Some solutions for strengthening school culture education among students at non-public universities in Hanoi today
Nguyễn Quang Học
Hiệp hội phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam
Email: Quanghoc9999cbc@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Giáo dục văn hóa học đường ở đại học là quá trình giúp sinh viên nhận biết, nội tâm hóa và thực hành các giá trị chung trong học tập, nghiên cứu, quan hệ xã hội và môi trường số. Bài viết đề xuất giải pháp tăng cường giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên tại các trường đại học ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng phân tích văn bản và tổng quan tích hợp, đối chiếu quy định hiện hành với lý thuyết văn hóa tổ chức, khí hậu khuôn viên, chương trình ẩn, sự gắn kết sinh viên và liêm chính học thuật. Kết quả cho thấy hiệu quả phụ thuộc vào sự nhất quán giữa giá trị tuyên bố với chương trình đào tạo, hành vi nêu gương, dịch vụ hỗ trợ, cơ chế tham gia và bảo đảm chất lượng. Bài viết đề xuất sáu nhóm giải pháp: kiến tạo hệ giá trị có sự tham gia; tích hợp giáo dục văn hóa vào chương trình và đánh giá; phát huy sự nêu gương của đội ngũ; trao quyền cho sinh viên và tăng trải nghiệm cộng đồng; xây dựng môi trường trực tiếp và số an toàn, bao trùm; quản trị bằng dữ liệu và cải tiến liên tục. Các giải pháp được tổ chức theo lộ trình ba giai đoạn và khung chỉ báo đa chiều. Kết quả nghiên cứu góp phần chuyển cách tiếp cận từ các hoạt động riêng lẻ sang mô hình giáo dục toàn trường, phù hợp với quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học tư thục.
Từ khóa: Văn hóa học đường; giáo dục đại học; sinh viên; trường đại học ngoài công lập; Hà Nội; liêm chính học thuật.
Abstract: School culture education in higher education extends beyond communicating codes of conduct; it is a purposeful process through which students recognize, internalize, and enact shared values in learning, research, social relations, and digital environments. This article proposes solutions for strengthening school culture education at non-public universities in Hanoi. Using document analysis and an integrative literature review, the study compares current Vietnamese regulations with scholarship on organizational culture, campus climate, the hidden curriculum, student engagement, and academic integrity. The analysis indicates that effectiveness depends on alignment between espoused values and curricula, role modelling, student support, participatory mechanisms, and quality assurance. Six solution clusters are proposed: co-creating an actionable value framework; embedding culture education in curricula and assessment; strengthening staff role modelling; empowering students and community engagement; building safe and inclusive physical and digital environments; and using data for continuous improvement.A three-stage implementation roadmap and a multidimensional indicator framework are suggested. The article advances a whole-institution approach suited to the autonomy and accountability of private higher education institutions.
Keywords: school culture; higher education; students; non-public universities; Hanoi; academic integrity
1. Đặt vấn đề
Văn hóa học đường tạo nên cách một trường đại học biến sứ mạng và giá trị thành những trải nghiệm có thật đối với người học. Sinh viên không chỉ học từ nội dung môn học mà còn học từ cách giảng viên phản hồi, cách nhà trường giải quyết kiến nghị, cách thành tích được ghi nhận, cách vi phạm được xử lý và cách các thành viên ứng xử trên không gian số. Vì vậy, một bộ quy tắc được trình bày trang trọng nhưng không hiện diện trong các quyết định hằng ngày khó có thể tạo ra thay đổi bền vững. Ngược lại, môi trường nhất quán, công bằng và khuyến khích tham gia có thể biến mỗi tương tác thành cơ hội giáo dục.
