E-commerce of small and medium-sized enterprises in Vietnam: opportunities, challenges, and issues to be addressed
ThS. Tạ Duy An
Email: taduyan.bmt@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra như vũ bão hiện nay, thương mại điện tử ngày càng tăng trưởng về quy mô và trở thành kênh quan trọng để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường, tối ưu giao dịch và tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số. Bài viết phân tích cơ hội và thách thức đối với thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trên các phương diện thể chế, thị trường, kết cấu hạ tầng số, công nghệ, nhân lực, logistics và niềm tin số. Kết quả cho thấy, quy mô thị trường tăng nhanh, khung pháp lý được điều chỉnh và công nghệ số đã tạo dư địa lớn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, khoảng cách về năng lực công nghệ, nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, an toàn dữ liệu và chi phí logistics vẫn hạn chế khả năng khai thác cơ hội. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng hiệu quả, an toàn và bền vững.
Từ khóa: Thương mại điện tử; doanh nghiệp nhỏ và vừa; chuyển đổi số; kinh tế số; Việt Nam.
Abstract: In the context of deepening international integration and the rapidly unfolding Fourth Industrial Revolution, e-commerce has expanded significantly in scale and has become a critical channel enabling small and medium-sized enterprises to access markets, optimize transactions, and participate more deeply in the digital economy. This article analyzes the opportunities and challenges facing e-commerce among small and medium-sized enterprises in Vietnam in terms of the institutional framework, markets, digital infrastructure, technology, human resources, logistics, and digital trust. The findings indicate that rapid market expansion, an evolving legal framework, and digital technologies have created considerable opportunities for small and medium-sized enterprises; however, limitations in technological capacity, financial resources, human resources, and data security, together with high logistics costs, continue to constrain their ability to capitalize on these opportunities. On this basis, the article proposes solutions to enhance the e-commerce capacity of small and medium-sized enterprises toward greater efficiency, security, and sustainability.
Keywords: E-commerce; small and medium-sized enterprises; digital transformation; digital economy; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, quy mô bán lẻ thương mại điện tử Việt Nam đạt khoảng 20,5 tỷ USD năm 2023, tăng 25% so với năm 2022 (Bộ Công Thương, 20/12/2023); vượt 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2024 (Bộ Công Thương, 18/02/2025); đến năm 2025, con số này đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5% (VECOM, 2024). Diễn biến này phản ánh sự thay đổi nhanh của hành vi tiêu dùng, phương thức giao dịch và cách doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Cùng với tăng trưởng thị trường, môi trường pháp lý cũng có những điều chỉnh nhất định theo hướng tích cực. Luật Thương mại điện tử năm 2025, Nghị định số 248/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử và Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 (theo Quyết định số 1568/QĐ-BCT ngày 03/6/2025 của Bộ Công Thương) đã có những điều chỉnh nhất định đối với sàn giao dịch, mạng xã hội có hoạt động thương mại điện tử, nền tảng tích hợp, livestream và tiếp thị liên kết; đồng thời, tăng yêu cầu định danh người bán, minh bạch thông tin, truy vết, xử lý hàng hóa vi phạm và trách nhiệm của nền tảng. Đây là cơ sở để củng cố niềm tin nhưng cũng tạo thêm yêu cầu tuân thủ đối với những doanh nghiệp còn quản trị theo hướng truyền thống.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, loại hình này giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu doanh nghiệp, chiếm khoảng 98% trong tổng số gần 930.000 doanh nghiệp đang hoạt động (Báo Chính phủ, 28/8/2024), là lực lượng trọng tâm, đóng góp hơn 50% GDP, khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo hơn 40 triệu việc làm (Cục Thống kê, 25/3/2025). Vì vậy, khả năng khai thác thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ quyết định đến năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp mà còn tác động trực tiếp đến mức độ chuyển đổi số quốc gia. Mặc dù quy mô nhỏ nhưng với khả năng thích ứng tương đối linh hoạt khiến thương mại điện tử mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của thị trường thương mại điện tử không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều tận dụng được các cơ hội. Năng lực số, nguồn vốn, nhân lực, dữ liệu, an toàn thông tin, khả năng vận hành đa kênh, logistics và tuân thủ pháp luật tạo ra khoảng cách rõ giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn. OECD (2021) cho rằng, doanh nghiệp nhỏ có xu hướng tiếp nhận công nghệ số chậm hơn doanh nghiệp lớn và thường tập trung vào các công cụ cơ bản do hạn chế về nguồn lực, kỹ năng và năng lực tổ chức. Trong bối cảnh Việt Nam, mức độ ứng dụng bán lẻ trực tuyến chịu tác động của lợi thế công nghệ, khả năng tương thích, hỗ trợ của lãnh đạo, định hướng công nghệ, xu hướng thị trường, hỗ trợ của Chính phủ và khung pháp lý (Nguyen & cộng sự, 2022). Vì vậy, nhận diện cả cơ hội và thách thức có ý nghĩa quan trọng để thiết kế chính sách hỗ trợ phù hợp và giúp doanh nghiệp lựa chọn lộ trình ứng dụng thương mại điện tử phù hợp theo năng lực thực tế.
