Vai trò của các đô thị lớn trong thúc đẩy chuyển đổi xanh nền kinh tế Việt Nam

The role of major cities in promoting the green transformation of Vietnam’s Economy

ThS. Bùi Thị Minh Nhâm
Học viện Tài chính – Phân hiệu Hưng Yên
Email: buithiminhnham@hvtc.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với quá trình phát triển kinh tế Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Các đô thị lớn là những không gian kinh tế năng động, tập trung dân cư, doanh nghiệp, hạ tầng và các hoạt động sản xuất, tiêu dùng, đồng thời cũng là nơi phát sinh lượng lớn khí thải và chất thải. Sự tập trung này vừa tạo áp lực lớn đối với môi trường, vừa tạo điều kiện huy động và phân bổ nguồn lực để triển khai các giải pháp giảm phát thải, ứng dụng công nghệ xanh và đổi mới phương thức sản xuất, tiêu dùng, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh và lan tỏa các mô hình phát triển bền vững trong toàn nền kinh tế. Bài viết phân tích vai trò của các đô thị lớn trong thúc đẩy chuyển đổi xanh nền kinh tế Việt Nam, tập trung vào giảm phát thải, đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng xanh và thúc đẩy các phương thức phát triển bền vững.

Từ khóa: Chuyển đổi xanh; kinh tế xanh; đổi mới sáng tạo; phát triển bền vững; Việt Nam.

Abstract: Green transformation has become an urgent requirement for Vietnam’s economic development in order to achieve the goal of net-zero emissions by 2050. Major cities are dynamic economic spaces where populations, businesses, infrastructure, and production and consumption activities are highly concentrated, while also being major sources of emissions and waste. This concentration creates significant pressure on the environment, but also provides favorable conditions for mobilizing and allocating resources to implement emissions-reduction solutions, apply green technologies, and innovate production and consumption practices, thereby contributing to the green transformation process and the dissemination of sustainable development models throughout the economy. This article analyzes the role of major cities in promoting the green transformation of Vietnam’s economy, focusing on emissions reduction, innovation, green infrastructure development, and the promotion of sustainable development practices.

Keywords: Green transformation; green economy; innovation; sustainable development; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, phát triển kinh tế xanh đã trở thành xu hướng tất yếu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo đó, chuyển đổi xanh không chỉ nhằm giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà còn hướng tới mô hình tăng trưởng bền vững, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Tại Việt Nam, các đô thị lớn, như: Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chi Minh và Đà Nẵng đang giữ vị trí trung tâm trong phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời cũng là nơi tập trung mật độ dân cư cao, hoạt động sản xuất – kinh doanh sôi động và nhu cầu tiêu thụ năng lượng lớn. Điều này khiến các đô thị trở thành nguồn phát thải đáng kể; đồng thời cũng là nơi có điều kiện thuận lợi nhất để triển khai các mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và đổi mới công nghệ. Thực tiễn cho thấy, các đô thị lớn không chỉ đóng vai trò là “điểm nóng” về môi trường mà còn là “đầu tàu” trong thử nghiệm và lan tỏa các chính sách phát triển bền vững, như: giao thông xanh, đô thị thông minh, quản lý chất thải và sử dụng năng lượng tái tạo. Do đó, việc nghiên cứu vai trò của các đô thị lớn trong thúc đẩy chuyển đổi xanh nền kinh tế Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ cơ chế lan tỏa phát triển bền vững từ đô thị ra toàn nền kinh tế.

2. Vai trò của các đô thị lớn trong chuyển đổi xanh nền kinh tế Việt Nam

Thứ nhất, đô thị lớn – trung tâm phát thải và địa bàn trọng điểm trong giảm phát thải. Các đô thị lớn tập trung dân cư, hoạt động giao thông, xây dựng, công nghiệp và dịch vụ nên có nhu cầu tiêu thụ năng lượng và lượng phát thải CO₂ lớn. Đồng thời, với sự tập trung về dân cư, hạ tầng, doanh nghiệp và nguồn lực, đô thị lớn có nhiều điều kiện để triển khai các giải pháp giảm phát thải trên quy mô rộng, tạo tác động rõ nét đến quá trình chuyển đổi xanh.Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, phát triển hạ tầng đô thị bền vững là một trong những giải pháp quan trọng, trong đó chú trọng giao thông công cộng xanh, sử dụng năng lượng tái tạo và phát triển công trình xanh, góp phần giảm tiêu thụ năng lượng và cường độ phát thải trong đô thị (Phương Nhi, 2024).

