xuyên tổ chức cho học sinh đến tham quan, học tập tại Bảo tàng tỉnh, qua đó, gắn giáo dục truyền thống với di sản văn hóa địa phương. Hoạt động này góp phần đổi mới phương pháp dạy và học, gắn lý thuyết với thực tiễn; đồng thời, bồi dưỡng tình yêu văn hóa, lịch sử cho học sinh. Đáng chú ý là Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa không chỉ đóng vai trò trưng bày hiện vật mà thực sự trở thành đối tác giáo dục của nhà trường, cung cấp không gian, tư liệu và trải nghiệm trực quan để học sinh tiếp cận di sản một cách sinh động hơn (Nguyễn Linh, 07/3/2025).

Ở thành phố Huế, chương trình giáo dục di sản tại di tích điện Phụng Tiên, Đại Nội Huế tổ chức khoảng 15 lớp trải nghiệm cho học sinh, sinh viên. Người học được miễn phí vé vào cổng khu di sản và được cung cấp miễn phí nguyên vật liệu tại các hoạt động giáo dục di sản (S. Thùy, 23/9/2024). Qua đó, phản ánh xu hướng chuyển từ mô hình tham quan thụ động sang mô hình trải nghiệm có tổ chức, trong đó học sinh được tham gia vào hoạt động khám phá, thực hành và đối thoại với di sản. Sự phối hợp giữa đơn vị bảo tồn di tích, chuyên gia và nhà trường có ý nghĩa quan trọng trong việc biến di sản thành môi trường học tập sống động.

Bốn là, ứng dụng công nghệ số, truyền thông và học liệu số trong giáo dục di sản đã bước đầu mở rộng phương thức tiếp cận của học sinh.

Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 tạo nền tảng chính sách cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản, phục vụ quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, quảng bá và khai thác giá trị di sản. Đối với giáo dục phổ thông, chương trình này mở ra khả năng phát triển học liệu số, bản đồ di sản số, tư liệu trực tuyến, trưng bày số, video, mô hình tương tác và các hình thức học tập linh hoạt, nhất là đối với những trường chưa có điều kiện thường xuyên tổ chức hoạt động tại di tích, bảo tàng hoặc làng nghề.

Ngày nay, không ít hoạt động thực tiễn ứng dụng công nghệ đang được sử dụng để làm cho di sản tiếp cận rộng hơn với công chúng và người học. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong giáo dục di sản tại bảo tàng, di tích được đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục di sản, trong đó các hình thức trình chiếu, số hóa tư liệu, diễn giải trực quan và trải nghiệm tương tác có thể giúp người học tiếp cận di sản bằng nhiều giác quan và nhiều kênh thông tin hơn (Hà Phương, 10/7/2023). Đây là chuyển biến tích cực vì công nghệ số không chỉ hỗ trợ truyền thông di sản mà còn có khả năng mở rộng không gian học tập, giúp học sinh ở xa di tích, bảo tàng vẫn có thể tiếp cận tư liệu, câu chuyện và hình ảnh di sản.

Mặc dù giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông đã có những chuyển biến tích cực về cơ sở chính sách, không gian chương trình, mô hình phối hợp và ứng dụng công nghệ số, song quá trình triển khai trên thực tế vẫn bộc lộ không ít hạn chế. Các hạn chế này không chỉ nằm ở điều kiện tổ chức mà còn liên quan đến nhận thức, phương pháp tiếp cận, học liệu, năng lực giáo viên, cơ chế phối hợp, đánh giá kết quả và khả năng tiếp cận công bằng giữa các vùng, miền, cụ thể:

Một là, nhận thức và cách tiếp cận giáo dục di sản ở một số nơi vẫn còn giản đơn, dẫn đến nguy cơ hình thức hóa hoạt động.