Bài viết tập trung vào ba nội dung: khái quát thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa; phân tích thực trạng thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở cơ hội và thách thức, chỉ ra những vấn đề cần giải quyết, từ đó, đề xuất một số giải pháp phát triển thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
2. Khái quát về thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu là quá trình doanh nghiệp ứng dụng phương tiện điện tử, nền tảng số và dữ liệu để thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động giới thiệu sản phẩm, tiếp thị, giao kết, thanh toán, bán hàng, chăm sóc khách hàng, quản lý đơn hàng và kết nối với các chủ thể trong chuỗi cung ứng hàng hóa. Cách tiếp cận này rộng hơn hoạt động bán hàng trên sàn thương mại điện tử bởi doanh nghiệp có thể kết hợp website, ứng dụng, mạng xã hội, sàn giao dịch, hệ thống thanh toán, phần mềm quản trị và các dịch vụ logistics.
Từ đó, thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa có ba đặc điểm cơ bản: (1) Chi phí gia nhập thị trường số thấp hơn so với mở rộng mạng lưới cửa hàng vật lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận khách hàng ngoài phạm vi địa lý truyền thống; (2) Hiệu quả thương mại điện tử phụ thuộc nhiều vào năng lực quản trị của doanh nghiệp, không chỉ là công nghệ; (3) Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường dựa nhiều vào nền tảng, dịch vụ thuê ngoài và hệ sinh thái số, do đó, có thể tăng tốc nhanh nhưng cũng dễ bị phụ thuộc vào chính sách nền tảng, thuật toán, phí dịch vụ và năng lực của đối tác.
Theo đó, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp nhỏ và vừa được hình thành từ sự tương tác giữa các yếu tố: (1) Công nghệ và kết cấu hạ tầng số; (2) Nguồn lực và năng lực quản trị của doanh nghiệp; (3) Thị trường, thể chế, cạnh tranh, logistics và các điều kiện bên ngoài.
3. Thực trạng thương mại điện tử của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
3.1. Cơ hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Một là, khung thể chế mới tạo nền tảng và hành lang pháp lý cho thương mại điện tử phát triển thuận lợi hơn. Cụ thể: Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ đã hình thành hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ, tư vấn, thông tin và phát triển nguồn nhân lực; Luật Thương mại điện tử năm 2025 và Nghị định số 248/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý chuyên biệt hơn cho các chủ thể, nền tảng và giao dịch thương mại điện tử. Bên cạnh đó, Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 cũng xác định mục tiêu 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trên nền tảng thương mại điện tử, 80% giao dịch thương mại điện tử thanh toán không dùng tiền mặt và 100% giao dịch có hóa đơn điện tử. Các mục tiêu này tạo tín hiệu chính sách tích cực đối với phát triển hạ tầng, đào tạo, liên kết vùng và xuất khẩu trực tuyến. Điều này cho thấy, môi trường thương mại điện tử ngày càng được chuẩn hóa và rõ ràng hơn sẽ góp phần giảm được chi phí tìm hiểu và rủi ro pháp lý trong dài hạn. Đồng thời, mục tiêu 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trên nền tảng thương mại điện tử cũng tạo căn cứ để các chương trình hỗ trợ công nghệ, đào tạo và xúc tiến thương mại tập trung vào khu vực doanh nghiệp này.