Yêu cầu này đặc biệt đáng lưu ý tại các trường đại học ngoài công lập ở Hà Nội. Trong bài viết, “ngoài công lập” được sử dụng theo cách gọi thông dụng và được hiểu về mặt thao tác là các cơ sở giáo dục đại học tư thục. Nhóm trường này hoạt động trong cùng khuôn khổ pháp luật quốc gia nhưng có sự đa dạng lớn về lịch sử, sứ mạng, quy mô, ngành đào tạo, mức độ quốc tế hóa và mô hình quản trị. Cơ chế ra quyết định linh hoạt, kết nối doanh nghiệp và khả năng đổi mới dịch vụ là những điều kiện thuận lợi để kiến tạo văn hóa. Đồng thời, áp lực cạnh tranh, nhịp độ mở rộng chương trình, cơ cấu sinh viên đa dạng, học tập kết hợp và sự hiện diện ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu phải giữ được sự thống nhất giữa chất lượng chuyên môn, phẩm giá người học, liêm chính và trách nhiệm xã hội. Đây là các điều kiện cấu trúc cần được quản trị, không phải là căn cứ để quy kết hạn chế cho mọi trường ngoài công lập.
Khuôn khổ chính sách hiện hành đã xác lập rõ hơn trách nhiệm đó. Luật Giáo dục đại học năm 2025 đặt tự do học thuật trong mối liên hệ với liêm chính học thuật và trách nhiệm đối với cộng đồng, đồng thời yêu cầu ứng dụng công nghệ gắn với bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng, đạo đức công nghệ và minh bạch (Quốc hội, 2025c). Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT xác định công tác sinh viên bao gồm giáo dục, truyền thông, quản lý, tư vấn và hỗ trợ; đề cao cách tiếp cận lấy sinh viên làm trung tâm, công bằng, minh bạch, dân chủ và hiện đại (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Các quy định này mở ra cơ sở để chuyển từ cách làm thiên về tuyên truyền sang một hệ thống giáo dục văn hóa có mục tiêu, trải nghiệm và minh chứng đánh giá.
Từ vấn đề trên, bài viết trả lời ba câu hỏi: giáo dục văn hóa học đường ở đại học nên được hiểu theo cấu trúc nào; những vấn đề nào cần ưu tiên trong bối cảnh các trường ngoài công lập tại Hà Nội; và các giải pháp nào có thể triển khai, đo lường và cải tiến? Mục tiêu của bài viết là xây dựng một khung phân tích và đề xuất hệ giải pháp có thể điều chỉnh theo sứ mạng riêng của từng cơ sở. Do không sử dụng khảo sát đại diện, bài viết không đưa ra kết luận định lượng về mức độ hay tần suất hành vi của sinh viên; các nhận định về bối cảnh được trình bày như vấn đề quản trị cần kiểm chứng tại từng trường.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Theo cách tiếp cận văn hóa tổ chức, văn hóa gồm ba tầng có quan hệ với nhau: những biểu hiện hữu hình; các giá trị được tuyên bố; và các giả định nền tảng đã trở thành điều “đương nhiên” trong tổ chức (Schein & Schein, 2017). Trong đại học, Tierney (1988) gợi ý đọc văn hóa qua môi trường, sứ mạng, quá trình xã hội hóa, thông tin, chiến lược và lãnh đạo. Hai cách tiếp cận cho thấy logo, nghi lễ, khẩu hiệu hay quy tắc mới là phần dễ thấy; tầng quyết định nằm ở những giá trị thực sự chi phối phân bổ nguồn lực, quan hệ quyền lực và hành vi thường nhật.
Văn hóa học đường cần được phân biệt với khí hậu học đường. Văn hóa là hệ thống ý nghĩa và chuẩn mực tương đối sâu, còn khí hậu là cách thành viên đang cảm nhận về mức độ an toàn, công bằng, tôn trọng, thuộc về và khả năng tham gia. Khí hậu có thể được khảo sát thường xuyên và cung cấp dấu hiệu về việc các giá trị được thực hiện ra sao (Hurtado et al., 1998; Rankin & Reason, 2008). Sự phân biệt này có ý nghĩa thực hành: trường không thể khẳng định văn hóa tích cực chỉ từ văn bản; cần đối chiếu với trải nghiệm của các nhóm sinh viên khác nhau.