Tính đến năm 2025, Việt Nam đã có hơn 1,36 triệu m2 sàn xây dựng đạt chứng nhận công trình xanh, phản ánh xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ của ngành xây dựng theo hướng bền vững (Trần Thị Nhung, 2024a). Điều này khẳng định vai trò của đô thị lớn không chỉ là nơi tiêu thụ năng lượng mà còn là nơi tiên phong trong giảm phát thải thông qua tái cấu trúc không gian xây dựng. Bên cạnh đó, các đô thị lớn có điều kiện thúc đẩy giao thông xanh thông qua việc giảm phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phát triển xe điện và giao thông công cộng, qua đó góp phần giảm phát thải trong giao thông đô thị.

Thứ hai, đô thị lớn là địa bàn triển khai, hoàn thiện và nhân rộng chuyển đổi xanh. Hiện nay, các đô thị lớn với lợi thế về năng lực quản trị, nguồn lực tài chính, hạ tầng cơ sở và mức độ tập trung các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi để triển khai các chính sách, chương trình và mô hình chuyển đổi xanh; đồng thời, đánh giá, hoàn thiện và nhân rộng những giải pháp phù hợp với thực tiễn. Theo các nghiên cứu và định hướng của Chính phủ, nhiều công cụ thúc đẩy tăng trưởng xanh, như: tài chính xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và thị trường carbon đang từng bước được hình thành và triển khai tại Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý đô thị, phát triển kinh tế tuần hoàn và xây dựng hạ tầng xanh đang mở ra những phương thức mới trong quản lý tài nguyên, giảm chất thải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Việt Nam cũng đang chuẩn bị triển khai thí điểm sàn giao dịch carbon, tạo cơ sở từng bước hình thành cơ chế định giá carbon và thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính (Thu Cúc, 2025). Trong quá trình này, các đô thị lớn có vai trò quan trọng do tập trung nhiều hoạt động công nghiệp, năng lượng, xây dựng và dịch vụ có mức phát thải cao; đồng thời, quy tụ các chủ thể có khả năng tham gia thị trường.

Từ thực tiễn triển khai, các đô thị lớn có thể đánh giá hiệu quả chính sách, hoàn thiện cơ chế thực hiện và tổng kết kinh nghiệm làm cơ sở để vận dụng phù hợp tại các địa phương khác. Qua đó, các giải pháp chuyển đổi xanh không chỉ được triển khai trong phạm vi đô thị mà còn có khả năng mở rộng về quy mô, góp phần nâng cao hiệu quả và thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Thứ ba, đô thị lớn là trung tâm đổi mới sáng tạo và thu hút tài chính xanh. Các đô thị lớn tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và tổ chức tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và phát triển các giải pháp xanh. Đây cũng là nơi hình thành các hệ sinh thái khởi nghiệp xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ môi trường, xây dựng xanh và giao thông điện hóa.

Các đô thị lớn, như: Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng có lợi thế trong thu hút nguồn vốn cho các dự án xanh nhờ có sự tập trung của hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp lớn và môi trường đầu tư năng động. Theo Bộ Tài chính, tính đến tháng 6/2024, tổng giá trị trái phiếu xanh phát hành tại Việt Nam đạt khoảng 1,4 tỷ USD, cho thấy thị trường tài chính xanh đang từng bước phát triển (Trần Thị Nhung, 2024b). Tuy nhiên, quy mô này vẫn còn nhỏ so với nhu cầu vốn để thực hiện mục tiêu trung hòa carbon. Vì vậy, phát huy lợi thế của các đô thị lớn trong thu hút nguồn lực tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Thứ tư, đô thị lớn định hình hành vi tiêu dùng và lối sống xanh. Với dân cư tập trung và mức độ phát triển kinh tế cao, các đô thị lớn có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tiêu dùng xanh và hình thành lối sống bền vững. Việc người dân sử dụng phương tiện công cộng, giảm sử dụng nhựa dùng một lần, tăng tái chế và ưu tiên sản phẩm thân thiện với môi trường góp phần tạo ra nhu cầu mới trên thị trường, thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi phương thức sản xuất và cung ứng. Những thay đổi này cũng có khả năng lan tỏa đến các khu vực khác thông qua thị trường, truyền thông và các mối liên kết kinh tế – xã hội. Đồng thời, các chính sách tăng trưởng xanh của Việt Nam nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và doanh nghiệp trong thay đổi hành vi tiêu dùng, sản xuất theo hướng bền vững. Vì vậy, chuyển đổi xanh không chỉ đặt ra yêu cầu về công nghệ và nguồn lực kinh tế mà còn gắn với thay đổi hành vi và lối sống của xã hội.