Hai là, quy mô thị trường và mức độ kết nối số tạo dư địa lớn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy mô thương mại điện tử bán lẻ tăng từ 20,5 tỷ USD năm 2023 lên trên 25 tỷ USD năm 2024 và khoảng 31 tỷ USD năm 2025 (Bộ Công Thương, 18/02/2025). Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người sử dụng Internet, tương đương 84,2% dân số (Báo Chính phủ, 18/6/2026). Quy mô người dùng lớn giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận thị trường rộng hơn, nhất là tệp khách hàng tại các trung tâm tiêu dùng lớn. Đặc biệt, đối với doanh nghiệp chuyên biệt, như: sản phẩm OCOP, thủ công mỹ nghệ, nông sản chế biến, thương mại điện tử còn mở ra các thị trường ngách mà mô hình bán lẻ truyền thống khó khai thác do chi phí phân phối cao. Như vậy, thương mại điện tử góp phần giảm chi phí tìm kiếm, tiếp cận và giao dịch. Bên cạnh đó, nền tảng số tập hợp người mua, hệ thống thanh toán, logistics, quảng cáo, đánh giá và giải quyết đơn hàng, nhờ đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể thử nghiệm sản phẩm mà không phải xây dựng nhiều mạng lưới cửa hàng vật lý.
Ba là, kết cấu hạ tầng thanh toán số phát triển nhanh thúc đẩy tăng trưởng các giao dịch. Theo thống kê, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt năm 2024 đạt 15,92 tỷ giao dịch, tăng 56,94% về số lượng so với cùng kỳ năm 2023; riêng giao dịch qua QR Code đạt 271,58 triệu giao dịch, tăng 106,68% (Lan Chi, 15/01/2025). Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, mức độ phổ cập thanh toán số giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa rút ngắn quy trình bán hàng, hỗ trợ đối soát, giảm phụ thuộc vào tiền mặt và tạo dữ liệu cho quản trị doanh thu. Từ đó, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các giải pháp theo mô hình thuê dịch vụ thay vì đầu tư hệ thống lớn ngay từ đầu.
Bốn là, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và AI góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên dữ liệu. Các công cụ phân tích hành vi khách hàng, tự động hóa nội dung, chăm sóc khách hàng, dự báo nhu cầu, tối ưu quảng cáo và quản trị tồn kho đang ngày càng phổ biến. Các yếu tố về lợi thế, như: mức chi phí chấp nhận được, tính dễ sử dụng, nguồn nhân lực, an toàn và tích hợp AI đều có mối quan hệ có ý nghĩa với ý định áp dụng thương mại điện tử; ý định áp dụng thương mại điện tử có quan hệ dương với hiệu quả marketing (Nguyen Thi Phuong Giang & cộng sự, 2025). Kết quả này cho thấy, công nghệ phát huy được vai trò khi gắn với năng lực tổ chức và khả năng chấp nhận của doanh nghiệp.
Năm là, thương mại điện tử xuyên biên giới tạo cơ hội mở rộng thị trường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thương mại điện tử xuyên biên giới mở ra khả năng tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng nước ngoài, đặc biệt đối với các sản phẩm có hàm lượng thiết kế, câu chuyện thương hiệu và lợi thế nguồn gốc. Tuy nhiên, mới có khoảng 11% doanh nghiệp nhỏ và vừa được khảo sát sử dụng website hoặc ứng dụng thương mại điện tử phục vụ mục đích xuất nhập khẩu, trong khi tỷ lệ ở doanh nghiệp lớn là 31% (VECOM, 2024). Khoảng cách này cho thấy, dư địa tăng trưởng nếu doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ về tiêu chuẩn, logistics, dữ liệu sản phẩm, thanh toán và tuân thủ thị trường đối tác.
Như vậy, cơ hội của doanh nghiệp nhỏ và vừa được hình thành từ thị trường tăng trưởng nhanh, mức độ phổ cập Internet và thanh toán số, thể chế mới, công nghệ dễ tiếp cận hơn và khả năng mở rộng thị trường ngoài địa phương, ngoài biên giới. Tuy nhiên, cơ hội mới chỉ tạo thành kết quả khi doanh nghiệp có năng lực hấp thụ công nghệ, quản trị tốt và duy trì niềm tin của khách hàng.