Giáo dục văn hóa học đường, theo đó, là quá trình có mục đích, được tổ chức bằng chương trình chính khóa, hoạt động đồng giáo dục, các quan hệ sư phạm, sự nêu gương và điều kiện quản trị nhằm giúp sinh viên nhận biết, phản tư, nội tâm hóa và thực hành những giá trị chung. Quá trình này còn diễn ra qua “chương trình ẩn”: sinh viên tiếp nhận thông điệp về công bằng, trung thực và trách nhiệm từ hành vi của giảng viên, thủ tục hành chính, cách khen thưởng, cách xử lý sai phạm và chất lượng đối thoại, kể cả khi những nội dung đó không được ghi trong đề cương môn học (Orón Semper & Blasco, 2018). Bởi vậy, giáo dục giá trị không trung tính; nó phải kết hợp định hướng rõ ràng với đối thoại, năng lực phán đoán đạo đức và tư duy phê phán của người học (Veugelers, 2000).
Sự gắn kết sinh viên là cơ chế nối môi trường văn hóa với kết quả giáo dục. Gắn kết bao gồm hành vi tham gia, cảm xúc thuộc về và đầu tư nhận thức vào việc học (Kahu, 2013). Các hoạt động có mục đích giáo dục và tương tác chất lượng cao có liên hệ tích cực với kết quả học tập và khả năng tiếp tục học, dù quan hệ này chịu ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân và bối cảnh tổ chức (Kuh et al., 2008). Từ đó, bài viết xây dựng khung phân tích gồm sáu chiều: (a) bản sắc và giá trị chung; (b) văn hóa học thuật và liêm chính; (c) quan hệ tôn trọng, công bằng và bao trùm; (d) tiếng nói, sự tham gia và trách nhiệm cộng đồng; (e) văn hóa số và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm; (f) quản trị, hỗ trợ và trách nhiệm giải trình.
Bảng 1: Khung phân tích giáo dục văn hóa học đường ở trường đại học
| Chiều phân tích | Nội dung cốt lõi | Minh chứng gợi ý |
| Bản sắc và giá trị | Sứ mạng, giá trị chung, trách nhiệm công dân và bản sắc Hà Nội | Mức độ sinh viên hiểu giá trị; sự thống nhất giữa chính sách và thực hành |
| Văn hóa học thuật | Trung thực, công bằng, tôn trọng sở hữu trí tuệ, đạo đức nghiên cứu | Thiết kế đánh giá; khai báo sử dụng AI; quy trình xử lý và giáo dục phục hồi |
| Quan hệ và bao trùm | Tôn trọng khác biệt, an toàn, không quấy rối, hỗ trợ sức khỏe tinh thần | Cảm giác thuộc về; khả năng tiếp cận dịch vụ; niềm tin vào kênh phản ánh |
| Tham gia và cộng đồng | Tiếng nói sinh viên, câu lạc bộ, cố vấn, phục vụ cộng đồng | Tỷ lệ tham gia; chất lượng đối thoại; sản phẩm dự án cộng đồng |
| Văn hóa số | Công dân số, quyền riêng tư, an ninh mạng, giao tiếp và AI có trách nhiệm | Năng lực số; hành vi trực tuyến; khả năng phòng ngừa và ứng phó rủi ro |
| Quản trị và cải tiến | Lãnh đạo nêu gương, dữ liệu, phối hợp, trách nhiệm giải trình | Chỉ báo theo dõi; thời gian phản hồi; cải tiến được công bố |
3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phân tích văn bản kết hợp tổng quan tích hợp. Nhóm tài liệu thứ nhất gồm các văn bản pháp luật và chính sách còn hiệu lực hoặc đang trong thời hạn thực hiện đến tháng 9/2026, trọng tâm là Luật Giáo dục đại học năm 2025, Luật Nhà giáo năm 2025, Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT, Thông tư số 03/2026/TT-BGDĐT và các chương trình quốc gia về đạo đức, lối sống, văn hóa học đường và không gian mạng. Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu nền tảng về văn hóa tổ chức, khí hậu khuôn viên, chương trình ẩn, giáo dục giá trị, gắn kết sinh viên, liêm chính học thuật và trí tuệ nhân tạo trong giáo dục. Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu Việt Nam và một số mô tả thực hành tại đại học tư thục ở Hà Nội.