3. Thực trạng chuyển đổi xanh nền kinh tế Việt Nam tại các đô thị lớn

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, chuyển đổi xanh trở thành một định hướng quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. Ngày 01/10/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, với mục tiêu thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội; phát triển nền kinh tế xanh, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu. Trên cơ sở đó, các đô thị lớn, như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã từng bước triển khai chuyển đổi xanh trên nhiều lĩnh vực, tập trung vào giao thông, xây dựng, quản lý chất thải, sử dụng năng lượng và quản trị đô thị. Cụ thể:

(1) Chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông đô thị đã có những bước tiến lớn.

Tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 6004/QĐ-UBND ngày 18/11/2024 về việc phê duyệt Đề án phát triển hệ thống giao thông vận tải công cộng bằng xe buýt sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn thành phố; Kế hoạch số số 74/KH-UBND ngày 27/02/2026 về chuyển đổi phương tiện taxi sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn thành phố. Theo đó, năm 2025 thành phố đã đưa thêm 7 tuyến xe buýt điện vào vận hành, nâng tổng số lên 17 tuyến với 256 xe; đến cuối năm 2025 dự kiến có 23 tuyến với khoảng 367 xe buýt điện (Tùng Dương, 2025). Đặc biệt, từ ngày 01/4/2026, Hà Nội đã vận hành 10 tuyến xe buýt điện với 288 phương tiện (Bảo Bình, 2026). Thành phố đặt mục tiêu hoàn thành chuyển đổi toàn bộ xe buýt sang sử dụng điện, năng lượng xanh vào năm 2030.

Đối với taxi, đến hết tháng 6/2025, Hà Nội có 8.831 xe taxi điện, chiếm 47,4% tổng số taxi đang hoạt động. Đây là một trong những kết quả đáng chú ý trong quá trình chuyển đổi phương tiện giao thông xanh của Thủ đô (N. Huyền, 2025).

Tại TP. Hồ Chí Minh, UBND TP. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 62/2026/QĐ-UBND ngày 10/8/2026 quy định quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn thành phố. Theo quy định, các đơn vị kinh doanh vận tải phải duy trì nghiêm các điều kiện an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ trong suốt quá trình vận hành. Đến năm 2030, 100% xe buýt hoạt động trên địa bàn phải sử dụng điện hoặc năng lượng xanh. Đồng thời, các tuyến xe buýt được khuyến khích cải tạo, đầu tư phương tiện có thiết bị hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, với tỷ lệ tối thiểu đạt 15% (Quang Phương, 2026). Theo đó, xe buýt sẽ được số hóa toàn diện từ dữ liệu luồng tuyến, biểu đồ giờ chạy đến hạ tầng bến bãi để tích hợp vào cơ sở dữ liệu ngành. Các nhà chờ xe buýt hiện đại bắt buộc phải trang bị hệ thống chiếu sáng công cộng, camera giám sát an ninh và bảng thông tin điện tử trực tuyến.

Tại thành phố Đà Nẵng, UBND thành phố ban hành Quyết định 3284/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi xe buýt sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 – 2050. Mục tiêu là tổ chức triển khai hiệu quả lộ trình chuyển đổi và phát triển phương tiện sử dụng năng lượng xanh đối với hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, bảo đảm phù hợp với Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh của Thủ tướng Chính phủ.

Những kết quả trên cho thấy, giao thông xanh tại các đô thị lớn đã từng bước hình thành hệ thống phương tiện công cộng sử dụng năng lượng sạch. Tuy nhiên, phương tiện cá nhân sử dụng xăng, dầu vẫn chiếm tỷ trọng lớn; chi phí đầu tư phương tiện và hạ tầng còn cao. Do đó, quá trình chuyển đổi cần tiếp tục gắn với phát triển giao thông công cộng, hạ tầng sạc và các chính sách hạn chế phương tiện phát thải cao.

(2) Phát triển công trình xanh từng bước đạt được những kết quả rõ nét.