3.2. Thách thức và những vấn đề đặt ra
Thứ nhất, bối cảnh địa chính trị và biến động thương mại quốc tế làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi cung ứng và đặc biệt là thương mại điện tử xuyên biên giới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường hạn chế về nguồn lực tài chính để ứng phó trước những biến động cước vận tải, thời gian giao hàng và chi phí tuân thủ. Ví dụ như giá cước vận chuyển từ Việt Nam đến bờ Đông Hoa Kỳ có thời điểm tăng hơn 70%, trong khi cước sang châu Âu tăng 3 – 4 lần khi gián đoạn tại Biển Đỏ xảy ra (Trang thông tin điện tử tổng hợp logistics Việt Nam, 02/12/2024). Điều này cho thấy, mức độ nhạy cảm của doanh nghiệp quy mô nhỏ trước cú sốc logistics quốc tế.
Thứ hai, khung pháp lý mới tạo môi trường minh bạch hơn nhưng cũng nâng cao yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần cập nhật thường xuyên quy định về chủ thể kinh doanh, thông tin giao dịch, trách nhiệm với người tiêu dùng, hóa đơn, dữ liệu, nền tảng và hoạt động xuyên biên giới theo Luật Thương mại điện tử và văn bản hướng dẫn. Đối với doanh nghiệp thiếu bộ phận pháp chế hoặc nhân sự chuyên trách, chi phí tìm hiểu và triển khai quy trình tuân thủ không nhỏ.
Thứ ba, khoảng cách về năng lực công nghệ và quản trị số giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn còn rõ. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng phần mềm quản trị nguồn nhân lực là 41%, quản lý chuỗi cung ứng 23%, quản trị quan hệ khách hàng 24% và hoạch định nguồn lực doanh nghiệp là 15%; tương ứng với con số này ở doanh nghiệp lớn là 85%, 75%, 65% và 65%. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử là 22%, trong khi doanh nghiệp lớn đạt 46% (VECOM, 2024). Những chênh lệch này cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa mới số hóa một số khâu, chưa hình thành hệ thống dữ liệu và quản trị đủ sâu để khai thác đầy đủ lợi ích của thương mại điện tử.
Bên cạnh đó, việc doanh nghiệp đã dùng hóa đơn điện tử, mở gian hàng hoặc có trang mạng xã hội chưa đủ để kết luận rằng, doanh nghiệp đã chuyển đổi mô hình kinh doanh. Năng lực thương mại điện tử chỉ hình thành khi dữ liệu giao dịch được kết nối với quản trị khách hàng, tồn kho, dòng tiền, phát triển sản phẩm và quyết định chiến lược.
Hình 1. Mức độ ứng dụng một số cấu phần chuyển đổi số trong mẫu 222 doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nguyễn Quang Nhật (2025).
Với chỉ số trung bình chỉ đạt 0,391; kê khai và nộp thuế điện tử đạt 99%, nhưng website hoặc mạng xã hội đạt 55%, đổi mới sản phẩm 16%, đổi mới quy trình 14% và đầu tư R&D 8% (Nguyễn Quang Nhật, 2025), cấu trúc này phản ánh một quá trình số hóa chưa cân bằng: những hoạt động được thúc đẩy bởi quy định hành chính có mức phổ cập rất cao, trong khi các năng lực tạo giá trị và đổi mới còn thấp.