Quá trình phân tích được thực hiện theo ba bước. Trước hết, tài liệu được mã hóa theo sáu chiều của khung phân tích. Tiếp đó, các yêu cầu chính sách được đối chiếu với cơ chế hình thành văn hóa ở cấp tổ chức và trải nghiệm người học. Cuối cùng, giải pháp được xây dựng theo tiêu chí: phù hợp pháp lý, tác động đến nhiều tầng văn hóa, có chủ thể chịu trách nhiệm, có minh chứng và có thể điều chỉnh theo nguồn lực.
4. Bối cảnh và những vấn đề đặt ra
4.1. Yêu cầu pháp lý mới đối với công tác sinh viên
Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT tạo một cấu trúc tương đối toàn diện cho công tác sinh viên. Giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa và thẩm mỹ hướng tới các giá trị yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, kỷ luật và sáng tạo; đồng thời yêu cầu ứng xử văn minh trong học tập, sinh hoạt và trên không gian mạng, tôn trọng khác biệt, hợp tác, hội nhập và phát triển bền vững (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Thông tư còn đặt kỹ năng số, phòng ngừa rủi ro mạng, tư vấn học đường, sức khỏe tinh thần, cơ chế phản hồi, quản lý dữ liệu và đánh giá rèn luyện trong cùng hệ thống. Kỷ luật sinh viên phải hướng đến giáo dục và phòng ngừa, bảo đảm khách quan, minh bạch và tôn trọng phẩm giá. Điều đó cho thấy văn hóa học đường không thể giao riêng cho một phòng công tác sinh viên; nó liên quan đến đào tạo, khảo thí, cố vấn, truyền thông, công nghệ, dịch vụ, đoàn thể và quản trị cấp trường.
Luật Nhà giáo năm 2025 và Thông tư số 03/2026/TT-BGDĐT củng cố yêu cầu mẫu mực, nêu gương, đạo đức nghề nghiệp và liêm chính học thuật của nhà giáo trong toàn hệ thống, bao gồm; cơ sở ngoài công lập (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a; Quốc hội, 2025a). Trong khi đó, Chỉ thị số 08/CT-TTg yêu cầu kết hợp dạy chữ với dạy người, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh và thân thiện, đồng thời tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội (Thủ tướng Chính phủ, 2022b). Chương trình giai đoạn 2021–2030 nhấn mạnh lý tưởng, đạo đức, lối sống và khát vọng cống hiến của thanh niên, trong đó có sinh viên (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Chương trình về không gian mạng tiếp tục mở rộng nhiệm vụ này sang môi trường số (Thủ tướng Chính phủ, 2022a). Như vậy, nền tảng pháp lý hiện hành vừa xác định hệ giá trị, vừa yêu cầu cơ chế bảo vệ, hỗ trợ, tham gia và trách nhiệm giải trình.
Ưu điểm trong giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên tại các trường đại học ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Thứ nhất, nhận thức của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ, giảng viên về vai trò của văn hóa học đường từng bước được nâng lên. Nhiều trường đại học ngoài công lập đã xác định xây dựng môi trường giáo dục văn minh, an toàn và thân thiện là một bộ phận của chiến lược phát triển, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo và xây dựng thương hiệu. Các giá trị như trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, tôn trọng, hợp tác và phục vụ cộng đồng được thể hiện trong sứ mạng, triết lý giáo dục, chuẩn đầu ra hoặc quy tắc ứng xử của nhà trường. So với cách tiếp cận trước đây chủ yếu nhấn mạnh kỷ luật và nền nếp, một số cơ sở đã chuyển dần sang cách tiếp cận lấy sinh viên làm trung tâm, coi sinh viên vừa là đối tượng giáo dục vừa là chủ thể tham gia kiến tạo văn hóa. Sự chuyển biến này phù hợp với yêu cầu tăng cường tính dân chủ, công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong giáo dục đại học hiện nay.