Trên thực tế, giáo dục di sản đôi khi vẫn được hiểu chủ yếu là tổ chức cho học sinh tham quan di tích, nghe thuyết minh, xem biểu diễn văn nghệ, tham gia lễ hội hoặc lồng ghép một số thông tin văn hóa vào bài học. Những hoạt động này có ý nghĩa nhất định trong việc tạo hứng thú và bổ sung tri thức, nhưng nếu thiếu mục tiêu học tập, nhiệm vụ khám phá, sản phẩm đầu ra và đánh giá thì khó hình thành năng lực cảm thụ, diễn giải, thực hành và bảo vệ di sản (Thương Nguyễn, 28/11/2023). Nguyên nhân trực tiếp của hạn chế này là do giáo dục di sản chưa được nhận thức đầy đủ như một quá trình sư phạm có thiết kế, mà nhiều khi vẫn được xem như hoạt động ngoại khóa hoặc giáo dục truyền thống bổ trợ. Nguyên nhân sâu xa hơn là thói quen dạy học thiên về truyền thụ kiến thức, trong đó di sản được coi như “nội dung để giới thiệu” hơn là “nguồn học liệu sống” để học sinh khám phá và kiến tạo ý nghĩa. Vì vậy, một số hoạt động tuy có tên gọi là trải nghiệm nhưng thực chất vẫn nặng về quan sát thụ động. Hệ quả là học sinh có thể biết thêm tên di tích, lễ hội, nhân vật hoặc sự kiện, nhưng chưa hình thành được năng lực ứng xử với di sản, chưa hiểu sâu mối quan hệ giữa di sản với cộng đồng, bản sắc và trách nhiệm công dân văn hóa.

Hai là, học liệu, chương trình và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm gắn với di sản còn thiếu tính hệ thống.

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã mở ra không gian cho giáo dục địa phương, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và các chủ đề liên môn, nhưng để biến di sản thành học liệu giáo dục cần có kịch bản sư phạm, phiếu nhiệm vụ, bộ câu hỏi khám phá, tư liệu chuẩn hóa, sản phẩm học tập mẫu và tiêu chí đánh giá phù hợp từng cấp học. Trong thực tiễn, nhiều địa phương có hệ thống di sản phong phú nhưng chưa chuyển hóa được nguồn di sản đó thành học liệu ổn định cho nhà trường. Mô hình giáo dục di sản Óc Eo ở tỉnh An Giang với bộ câu hỏi tương tác, catalogue hiện vật tiêu biểu và chương trình áp dụng tại trường, tại di tích cho thấy, khi có học liệu được chuẩn hóa, giáo dục di sản có thể đi vào chiều sâu. Ngược lại, nếu thiếu loại học liệu này, hoạt động dễ phụ thuộc vào kinh nghiệm tự phát của từng giáo viên hoặc từng cơ sở di sản (Minh Thuận & Thế Hạnh, 30/12/2025).

Bên cạnh đó, có nơi thiếu quy trình chuyển hóa tri thức di sản thành tri thức sư phạm. Di sản văn hóa thường gắn với lịch sử, không gian, nghi lễ, cộng đồng thực hành, ký ức và giá trị biểu tượng, trong khi nhà trường cần mục tiêu bài học, hoạt động phù hợp lứa tuổi, phương pháp tổ chức và tiêu chí đánh giá. Nếu không có sự phối hợp giữa giáo viên, chuyên gia văn hóa, bảo tàng, di tích, nghệ nhân và cơ quan quản lý, học liệu di sản dễ rơi vào hai cực: hoặc quá hàn lâm, khó sử dụng trong lớp học; hoặc quá đơn giản, chỉ còn là thông tin giới thiệu. Hệ quả là giáo dục di sản chưa phát huy hết tiềm năng liên môn, chưa tạo được chuỗi hoạt động học tập có chiều sâu từ chuẩn bị trước trải nghiệm, trải nghiệm tại di sản đến xử lý thông tin, phản tư và sáng tạo sản phẩm sau trải nghiệm.

Ba là, năng lực giáo viên, điều kiện tổ chức và cơ chế phối hợp giữa nhà trường với thiết chế văn hóa, cộng đồng chưa đáp ứng yêu cầu của giáo dục di sản theo tiếp cận trải nghiệm.