Thứ tư, thị trường chuyển dần tăng trưởng theo chiều sâu, tập trung vào nhà bán có thương hiệu, nguồn gốc rõ ràng và năng lực vận hành. Dữ liệu của Metric cho thấy, năm 2025, tổng giá trị giao dịch trên Shopee, TikTok Shop, Lazada và Tiki đạt 429,7 nghìn tỷ đồng, tăng 34,75%. Tuy nhiên, số gian hàng có phát sinh đơn giảm 7,43%, còn 601.780 gian hàng. Trên Shopee và TikTok Shop, nhóm Shop Mall chỉ chiếm 2,12% số gian hàng nhưng tạo ra 32,6% doanh số. Shopee và TikTok Shop lần lượt chiếm 56,04% và 41,31% doanh số trên bốn sàn, tức tổng cộng 97,35% (Metric, 2026). Do đó, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ hội thị trường vẫn rất lớn nhưng mô hình kinh doanh dựa thuần túy vào giá thấp, khuyến mại và lưu lượng do nền tảng cung cấp ngày càng kém bền vững. Doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng thông qua quản trị sản phẩm, nội dung, tốc độ giao hàng, đánh giá khách hàng, dữ liệu quảng cáo và biên lợi nhuận theo từng kênh.
Thứ năm, thiếu nhân lực chất lượng cao tiếp tục là điểm nghẽn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhân lực lao động của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực thương mại điện tử chưa đáp ứng đủ cả số lượng và chất lượng, đặc biệt ở những vị trí đòi hỏi trình độ cao, kỹ năng chuyên sâu (Anh Thơ, 2025). Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó khăn không chỉ là tìm kiếm chuyên gia mà còn ở năng lực của chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản lý trong lựa chọn công nghệ, đọc dữ liệu, thiết kế quy trình đa kênh và kiểm soát hiệu quả chi phí số.
Thứ sáu, quy mô vốn nhỏ hạn chế khả năng đầu tư liên tục cho công nghệ, dữ liệu và thương hiệu. Khảo sát của EBI 2024 cho thấy, chỉ khoảng 1% doanh nghiệp nhỏ và vừa chi trên 100 triệu đồng/năm cho quảng bá website hoặc ứng dụng, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp lớn là 14% (VECOM, 2024). Khoảng cách ngân sách dù không trực tiếp quyết định hiệu quả, nhưng phản ánh mức độ khác biệt về khả năng thử nghiệm, tối ưu quảng cáo, xây dựng nội dung, đầu tư hệ thống và duy trì đội ngũ chuyên trách. Vì vậy, thách thức của doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là thiếu vốn mà còn là lựa chọn đúng hạng mục đầu tư có khả năng tạo dữ liệu, khách hàng và doanh thu.
Thứ bảy, an toàn dữ liệu và niềm tin số trở thành điều kiện cạnh tranh. EBI 2026 cho thấy 45% doanh nghiệp đánh giá bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu là khó khăn lớn nhất khi triển khai thương mại điện tử. Ở phía người tiêu dùng, 57% coi nguy cơ lộ thông tin cá nhân là trở ngại đối với mua sắm trực tuyến (Thu Giang, 2026). Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, một sự cố dữ liệu, gian lận thanh toán hoặc tài khoản bị chiếm quyền có thể gây thiệt hại vượt quá giá trị giao dịch trước mắt vì ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín thương hiệu.
Thứ tám, gian lận thương mại, hàng giả và chất lượng dịch vụ trên môi trường số làm tăng chi phí xây dựng niềm tin. Năm 2025, cơ quan quản lý thương mại điện tử yêu cầu gỡ bỏ gần 50.000 sản phẩm vi phạm và ngăn chặn khoảng 13.000 gian hàng vi phạm (Bộ Công Thương, 24/12/2025). Không những vậy, lĩnh vực thương mại điện tử chiếm 191 đơn, thư phản ánh gửi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, tương đương 21,3% tổng số đơn, cao nhất trong các nhóm được thống kê; nội dung chủ yếu liên quan chênh lệch giữa mô tả và chất lượng thực tế, đổi trả, giao hàng, quảng cáo, gian lận thương hiệu, thanh toán và bảo mật dữ liệu. Môi trường thiếu tin cậy gây bất lợi đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đang trong quá trình xây dựng và củng cố thương hiệu vì chi phí chứng minh uy tín cao hơn.