Trong lĩnh vực xây dựng, công trình xanh đã từng bước trở thành một nội dung của quá trình chuyển đổi xanh tại các đô thị. Các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, tối ưu hóa sử dụng nước và thiết kế thích ứng với điều kiện khí hậu ngày càng được quan tâm trong phát triển công trình. Tính đến hết năm 2024, Việt Nam có 559 công trình xanh với tổng diện tích sàn hơn 13,6 triệu m2. Hà Nội có hơn 2,16 triệu m2 diện tích công trình xanh, đứng thứ hai cả nước sau TP. Hồ Chí Minh (Thanh Thanh, 2025).

Sự gia tăng số lượng công trình xanh cho thấy, nhận thức và mức độ áp dụng các tiêu chuẩn môi trường trong lĩnh vực xây dựng đã có chuyển biến tích cực. Đồng thời, một số đô thị lớn đã chú trọng đến phát triển không gian xanh, hạ tầng sinh thái, sử dụng năng lượng hiệu quả và nâng cao khả năng thích ứng của công trình với biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, mô hình công trình xanh chưa trở thành yêu cầu phổ biến đối với toàn bộ thị trường xây dựng, việc áp dụng tiêu chuẩn xanh còn phụ thuộc nhiều vào chi phí đầu tư, khả năng tiếp cận công nghệ và mức độ quan tâm của chủ đầu tư. Vì vậy, phát triển công trình xanh cần tiếp tục được gắn với hoàn thiện tiêu chuẩn, cơ chế khuyến khích và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong toàn bộ vòng đời công trình.

(3) Quản lý chất thải và kinh tế tuần hoàn từng bước được triển khai.

Quản lý chất thải là một nội dung quan trọng trong chuyển đổi xanh tại các đô thị lớn. Thời gian qua, nhiều đô thị đã triển khai phân loại chất thải tại nguồn, tổ chức thu gom riêng một số loại chất thải; đồng thời, thúc đẩy tái sử dụng và tái chế. Những hoạt động này từng bước làm thay đổi cách tiếp cận quản lý chất thải, từ xử lý chất thải sau khi phát sinh sang phân loại, thu hồi và tái sử dụng tài nguyên. Trong đó, phân loại chất thải tại nguồn được xem là bước chuyển quan trọng, tạo điều kiện nâng cao khả năng thu hồi vật liệu và hình thành các hoạt động tái chế đối với nhựa, giấy, kim loại, chất thải điện tử, qua đó tạo tiền đề cho phát triển các chuỗi giá trị theo hướng tuần hoàn.

Tuy nhiên, hiệu quả phân loại và tái chế chất thải giữa các đô thị còn chưa đồng đều. Hạ tầng thu gom, vận chuyển và xử lý riêng sau phân loại tại một số địa bàn chưa đồng bộ; thị trường sản phẩm tái chế còn hạn chế; sự tham gia của người dân và doanh nghiệp chưa ổn định. Những yếu tố này khiến các hoạt động tuần hoàn trong quản lý chất thải đô thị mới chủ yếu dừng ở từng khâu riêng lẻ, chưa hình thành được các chuỗi giá trị khép kín với quy mô lớn.

Do đó, quá trình quản lý chất thải tại các đô thị đang từng bước chuyển từ xử lý chất thải sang thu hồi và sử dụng tài nguyên, vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thu gom, phân loại và tái chế, xây dựng cơ chế khuyến khích phù hợp và phát triển thị trường cho sản phẩm tái chế.

(4) Chuyển đổi năng lượng và giảm phát thải từng bước được thúc đẩy.

Trên nền tảng những chuyển biến trong quản lý tài nguyên và chất thải, các đô thị lớn đã bắt đầu triển khai nhiều giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo. Điện mặt trời là các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong công trình, phương tiện giao thông điện và hệ thống quản lý năng lượng thông minh từng bước được đưa vào thực tiễn. Đáng chú ý, trong lĩnh vực giao thông, điện hóa phương tiện đã mở rộng từ xe buýt sang taxi và các phương tiện kinh doanh vận tải, kéo theo nhu cầu phát triển hạ tầng sạc và hệ thống cung cấp năng lượng sạch.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi năng lượng tại đô thị vẫn chưa đồng đều; nhiên liệu hóa thạch còn được sử dụng phổ biến trong giao thông, trong khi phát triển năng lượng tái tạo và hệ thống quản lý năng lượng thông minh chưa tương xứng với tiềm năng. Chi phí đầu tư, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế hỗ trợ tiếp tục là những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ chuyển đổi.