Khác với dạy học trong lớp, giáo dục di sản đòi hỏi giáo viên phải có khả năng thiết kế hoạt động ngoài lớp học, khai thác di sản địa phương, phối hợp với bảo tàng, di tích, nghệ nhân, cộng đồng, bảo đảm an toàn, quản lý rủi ro, tổ chức học tập theo dự án và đánh giá sản phẩm học tập. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng được bồi dưỡng đầy đủ về phương pháp giáo dục di sản, diễn giải di sản hoặc tổ chức trải nghiệm tại không gian văn hóa. Bên cạnh đó, nhiều trường còn gặp khó khăn về thời gian, kinh phí, phương tiện di chuyển, nhân lực hỗ trợ và cơ chế phối hợp thường xuyên với thiết chế văn hóa.

Thực tiễn tại thành phố Huế cho thấy, ngay cả nơi có hệ thống di sản phong phú và chương trình giáo dục di sản được quan tâm, việc triển khai vẫn gặp khó khăn về nhân sự và tài chính, do đó, cần có sự chung tay, huy động nguồn lực từ nhiều đơn vị để các chương trình ngày càng chất lượng, có chiều sâu, đáp ứng yêu cầu của ngành Giáo dục và mong muốn của phụ huynh, học sinh (Sơn Thùy, 12/02/2025). Do vậy, giáo dục di sản không thể chỉ dựa vào nỗ lực đơn lẻ của nhà trường hoặc di tích mà cần cơ chế phối hợp liên ngành, liên thiết chế và nguồn lực ổn định. Nếu thiếu cơ chế đó, các mô hình tốt dễ mang tính phong trào, khó nhân rộng và khó duy trì bền vững.

Nguyên nhân của hạn chế này là do hoạt động bồi dưỡng giáo viên về giáo dục di sản chưa thường xuyên, trong khi cơ chế phối hợp giữa ngành Giáo dục và ngành Văn hóa ở nhiều nơi chưa đủ chặt chẽ. Nguyên nhân sâu xa là nhà trường vẫn chủ yếu vận hành theo logic lớp học, thời khóa biểu, kiểm tra đánh giá truyền thống. Trong khi đó, bảo tàng, di tích lại vận hành theo logic bảo tồn, trưng bày và phục vụ công chúng. Khi hai hệ thống này chưa có cơ chế phối hợp ổn định, giáo dục di sản khó trở thành hoạt động thường xuyên trong chương trình nhà trường. Hệ quả là nhiều hoạt động phụ thuộc vào sáng kiến cá nhân của giáo viên, cán bộ bảo tàng hoặc sự quan tâm nhất thời của từng địa phương, chưa hình thành được mạng lưới giáo dục di sản có tính hệ thống.

Bốn là, ứng dụng công nghệ số, đánh giá kết quả giáo dục di sản và bảo đảm tiếp cận công bằng giữa các vùng, miền vẫn còn nhiều hạn chế.

Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số quốc gia về di sản, phục vụ lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, quảng bá và phát huy giá trị di sản. Đây là định hướng quan trọng, nhưng từ số hóa di sản đến sử dụng dữ liệu số như học liệu trong trường phổ thông vẫn là một khoảng cách đáng kể. Nhiều tư liệu số nếu chỉ dừng ở hình ảnh, video, dữ liệu mô tả hoặc trưng bày trực tuyến thì chưa đủ để trở thành học liệu sư phạm. Muốn phục vụ giáo dục, các tư liệu này cần được thiết kế thành nhiệm vụ học tập, câu hỏi khám phá, hoạt động tương tác và tiêu chí đánh giá phù hợp với học sinh.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo tàng và di sản đang mở ra nhiều cách tiếp cận mới, nhưng mức độ triển khai còn chưa đồng đều. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di sản tư liệu, di tích quốc gia đặc biệt và bảo vật quốc gia được số hóa, ứng dụng trên nền tảng số (Hồng Hà, 22/8/2023). Mục tiêu này cho thấy, quy mô công việc rất lớn và đòi hỏi nguồn lực, công nghệ, dữ liệu, nhân lực chuyên môn cũng như cơ chế chia sẻ dữ liệu phù hợp. Đối với nhà trường, khó khăn không chỉ là có hay không có tư liệu số mà là giáo viên và học sinh có đủ năng lực khai thác, đánh giá, diễn giải và sáng tạo từ tư liệu đó hay không.