Thứ chín, chi phí và chất lượng logistics còn là rào cản lớn, đặc biệt là trong thương mại điện tử xuyên biên giới. Chi phí logistics của Việt Nam hiện được ước tính khoảng 16 – 17% GDP, cao hơn mức bình quân 10 – 12% của thế giới (Trang thông tin điện tử tổng hợp logistics Việt Nam, 02/12/2024). Chỉ số ở cấp quốc gia không đồng nhất với chi phí logistics riêng của từng doanh nghiệp nhỏ và vừa, song cũng phản ánh phần nào môi trường chi phí mà doanh nghiệp phải đối mặt. Trong thương mại điện tử, yêu cầu giao hàng nhanh, đổi trả, xử lý đơn nhỏ và phân tán làm logistics trở thành phần quan trọng của trải nghiệm khách hàng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ít đơn hàng thường có vị thế đàm phán thấp hơn và khó tự đầu tư mạng lưới hoàn tất đơn hàng. Bên cạnh đó, xuất khẩu trực tuyến cũng tạo ra các yêu cầu dịch vụ mới: đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu, chứng nhận an toàn, phân loại thuế, hải quan cho lô hàng nhỏ, bản địa hóa nội dung, thanh toán ngoại tệ, hoàn trả và dịch vụ khách hàng ở múi giờ khác. Doanh nghiệp nếu càng phụ thuộc một nền tảng toàn cầu thì càng dễ bị ảnh hưởng bởi thay đổi phí lưu kho, quảng cáo, hoàn trả và quy tắc tài khoản.
4. Một số giải pháp
Một là, cần triển khai khung pháp lý thương mại điện tử theo hướng dễ tiếp cận đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cơ quan quản lý cần chuẩn hóa bộ hướng dẫn tuân thủ theo quy mô và mô hình kinh doanh, trong đó làm rõ các nghĩa vụ về thông tin người bán, hợp đồng, hóa đơn, bảo vệ người tiêu dùng, dữ liệu, quảng cáo, hàng hóa có điều kiện và thương mại điện tử xuyên biên giới. Đồng thời, tăng cường các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP cũng như cần kết nối rõ hơn với mục tiêu của Kế hoạch phát triển thương mại điện tử 2026-2030. Trong đó, đặc biệt chú ý hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cho vay… Từ đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa mới dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn để nâng cao tiềm lực tài chính nội tại và đầu tư hiệu quả cho kinh doanh.
Hai là, cần phát triển năng lực số và nhân lực thương mại điện tử theo nhu cầu của từng nhóm doanh nghiệp. Đào tạo đại trà về kiến thức chung sẽ khó hiệu quả nếu không gắn với công việc cụ thể. Do đó, chương trình đạo tạo nên phân tầng: chủ doanh nghiệp tập trung vào chiến lược kênh, dữ liệu và hiệu quả đầu tư; nhân sự vận hành tập trung vào gian hàng, nội dung, quảng cáo, chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu và logistics; nhân sự kỹ thuật tập trung vào tích hợp hệ thống, an toàn và tự động hóa. Mặt khác, chất lượng đầu ra cần được đo bằng năng lực thực hành và kết quả kinh doanh, không chỉ số lượt tham dự.
Ba là, cần giảm chi phí tiếp cận công nghệ theo hướng dùng chung và thuê dịch vụ. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tư hệ thống riêng ngay từ đầu thường không tối ưu. Chính sách hỗ trợ nên ưu tiên các giải pháp điện toán đám mây, phần mềm quản trị theo thuê bao, quản lý khách hàng, quản lý kho, đơn hàng, hóa đơn điện tử, chữ ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, phân tích dữ liệu và công cụ AI có khả năng tích hợp. Cơ chế hỗ trợ có thể dựa trên đồng tài trợ hoặc phiếu hỗ trợ chuyển đổi số nhưng cần gắn với tiêu chí sử dụng thực tế, dữ liệu đầu ra và khả năng liên thông để tránh đầu tư phần mềm không được khai thác.
Bốn là, cần xây dựng năng lực dữ liệu, an toàn thông tin và tài sản số thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần coi dữ liệu khách hàng, dữ liệu đơn hàng, tồn kho, chi phí quảng cáo, tỷ lệ chuyển đổi và khiếu nại là nguồn lực quản trị. Website với tên miền riêng, hệ thống quản lý quan hệ khách hàng và kho dữ liệu tối thiểu cần được kết nối với sàn và mạng xã hội theo mô hình đa kênh. Đồng thời, doanh nghiệp cần áp dụng phân quyền truy cập, xác thực nhiều lớp, sao lưu, quản lý nhà cung cấp dịch vụ và quy trình phản ứng sự cố. Trong bối cảnh 45% doanh nghiệp coi bảo mật dữ liệu là khó khăn lớn nhất (Thu Giang, 2026), an toàn thông tin cần được xem là điều kiện kinh doanh thay vì chỉ là chi phí kỹ thuật phụ trợ.