Nhìn chung, chuyển đổi năng lượng tại các đô thị đã có những bước tiến ban đầu, nhưng để mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả, cần đồng thời tháo gỡ các rào cản về công nghệ, hạ tầng và chi phí đầu tư, trong đó nguồn lực tài chính xanh giữ vai trò quan trọng trong hỗ trợ quá trình chuyển đổi.

(5) Nguồn lực tài chính xanh bước đầu được hình thành, tạo điều kiện cho chuyển đổi xanh.

Cùng với chuyển đổi công nghệ và hạ tầng, Việt Nam đã từng bước hình thành các công cụ tài chính phục vụ tăng trưởng xanh, trong đó có tín dụng xanh và trái phiếu xanh. Các đô thị lớn với sự tập trung của doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính và dự án đầu tư có nhiều điều kiện để tiếp nhận và triển khai các nguồn vốn này. Theo đó, tài chính xanh đã từng bước trở thành một bộ phận của thị trường tài chính Việt Nam, tạo thêm kênh huy động vốn cho các dự án môi trường, năng lượng và hạ tầng xanh. Đối với các đô thị lớn, đây là nguồn lực quan trọng để hỗ trợ đầu tư vào giao thông xanh, công trình xanh, năng lượng tái tạo và xử lý chất thải.

Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn xanh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế. Do đó, việc phát triển thị trường tài chính xanh cần được gắn với các cơ chế huy động vốn dài hạn, tăng cường bảo đảm tính minh bạch và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn của các chủ thể kinh tế.

(6) Quản trị đô thị xanh từng bước được triển khai.

Chuyển đổi xanh tại các đô thị không chỉ thể hiện ở giao thông, xây dựng, năng lượng và chất thải mà còn được phản ánh qua sự thay đổi trong phương thức quản trị đô thị. Các thành phố lớn đã bắt đầu tích hợp mục tiêu môi trường, phát triển đô thị thông minh, giao thông thông minh, sử dụng năng lượng hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách.

Tại TP. Hồ Chí Minh, chuyển đổi xanh cũng từng bước được cụ thể hóa trong quản lý môi trường và giảm phát thải. Trong đó, xác định các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp và tăng cường phối hợp trong quản lý đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, Thành phố xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp.

Tại Đà Nẵng, thành phố đã ban hành kế hoạch triển khai chương trình chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan trong giao thông vận tải; đặt mục tiêu đến năm 2030 có 25% xe buýt công cộng sử dụng động cơ điện và đến năm 2050 chuyển đổi mạnh phương tiện, thiết bị và hạ tầng giao thông sang sử dụng điện, năng lượng xanh (Thanh Nga, 2026).

Những kết quả trên cho thấy, quản trị đô thị xanh đã từng bước chuyển từ định hướng chung sang xây dựng chương trình, kế hoạch và các công cụ quản lý cụ thể, trong đó Đà Nẵng chú trọng chuyển đổi năng lượng và giao thông xanh, còn TP. Hồ Chí Minh tập trung vào giảm phát thải, quản lý chất thải, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc phối hợp liên ngành, huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện vẫn cần tiếp tục được tăng cường để nâng cao hiệu quả của chuyển đổi xanh hiện nay.

4. Giải pháp phát huy vai trò của các đô thị lớn trong chuyển đổi xanh nền kinh tế

Một là, hoàn thiện thể chế và quy hoạch đô thị theo định hướng tăng trưởng xanh.

Trong quá trình triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cần tích hợp mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu vào quy hoạch, đầu tư và quản lý đô thị. Trọng tâm là tăng cường sự liên kết giữa quy hoạch giao thông, sử dụng đất và bảo vệ môi trường, bảo đảm các quyết định phát triển đô thị được xem xét đồng thời trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.

Theo đó, cần từng bước chuyển từ tư duy mở rộng không gian đô thị sang phát triển đô thị nén (compact city), ưu tiên phát triển giao thông công cộng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hạn chế sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và gia tăng không gian xanh. Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và tiêu chí đô thị xanh, bao gồm tiêu chuẩn về công trình xanh, hạ tầng xanh và đánh giá vòng đời carbon đối với các dự án đô thị. Đây là cơ sở để tích hợp yêu cầu giảm phát thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế và đầu tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện chuyển đổi xanh tại các đô thị lớn.