Một hạn chế khác là đánh giá kết quả giáo dục di sản hiện nay chưa thực sự rõ ràng. Nhiều hoạt động có thể tạo hứng thú, nhưng chưa có tiêu chí đánh giá mức độ phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh, như: năng lực cảm thụ, diễn giải, hợp tác, sáng tạo, trách nhiệm bảo tồn và khả năng phát huy giá trị di sản. Nếu kết quả giáo dục chỉ được đo bằng việc học sinh tham gia bao nhiêu chuyến tham quan, viết bao nhiêu bài thu hoạch hoặc biểu diễn bao nhiêu tiết mục thì chưa phản ánh được chiều sâu chuyển biến về nhận thức, thái độ và hành động. Đồng thời, khoảng cách giữa đô thị, nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận bảo tàng, di tích, thiết bị số, đường truyền internet và học liệu chất lượng. Điều này có thể tạo ra sự không công bằng trong tiếp cận giáo dục di sản giữa các nhóm học sinh.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa ngành Giáo dục, ngành Văn hóa, nhà trường, bảo tàng, di tích, nghệ nhân và cộng đồng địa phương.

Đây là giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế căn bản là giáo dục di sản hiện nay ở nhiều nơi còn phụ thuộc vào sáng kiến đơn lẻ của từng trường, từng bảo tàng hoặc từng địa phương, trong khi bản chất của giáo dục di sản là lĩnh vực liên ngành, không thể chỉ do nhà trường thực hiện. Di sản văn hóa thuộc không gian cộng đồng, thiết chế văn hóa, cơ quan quản lý chuyên ngành, nghệ nhân và chủ thể thực hành di sản; còn nhà trường là nơi chuyển hóa các giá trị ấy thành hoạt động giáo dục có mục tiêu. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sở Giáo dục và Đào tạo, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhà trường, bảo tàng, ban quản lý di tích, nghệ nhân, gia đình và cộng đồng.

Để thực hiện hiệu quả giải pháp này cần xây dựng chương trình phối hợp liên ngành về giáo dục di sản trong trường phổ thông. Thiết lập danh mục di sản có thể khai thác trong giáo dục theo từng địa phương. Hình thành mạng lưới “trường học – bảo tàng – di tích – nghệ nhân – cộng đồng”. Quy định rõ trách nhiệm, nguồn lực, cơ chế an toàn, bảo hiểm, kinh phí, lịch trình, học liệu và tiêu chí đánh giá hoạt động. Cơ chế phối hợp cần được cụ thể hóa bằng kế hoạch hằng năm giữa ngành Giáo dục và ngành Văn hóa ở cấp địa phương, tránh tình trạng hoạt động giáo dục di sản chỉ diễn ra khi có sự kiện, ngày kỷ niệm hoặc phong trào.

Thứ hai, xây dựng và chuẩn hóa hệ thống học liệu di sản văn hóa theo hướng mở, liên môn, phù hợp lứa tuổi và gắn với địa phương.