Năm là, cần nâng hiệu quả logistics thương mại điện tử, phát triển hệ sinh thái xuất khẩu số theo ngành hàng. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics, chuẩn hóa địa chỉ số, dữ liệu vận tải và kết nối giữa nền tảng thương mại điện tử với dịch vụ kho vận, bưu chính và thanh toán. Đồng thời, mỗi ngành hàng cần một gói hỗ trợ trọn chuỗi, gồm: lựa chọn thị trường, chuẩn sản phẩm, chứng nhận, đăng ký nhãn hiệu, nội dung bản địa hóa, kho và hoàn tất đơn hàng, thuế, hải quan, thanh toán và hoàn trả. Số lượng ngành hàng được hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm để tạo hiệu quả cao nhất.
Sáu là, cần tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại điện tử hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển thương hiệu và thị trường trên cơ sở đa kênh, giảm phụ thuộc vào một nền tảng. Các chương trình xúc tiến nên chuyển từ hỗ trợ “lên sàn thương mại” sang hỗ trợ chu trình hoàn chỉnh gồm chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm, nội dung, quảng cáo, đo lường chuyển đổi, chăm sóc khách hàng, tái mua hàng và mở rộng thị trường.
5. Kết luận
Thương mại điện tử đang tạo ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam để tiếp cận thị trường, khai thác dữ liệu, đổi mới mô hình và xuất khẩu. Tuy nhiên, các số liệu cũng cho thấy, khoảng cách đáng kể về phần mềm quản trị, hợp đồng điện tử, nguồn lực quảng bá, khả năng xuất nhập khẩu trực tuyến và an toàn dữ liệu. Bên cạnh đó, chi phí logistics, thiếu nhân lực chuyên sâu, rủi ro gian lận và yêu cầu tuân thủ ngày càng cao làm tăng áp lực đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Thị trường năm 2025 đã cho thấy, một chuyển dịch quan trọng: giao dịch tăng nhanh trong khi số nhà bán có đơn giảm; doanh số tập trung vào một số nền tảng và nhóm gian hàng có năng lực chính hãng, vận hành bài bản. Vì vậy, trong giai đoạn 2026 – 2030, vấn đề trọng tâm không còn là đưa bao nhiêu doanh nghiệp lên môi trường số mà là bao nhiêu doanh nghiệp hình thành được năng lực cạnh tranh số có thể duy trì sau hỗ trợ. Điều đó đòi hỏi chính sách theo bậc trưởng thành, quản trị nền tảng minh bạch, tuân thủ theo thiết kế, hệ sinh thái xuất khẩu theo ngành, dịch vụ dùng chung ở địa phương và hệ thống thống kê thống nhất. Về phía doanh nghiệp, chiến lược phù hợp là khai thác nền tảng nhưng đồng thời làm chủ sản phẩm, thương hiệu, dữ liệu, quan hệ khách hàng và an toàn số. Chỉ khi đó, thương mại điện tử mới thực sự trở thành động lực nâng cấp khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa và tạo tăng trưởng số bao trùm, bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Anh Thơ (2025). Thị trường 25 tỷ USD và bài toán nhân lực cho thương mại điện tử Việt Nam. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/thi-truong-25-ty-usd-va-bai-toan-nhan-luc-cho-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-102250516134749253.htm
Báo Chính phủ (28/8/2024). Việt Nam – Hàn Quốc tăng cường hợp tác khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi nghiệp. https://baochinhphu.vn/viet-nam-han-quoc-tang-cuong-hop-tac-khu-vuc-dnnvv-va-khoi-nghiep-102240828195305687.htm
Báo Chính phủ (18/6/2026). Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số. https://baochinhphu.vn/bao-chi-cach-mang-viet-nam-trong-thoi-dai-so-102260618103231065.htm
Báo Chính phủ (18/6/2026). Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời đại số. https://baochinhphu.vn/bao-chi-cach-mang-viet-nam-trong-thoi-dai-so-102260618103231065.htm
Bộ Công Thương (20/12/2023). 10 sự kiện nổi bật ngành Công Thương năm 2023. https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/10-su-kien-noi-bat-nganh-cong-thuong-nam-2023.html
Bộ Công Thương (24/12/2025). Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. https://moit.gov.vn/tin-tuc/cuc-thuong-mai-dien-tu-va-kinh-te-so-tong-ket-cong-tac-nam-2025-va-trien-khai-nhiem-vu-nam-2026.html
Bộ Công Thương (2025). Quyết định số 1568/QĐ-BCT ngày 03/6/2025 phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Bộ Công Thương (18/02/2025). Thương mại điện tử Việt Nam năm 2024: Những bước tiến và thách thức. https://moit.gov.vn/khoa-hoc-va-cong-nghe/thuong-mai-dien-tu-viet-nam-nam-2024-nhung-buoc-tien-va-thach-thuc.html
Chính phủ (2021). Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chính phủ (2026). Nghị định số 248/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Thương mại điện tử.