Hai là, phát triển hạ tầng đô thị xanh và giao thông bền vững.

Cần ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng đô thị xanh, trong đó tập trung vào hệ thống giao thông công cộng, phương tiện giao thông sạch và hạ tầng năng lượng. Theo đó, các đô thị lớn cần tiếp tục phát triển hệ thống metro, xe buýt nhanh (BRT), xe buýt điện và các phương thức vận tải công cộng phù hợp; đồng thời, tăng cường kết nối giữa các loại hình vận tải nhằm hình thành hệ thống giao thông đô thị đồng bộ, thuận tiện và ít phát thải.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng hạ tầng năng lượng sạch và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong đô thị. Việc phát triển điện mặt trời mái nhà, hệ thống chiếu sáng thông minh và lưới điện thông minh (smart grid) sẽ góp phần tăng tỷ trọng sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và nâng cao hiệu quả quản lý, phân phối năng lượng. Đồng thời, cần tăng cường tích hợp các giải pháp năng lượng sạch vào quy hoạch và phát triển hạ tầng đô thị, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi năng lượng theo hướng xanh và bền vững.

Ba là, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và quản lý tài nguyên hiệu quả.

Kinh tế tuần hoàn được xem là một trong những trụ cột quan trọng của chuyển đổi xanh đô thị. Trong mô hình này, chất thải không còn được xem là “đầu ra” mà trở thành “đầu vào” cho chu trình sản xuất mới. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi phát sinh lượng rác thải rắn sinh hoạt và công nghiệp rất lớn. Kinh tế tuần hoàn được xác định là giải pháp trọng tâm để giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế. Vì vậy, các đô thị lớn cần triển khai mạnh mẽ phân loại rác tại nguồn, tái chế, tái sử dụng vật liệu xây dựng và giảm rác thải nhựa dùng một lần. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn hiện đại theo công nghệ tiên tiến cũng là yêu cầu cấp thiết. Các mô hình “thành phố không rác thải” hoặc “đô thị tái chế” đang được nghiên cứu và áp dụng tại nhiều quốc gia và có thể là định hướng phù hợp cho Việt Nam trong tương lai.

Bốn là, thúc đẩy tài chính xanh và thu hút đầu tư bền vững.

Tài chính xanh cần được xem là một trong những nguồn lực quan trọng để thực hiện chuyển đổi xanh tại các đô thị lớn. Vì vậy, cần tiếp tục đa dạng hóa các kênh huy động vốn thông qua tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh và các hình thức tài chính phù hợp với từng nhóm dự án. Việc ưu tiên nguồn vốn cho các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, giao thông xanh, công trình xanh, xử lý chất thải và hạ tầng đô thị bền vững sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng lớn của quá trình chuyển đổi xanh.

Đồng thời, cần cải thiện môi trường đầu tư và xây dựng cơ chế thuận lợi để thu hút dòng vốn trong nước và quốc tế vào các dự án xanh. Trong đó, cần minh bạch hóa quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, hoàn thiện cơ chế ưu đãi và hỗ trợ phù hợp đối với các dự án đầu tư vào năng lượng sạch, giao thông điện hóa, công trình xanh và công nghệ môi trường. Đối với các đô thị lớn, việc nâng cao chất lượng hạ tầng, năng lực quản trị và tính minh bạch của môi trường đầu tư sẽ góp phần tăng khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư xanh.

Bên cạnh đó, cần chủ động khai thác các cơ chế tài chính mới gắn với thị trường carbon, từng bước hình thành nguồn lực cho các hoạt động giảm phát thải và chuyển đổi công nghệ. Việc phát triển thị trường carbon theo lộ trình của Việt Nam có thể tạo thêm động lực kinh tế cho doanh nghiệp và đô thị đầu tư vào các giải pháp giảm phát thải, đồng thời mở rộng các nguồn lực phục vụ mục tiêu chuyển đổi xanh.

Năm là, phát triển đô thị thông minh gắn với chuyển đổi số xanh.

Chuyển đổi số là công cụ quan trọng hỗ trợ chuyển đổi xanh đô thị. Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tối ưu hóa quản lý giao thông, năng lượng, chất thải và môi trường đô thị. Các đô thị lớn cần phát triển hệ thống “đô thị thông minh xanh”, trong đó dữ liệu thời gian thực được sử dụng để điều tiết giao thông, giám sát chất lượng không khí và tối ưu hóa tiêu thụ năng lượng. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí vận hành đô thị mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Chuyển đổi số trong đô thị là nền tảng quan trọng để xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, từ đó, hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.