Thứ hai, nội dung giáo dục văn hóa học đường ngày càng đa dạng và có sự gắn kết nhất định với quá trình đào tạo. Bên cạnh tuần sinh hoạt công dân – sinh viên đầu khóa, các trường đã triển khai nhiều hình thức như tọa đàm, diễn đàn, hội thi, hoạt động văn hóa – văn nghệ, giáo dục truyền thống, chương trình thiện nguyện, trải nghiệm doanh nghiệp và phục vụ cộng đồng. Nội dung giáo dục không chỉ dừng lại ở phổ biến nội quy mà còn từng bước mở rộng sang đạo đức nghề nghiệp, liêm chính học thuật, kỹ năng giao tiếp, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật và văn hóa ứng xử trên không gian mạng. Một số trường đã đưa các nội dung này vào học phần kỹ năng mềm, giáo dục pháp luật, nhập môn ngành, phương pháp nghiên cứu hoặc hoạt động trải nghiệm. Qua đó, sinh viên có thêm cơ hội vận dụng những chuẩn mực văn hóa vào tình huống học tập, nghề nghiệp và đời sống xã hội.
Thứ ba, môi trường và phương thức tổ chức giáo dục có nhiều yếu tố thuận lợi. Các trường đại học ngoài công lập thường có cơ chế quản trị tương đối linh hoạt, khả năng điều chỉnh chương trình nhanh và mối quan hệ khá chặt chẽ với doanh nghiệp. Đây là điều kiện để nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục văn hóa theo hướng thực hành, gắn với yêu cầu nghề nghiệp và nhu cầu của sinh viên. Hệ thống cố vấn học tập, bộ phận công tác sinh viên, tổ chức Đoàn – Hội và các câu lạc bộ đã trở thành những lực lượng quan trọng trong hỗ trợ người học. Nhiều hoạt động do sinh viên đề xuất và trực tiếp tổ chức đã tạo không gian để các em rèn luyện năng lực lãnh đạo, hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề và trách nhiệm cộng đồng. Cơ chế đối thoại với lãnh đạo, khảo sát phản hồi và tiếp nhận kiến nghị cũng từng bước được chú trọng, góp phần làm cho sinh viên cảm nhận rõ hơn vai trò của mình trong đời sống nhà trường.
Thứ tư, việc giáo dục liêm chính học thuật và văn hóa số đã bắt đầu được quan tâm. Trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các hình thức học tập kết hợp, một số trường đã bổ sung quy định về trích dẫn, chống đạo văn, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và sử dụng công cụ số trong học tập. Giảng viên ngày càng chú ý hướng dẫn sinh viên nhận diện hành vi gian lận, kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và giao tiếp có trách nhiệm trên môi trường mạng. Một số cơ sở sử dụng phần mềm kiểm tra trùng lặp, hệ thống quản lý học tập và các nền tảng phản hồi trực tuyến để hỗ trợ quá trình đào tạo. Những chuyển biến này cho thấy giáo dục văn hóa học đường đã bước đầu mở rộng từ khuôn viên vật chất sang không gian số, phù hợp với đặc điểm học tập và giao tiếp của sinh viên hiện nay.
Những hạn chế còn tồn tại: về nhận thức về giáo dục văn hóa học đường ở một số đơn vị chưa thật sự đầy đủ và thống nhất. Văn hóa học đường đôi khi vẫn được hiểu chủ yếu là chấp hành nội quy, giữ gìn trật tự, mặc trang phục phù hợp hoặc tham gia các hoạt động phong trào. Cách hiểu này chưa phản ánh đầy đủ những nội dung quan trọng như văn hóa học thuật, công bằng trong đánh giá, quan hệ tôn trọng, cảm giác thuộc về, trách nhiệm xã hội và văn hóa số. Ở một số trường, nhiệm vụ giáo dục văn hóa chủ yếu được giao cho phòng công tác sinh viên hoặc tổ chức Đoàn – Hội, trong khi sự tham gia của các khoa chuyên môn, giảng viên, bộ phận khảo thí, thư viện, truyền thông và công nghệ còn hạn chế. Vì vậy, giáo dục văn hóa học đường chưa trở thành trách nhiệm thống nhất của toàn trường.