Di sản chỉ trở thành “nguồn học liệu sống” khi được chuyển hóa thành học liệu sư phạm phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông. Nếu chỉ dừng ở tài liệu giới thiệu di tích, lễ hội, nhân vật hoặc hiện vật, học liệu di sản chưa đủ khả năng tổ chức học sinh khám phá, thực hành và sáng tạo sản phẩm học tập. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường, giáo viên, chuyên gia giáo dục, chuyên gia văn hóa, bảo tàng, khu di tích, nghệ nhân và cơ quan quản lý văn hóa địa phương cần phối hợp xây dựng bộ học liệu di sản địa phương theo cấp học; thiết kế chuyên đề liên môn về di sản; phát triển ngân hàng câu hỏi khám phá, phiếu học tập, bản đồ di sản học đường, hồ sơ di sản địa phương, sản phẩm học tập mẫu và tiêu chí đánh giá. Học liệu phải bảo đảm yêu cầu: (1) Tính xác thực khoa học, (2) Tính sư phạm, (3) Tính phù hợp lứa tuổi và (4) Tính đa dạng văn hóa. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học và không gian dành cho giáo dục địa phương, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp tạo nền tảng để học liệu di sản được tổ chức theo hướng liên môn, gắn với thực tiễn đời sống.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế thẩm định nội dung, kho học liệu dùng chung và khả năng cập nhật thường xuyên. Học liệu di sản cần được thiết kế theo chu trình trước trải nghiệm, trong trải nghiệm và sau trải nghiệm: trước trải nghiệm giúp học sinh hình thành câu hỏi và nhiệm vụ; trong trải nghiệm giúp các em quan sát, đối thoại, ghi chép, thực hành; sau trải nghiệm giúp các em xử lý thông tin, phản tư và tạo sản phẩm. Cách tiếp cận này sẽ giảm tính tự phát, nâng cao chất lượng hoạt động và bảo đảm sự nhất quán trong giáo dục di sản giữa các trường, địa phương và cấp học.

Thứ ba, nâng cao năng lực giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về thiết kế, tổ chức và đánh giá giáo dục di sản, theo tiếp cận trải nghiệm.

Giáo viên là chủ thể trung tâm chuyển hóa chính sách, học liệu và di sản thành hoạt động giáo dục cụ thể. Nếu giáo viên chưa được bồi dưỡng đầy đủ, giáo dục di sản dễ rơi vào hai xu hướng: lồng ghép kiến thức một cách giản đơn trong bài học, hoặc tổ chức tham quan, trải nghiệm nhưng thiếu mục tiêu và tiêu chí đánh giá. Do đó, nâng cao năng lực giáo viên phải được coi là điều kiện quyết định để giáo dục di sản đi vào chiều sâu. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào phương pháp thiết kế hoạt động trải nghiệm tại bảo tàng, di tích, làng nghề, cộng đồng; kỹ năng xây dựng câu hỏi khám phá, phiếu nhiệm vụ, dự án học tập, sản phẩm truyền thông di sản; năng lực tổ chức học tập ngoài lớp học, quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn; năng lực phối hợp với bảo tàng, di tích, nghệ nhân, cộng đồng và năng lực đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh thông qua quá trình tham gia, sản phẩm dự án, thuyết trình, video, bản đồ di sản hoặc triển lãm học sinh.

Ngoài ra, cách thức bồi dưỡng cũng không nên dừng ở tập huấn lý thuyết mà cần tổ chức theo mô hình thực hành. Giáo viên cần được cùng chuyên gia văn hóa đi thực địa, lựa chọn di sản phù hợp, xây dựng kịch bản sư phạm, thử nghiệm hoạt động, nhận phản hồi, điều chỉnh học liệu và chia sẻ kinh nghiệm trong cộng đồng chuyên môn. Các cơ sở đào tạo giáo viên, sở Giáo dục và Đào tạo, phòng Giáo dục và Đào tạo, bảo tàng, khu di tích và chuyên gia văn hóa cần cùng tham gia vào quá trình này. Qua đó, giúp hình thành đội ngũ giáo viên có năng lực khai thác di sản như một nguồn học liệu sống, giảm tình trạng tổ chức hoạt động hình thức và tạo nền tảng nhân lực cho giáo dục di sản bền vững.

Thứ tư, phát triển các mô hình học tập trải nghiệm di sản thực chất, gắn với bảo tàng, di tích, làng nghề, nghệ nhân, lễ hội và đời sống cộng đồng.

Trải nghiệm trong giáo dục di sản không đồng nghĩa với việc đưa học sinh ra khỏi lớp học, mà là tổ chức cho học sinh tham gia vào quá trình quan sát, đối thoại, thực hành, giải quyết vấn đề và sáng tạo sản phẩm gắn với di sản. Do vậy, mỗi mô hình trải nghiệm phải có mục tiêu, nhiệm vụ học tập, phân công vai trò, sản phẩm đầu ra và tiêu chí đánh giá.