Cục Thống kê (25/3/2025). Thủ tướng chỉ thị thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-khac/2025/03/thu-tuong-chi-thi-thuc-day-phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua
Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam – VECOM (2024). Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt Nam 2024. https://ebi.vecom.vn/Bao-Cao/Noi-dung-bao-cao/52/Bao-cao-Chi-so-Thuong-mai-dien-tu-Viet-nam-2024.aspx
Lan Chi (15/01/2025). Dấu ấn công nghệ ngân hàng năm 2024: An ninh, an toàn trong cung cấp và sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng. https://www.sbv.gov.vn/vi/web/sbv_portal/w/sbv622854
Metric (2026). Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2025. https://metric.vn/insights/cong-bo-bao-cao-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-2025/
Nguyen, T. H., Le, X. C. & Vu, T. H. L. (2022). An Extended Technology-Organization-Environment (TOE) Framework for Online Retailing Utilization in Digital Transformation: Empirical Evidence from Vietnam. Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity, 8(4), 200, https://doi.org/10.3390/joitmc8040200
Nguyễn Quang Nhật (2025). Determinants of digital transformation in Vietnamese Small and Medium-sized Enterprises (SMEs): Evidence from the World Bank enterprise survey. Ho Chi Minh City Open University Journal of Science – Economics and Business Administration, 16(7), tr. 94-114, https://doi.org/10.46223/HCMCOUJS.econ.en.16.7.4471.2026.
Nguyen Thi Phuong Giang, Thai Dong Tan & Le Thi Hong Nhung (2025). Determinants of E-commerce Adoption and Its Effect on Marketing Performance among Vietnamese SMEs: A PLS-SEM Approach Using the TOE Framework, Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity, 11(4), 100670, https://doi.org/10.1016/j.joitmc.2025.100670
OECD (2021). The Digital Transformation of SMEs. OECD Studies on SMEs and Entrepreneurship, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/bdb9256a–en
Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Quốc hội (2025). Luật Thương mại điện tử năm 2025.
Trang thông tin điện tử tổng hợp logistics Việt Nam (02/12/2024). Báo cáo Logistics Việt Nam 2024: Khu Thương mại tự do (miễn phí). https://logistics.gov.vn/nghien-cuudao-tao/bao-cao-logistics-viet-nam-2024-khu-thuong-mai-tu-do-mien-phi
Thu Giang (2026). Tên miền VN góp phần xây dựng niềm tin số cho thương mại điện tử. Báo Chính phủ. https://cms.baochinhphu.vn/ten-mien-vn-gop-phan-xay-dung-niem-tin-so-cho-thuong-mai-dien-tu-102260810092238489.htm
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (2025). Bức tranh tiêu dùng năm 2025: Thương mại điện tử chiếm tỷ trọng phản ánh cao nhất. https://vcc.gov.vn/default.aspx?category_id=9343771e-96be-48b5-a35d-b8ea9bc1aa93&do=detail&id=13a4a6aa-f549-44dc-b188-6e79ab385d73&page=news