Sáu là, nâng cao nhận thức cộng đồng và thay đổi hành vi tiêu dùng xanh.

Chuyển đổi xanh không chỉ phụ thuộc vào thể chế, công nghệ và nguồn lực đầu tư mà còn đòi hỏi sự tham gia chủ động của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Vì vậy, các đô thị lớn cần tăng cường giáo dục môi trường, truyền thông về lối sống và tiêu dùng xanh, đồng thời cung cấp thông tin dễ tiếp cận về tác động môi trường của sản phẩm, dịch vụ và hành vi tiêu dùng. Nội dung tuyên truyền cần gắn với những hoạt động cụ thể như sử dụng phương tiện giao thông công cộng và phương tiện điện, tiết kiệm năng lượng, hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần, phân loại chất thải tại nguồn, tái sử dụng và lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường.

Tiếp tục tạo điều kiện và cơ chế khuyến khích để chuyển nhận thức thành hành vi thực tế. Các đô thị có thể triển khai các chương trình khuyến khích tiêu dùng xanh, mở rộng các điểm thu gom và tái chế, phát triển hệ thống giao thông công cộng thuận tiện, tăng khả năng tiếp cận các sản phẩm xanh và lồng ghép tiêu chí môi trường vào các hoạt động mua sắm, dịch vụ công. Khi người dân hình thành nhu cầu và thói quen tiêu dùng xanh, tín hiệu từ thị trường sẽ thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sản phẩm, công nghệ và phương thức cung ứng theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thân thiện với môi trường. Qua đó, tạo sự tương tác giữa thay đổi hành vi của người tiêu dùng và chuyển đổi phương thức sản xuất, góp phần hình thành hệ sinh thái tiêu dùng và sản xuất xanh tại đô thị.

Bảy là, tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế trong phát triển đô thị xanh.

Chuyển đổi xanh tại các đô thị lớn cần được đặt trong mối liên kết với các đô thị vệ tinh, địa phương lân cận và toàn vùng, thay vì triển khai riêng lẻ trong phạm vi từng đô thị. Theo đó, cần tăng cường phối hợp trong quy hoạch không gian, phát triển hệ thống giao thông liên vùng, phân bố các khu chức năng đô thị, quản lý chất thải, sử dụng nguồn nước và năng lượng, qua đó phân bổ hợp lý dân cư và các hoạt động kinh tế, giảm áp lực lên hạ tầng đô thị trung tâm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đối với các vùng đô thị lớn, như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, cần thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh và địa phương trong vùng, hình thành mạng lưới đô thị có khả năng hỗ trợ và bổ trợ lẫn nhau trong quá trình chuyển đổi xanh.

Cùng với liên kết vùng, cần mở rộng hợp tác quốc tế để huy động tri thức, công nghệ và nguồn lực phục vụ phát triển đô thị xanh. Các đô thị lớn cần chủ động tham gia các mạng lưới đô thị quốc tế, tăng cường hợp tác với các tổ chức phát triển, định chế tài chính và đối tác nước ngoài trong các lĩnh vực công nghệ xanh, giao thông bền vững, năng lượng tái tạo, tài chính xanh, quản trị đô thị thông minh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo đó, các đô thị có thể tiếp nhận kinh nghiệm quản trị, chuyển giao công nghệ, huy động nguồn vốn và nâng cao năng lực xây dựng, thực thi chính sách; đồng thời, lựa chọn và điều chỉnh các mô hình phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.

Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả các chương trình hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNDP, World Bank và các đối tác phát triển, gắn hợp tác với những dự án cụ thể, có mục tiêu, nguồn lực và cơ chế đánh giá rõ ràng. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các mô hình đô thị xanh có khả năng nhân rộng tại Việt Nam.

5. Kết luận

Chuyển đổi xanh đang đặt ra yêu cầu mới đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Trong quá trình này, các đô thị lớn giữ vai trò quan trọng vì đây là nơi tập trung dân cư, hoạt động sản xuất – kinh doanh, hạ tầng và tiêu dùng, đồng thời cũng là những địa bàn chịu tác động rõ nét của các vấn đề môi trường. Đây cũng là những không gian có điều kiện thuận lợi để triển khai các giải pháp giảm phát thải, phát triển hạ tầng xanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ và thay đổi phương thức sản xuất, tiêu dùng theo hướng bền vững.