Các mô hình có thể triển khai gồm “lớp học tại bảo tàng”, “lớp học tại di tích”, “dự án di sản địa phương”, “hành trình di sản học đường”, “câu lạc bộ di sản”, “em làm hướng dẫn viên di sản”, “bản đồ di sản quanh em”, “sản phẩm truyền thông di sản”, “phỏng vấn nghệ nhân”, “ngày hội di sản trong trường học”. Thực tiễn mô hình tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho thấy, các chương trình như “Lớp học xưa”, nơi học sinh được trải nghiệm viết chữ bằng bút lông trên giấy dó, đã góp phần biến di tích thành không gian học tập có thiết kế, giúp học sinh tiếp cận di sản thông qua hành động, cảm xúc và tương tác. Tuy nhiên, các điều kiện thực hiện là cần lựa chọn di sản phù hợp với mục tiêu giáo dục và lứa tuổi; chuẩn bị học liệu trước trải nghiệm; tổ chức hoạt động tại di sản; xử lý kết quả sau trải nghiệm; đánh giá sản phẩm, thái độ và mức độ tham gia của học sinh.

Các mô hình trải nghiệm phải hướng tới sự tham gia chủ động của học sinh. Các em không chỉ là người nghe, người xem, mà là chủ thể khám phá, đặt câu hỏi, đối thoại, ghi chép, diễn giải, thực hành và lan tỏa giá trị di sản. Với cách tổ chức đó, giáo dục di sản có thể phát triển đồng thời tri thức lịch sử – văn hóa, năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, sáng tạo, năng lực thẩm mỹ và trách nhiệm công dân văn hóa. Đây cũng là cách giúp khắc phục tình trạng học sinh biết về di sản nhưng chưa biết ứng xử với di sản trong đời sống hiện đại.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới đánh giá kết quả giáo dục di sản theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực.

Công nghệ số có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản, nhưng chỉ có ý nghĩa giáo dục khi được thiết kế thành học liệu, nhiệm vụ học tập và hoạt động tương tác phù hợp. Vì vậy, cần xây dựng kho học liệu số về di sản phục vụ giáo dục phổ thông; kết nối dữ liệu di sản số với bài học, hoạt động trải nghiệm và giáo dục địa phương; phát triển bản đồ di sản số, trưng bày trực tuyến, video học tập, thực tế ảo, thực tế tăng cường khi có điều kiện; đồng thời hướng dẫn giáo viên khai thác tư liệu số có chọn lọc.

Quyết định số 2026/QĐ-TTg đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng dữ liệu số về di sản, phục vụ quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, quảng bá và khai thác giá trị di sản. Đối với giáo dục phổ thông, vấn đề không chỉ là số hóa được bao nhiêu di sản, mà là dữ liệu số đó có được chuyển hóa thành học liệu sư phạm hay không. Do đó, chuyển đổi số cần đi cùng với đổi mới đánh giá. Kết quả giáo dục di sản không nên chỉ đo bằng số lượng hoạt động, số chuyến tham quan hoặc bài thu hoạch, mà cần đánh giá quá trình tham gia, mức độ hiểu biết, năng lực cảm thụ, diễn giải, hợp tác, sáng tạo, trách nhiệm bảo tồn và khả năng phát huy giá trị di sản. Cùng với đó, cần quan tâm đến khả năng tiếp cận của học sinh ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bởi nếu thiếu hạ tầng số, thiết bị, học liệu phù hợp và hỗ trợ của giáo viên, chuyển đổi số có thể làm gia tăng khoảng cách tiếp cận thay vì thu hẹp khoảng cách.

4. Kết luận

Giáo dục di sản văn hóa trong trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành bản sắc văn hóa, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm cộng đồng và năng lực công dân của học sinh trong bối cảnh đổi mới giáo dục và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay. Đánh giá từ thực tiễn cho thấy, những chuyển biến tích cực về cơ sở chính sách, cách thức tích hợp chương trình, các mô hình phối hợp giữa nhà trường với thiết chế văn hóa, cộng đồng và ứng dụng công nghệ số… Tuy nhiên, các hạn chế về nhận thức, học liệu, năng lực giáo viên, cơ chế phối hợp, đánh giá và điều kiện tiếp cận cũng đang còn là những điểm nghẽn cần khắc phục. Vì vậy, đổi mới giáo dục di sản văn hóa phải được thực hiện đồng bộ, từ hoàn thiện cơ chế phối hợp, chuẩn hóa học liệu, bồi dưỡng giáo viên, phát triển mô hình trải nghiệm thực chất đến đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới đánh giá theo phẩm chất, năng lực. Trên cơ sở đó, di sản văn hóa có thể trở thành nguồn học liệu sống, góp phần phát triển con người Việt Nam toàn diện ngay từ trong các nhà trường phổ thông.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư số 17/2025/TT-BGDĐT ngày 12/9/2025 sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (06/3/2025). Những lớp học giữa lòng di sản. https://bvhttdl.gov.vn/nhung-lop-hoc-giua-long-di-san-20250306151849638.htm
Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (11/02/2026). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-khoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang.html
Hà Phương (10/7/2023). Giáo dục di sản ứng dụng công nghệ: Làm cho di sản có thể tiếp cận với tất cả mọi người. https://baovanhoa.vn/di-san/giao%C2%A0duc-di-san-ung-dung-cong-nghe-lam-cho-di-san-co-the-tiep-can-voi-tat-ca-moi-nguoi-59879.html
Hồ Phúc (16/12/2022). Đưa di sản văn hóa vào trường học. https://giaoducthoidai.vn/dua-di-san-van-hoa-vao-truong-hoc-post619152.html
Hồng Hà (22/8/2023). Nửa nhiệm kỳ ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo tàng góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa. https://bvhttdl.gov.vn/nua-nhiem-ky-nganh-vhttdl-chuyen-doi-so-trong-linh-vuc-bao-tang-gop-phan-bao-ton-va-phat-huy-cac-gia-tri-di-san-van-hoa-20230821144241064.htm
Lương Huệ Minh (2025). Giáo dục di sản văn hóa cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 350, 3(2025). https://vi.quanlynhanuoc.vn/qlnn/article/view/1130. DOI: https://doi.org/10.59394/qlnn.350.2025.1130
Minh Thuận & Thế Hạnh (30/12/2025). Lan tỏa Di sản Văn hóa Óc Eo đến với học sinh ở An Giang. https://baovanhoa.vn/van-hoa/lan-toa-di-san-van-hoa-oc-eo-den-voi-hoc-sinh-o-an-giang-193829.html
Nguyễn Linh (07/3/2025). Nơi “chắp cánh” tình yêu văn hóa, lịch sử cho học sinh, sinh viên. https://baovanhoa.vn/van-hoa/noi-chap-canh-tinh-yeu-van-hoa-lich-su-cho-hoc-sinh-sinh-vien-123071.html
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Sơn Thùy (12/02/2025). Lan tỏa di sản văn hóa Cố đô Huế. https://baovanhoa.vn/van-hoa/lan-toa-di-san-van-hoa-co-do-hue-120891.html
S. Thùy (23/9/2024). Nhiều hoạt động về giáo dục di sản tại di tích điện Phụng Tiên, Đại Nội Huế. https://baovanhoa.vn/van-hoa/nhieu-hoat-dong-ve-giao-duc-di-san-tai-di-tich-dien-phung-tien-dai-noi-hue-106006.html
Thành Tâm (25/12/2025). Đưa học sinh chạm vào di sản. https://giaoducthoidai.vn/dua-hoc-sinh-cham-vao-di-san-post761906.html
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030.
Thương Nguyễn (28/11/2023). Chương trình giáo dục di sản cần phải được xây dựng theo phương pháp tiếp cận mới. https://bvhttdl.gov.vn/chuong-trinh-giao-duc-di-san-can-phai-duoc-xay-dung-theo-phuong-phap-tiep-can-moi-20231128195522931.htm