Vì vậy, phát huy vai trò của các đô thị lớn cần được đặt trong tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và mối liên kết với các vùng kinh tế. Quá trình này cần gắn với điều kiện thực tiễn, năng lực và lợi thế của từng đô thị; đồng thời, các mô hình, cách làm phù hợp cần được tổng kết, đánh giá để hoàn thiện và nhân rộng. Kinh nghiệm thực tiễn từ các đô thị lớn sẽ là cơ sở để các địa phương tham khảo, vận dụng phù hợp trong quá trình thực hiện chuyển đổi xanh, qua đó góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Khoa học Công nghệ (20/3/2025). Đẩy mạnh phát triển tài chính xanh ở Việt Nam. https://vista.gov.vn/vi/news/khoa-hoc-nhan-van/day-manh-phat-trien-tai-chinh-xanh-o-viet-nam-11023.html.
Bảo Bình (01/4/2026). Hà Nội vận hành thêm 10 tuyến xe buýt điện từ ngày 1/4. https://pbgdpl.hanoi.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset_publisher/sxBNLsQSLyY8/content/ha-noi-van-hanh-them-10-tuyen-xe-buyt-ien-tu-ngay-1-4
N. Huyền (18/7/2025). Hà Nội ưu tiên đầu tư cho chuyển đổi phương tiện giao thông xanh. https://vietnamnet.vn/ha-noi-uu-tien-dau-tu-cho-chuyen-doi-phuong-tien-giao-thong-xanh-2423277.html
Quốc hội (2024). Nghị quyết số 136/2024/QH15 ngày 26/6/2024 về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng.
Quang Phương (17/8/2026). TP. Hồ Chí Minh: Từng bước số hóa, xanh hóa giao thông đô thị. https://hdnd.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/tp-ho-chi-minh-tung-buoc-so-hoa-xanh-hoa-giao-thong-do-thi
Phương Nhi (09/12/2021). Giải pháp trọng tâm đẩy mạnh tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2050. https://baochinhphu.vn/giai-phap-trong-tam-day-manh-tang-truong-xanh-giai-doan-2021-2030-tam-nhin-2050-102241209163321561.htm
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thu Cúc (28/3/2025). Triển khai thí điểm sàn giao dịch carbon. https://baochinhphu.vn/trien-khai-thi-diem-san-giao-dich-carbon 102250328182931668.htm?
Tùng Dương (20/12/2025). Hà Nội sẽ hoàn thành chuyển đổi phương tiện giao thông xanh chậm nhất vào năm 2030. https://vneconomy.vn/ha-noi-se-hoan-thanh-chuyen-doi-phuong-tien-giao-thong-xanh-cham-nhat-trong-nam-2030.htm
Trần Thị Nhung (11/9/2024). Thực trạng thị trường tài chính xanh tại Việt Nam. https://mof.gov.vn/vien-chien-luoc/nghien-cuu-va-trao-doi-1/mofucm332024?
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2026). Quyết định 3284/QĐ-UBND ngày 06/8/2026 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi xe buýt sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 – 2050.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2024). Quyết định số 6004/QĐ-UBND ngày 18/11/2024 về việc phê duyệt “Đề án phát triển hệ thống giao thông vận tải công cộng bằng xe buýt sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn thành phố”.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2026). Kế hoạch số 74/KH-UBND ngày 27/02/2026 về chuyển đổi phương tiện taxi sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng điện, năng lượng xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2024). Quyết định số 3797/QĐ-UBND ngày 13/9/2024 ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2024-2030.
Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh (2026). Quyết định số 62/2026/QĐ-UBND ngày 10/8/2026 quy định về quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn thành phố.
Thanh Thanh (11/02/2025). Việt Nam có 559 công trình xanh. https://moitruong.net.vn/viet-nam-co-559-cong-trinh-xanh-80818.html
Thanh Nga (06/8/2026). Đà Nẵng xây dựng lộ trình phát triển xe buýt điện giai đoạn 2026 – 2050. https://cttdt.danangportal.gov.vn/vi/web/dng/w/da-nang-xay-dung-lo-trinh-phat-trien-xe-buyt-dien-giai-doan-2026-2050