Còn tồn tại khoảng cách giữa các giá trị được tuyên bố và trải nghiệm thực tế của sinh viên. Nhiều trường đã xây dựng triết lý giáo dục, bộ giá trị cốt lõi và quy tắc ứng xử tương đối đầy đủ, nhưng việc chuyển hóa các giá trị đó thành hành vi cụ thể chưa đồng đều. Những giá trị như tôn trọng, công bằng, minh bạch và lấy người học làm trung tâm có thể chưa được thể hiện nhất quán trong cách giải quyết thủ tục, phản hồi kiến nghị, đánh giá kết quả học tập hoặc xử lý vi phạm. Khi lời tuyên bố của nhà trường không thống nhất với hành vi của cán bộ, giảng viên và nhân viên, sinh viên sẽ tiếp nhận những thông điệp trái chiều. Điều này làm giảm niềm tin của người học và hạn chế quá trình nội tâm hóa các chuẩn mực văn hóa.
Nội dung và phương pháp giáo dục còn phân tán, nặng về tuyên truyền. Không ít hoạt động được tổ chức theo đợt, tập trung vào đầu năm học, các ngày lễ hoặc phong trào thi đua, nhưng thiếu tính liên tục và chưa gắn chặt với chương trình đào tạo. Một số buổi học chính trị, phổ biến pháp luật hoặc tuyên truyền quy tắc ứng xử còn thiên về truyền đạt một chiều, ít sử dụng tình huống, tranh biện, phản tư và trải nghiệm thực tế. Do đó, sinh viên có thể nhớ quy định nhưng chưa hình thành năng lực nhận diện vấn đề, lựa chọn cách ứng xử và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Việc đánh giá kết quả giáo dục văn hóa học đường cũng chủ yếu dựa vào mức độ tham gia hoặc điểm rèn luyện, chưa phản ánh đầy đủ sự thay đổi về nhận thức, thái độ và hành vi.
Vai trò chủ thể của sinh viên chưa được phát huy tương xứng. Trong một số hoạt động, sinh viên chủ yếu tham gia với tư cách người tiếp nhận hoặc thực hiện kế hoạch đã được nhà trường xây dựng. Sự tham gia của sinh viên vào quá trình xây dựng quy tắc ứng xử, thiết kế hoạt động, đánh giá dịch vụ và giám sát việc thực hiện các cam kết còn hạn chế. Cơ chế đối thoại tuy đã được hình thành nhưng có nơi còn mang tính định kỳ, chưa công khai đầy đủ đầu mối xử lý, thời hạn giải quyết và kết quả phản hồi. Khi ý kiến không tạo ra những thay đổi có thể quan sát, sinh viên dễ giảm động lực tham gia và xem các hoạt động văn hóa như nghĩa vụ hành chính.
5. Giải pháp tăng cường giáo dục văn hóa học đường
Thứ nhất, kiến tạo hệ giá trị có sự tham gia và bảo đảm tính nhất quán.
Văn hóa học đường cần được đưa vào chiến lược, ngân sách và hệ thống bảo đảm chất lượng, thay vì giao riêng cho bộ phận công tác sinh viên. Hội đồng trường, nhà đầu tư, ban giám hiệu, đội ngũ và đại diện sinh viên nên đồng kiến tạo một hệ giá trị ngắn gọn, gắn với sứ mạng; mỗi giá trị được chuyển thành hành vi có thể quan sát. Theo Schein và Schein (2017), thay đổi chỉ bền vững khi biểu hiện, giá trị tuyên bố và giả định nền tảng thống nhất. Lãnh đạo vì thế phải nêu gương về minh bạch, tôn trọng, thực hiện cam kết và xử lý công bằng. Trường nên “kiểm toán tính nhất quán văn hóa” trong tuyển sinh, học phí, hỗ trợ, đánh giá, khen thưởng và kỷ luật, đồng thời nhận diện xung đột giữa mục tiêu giáo dục với áp lực tài chính hoặc quảng bá thương hiệu. Mỗi khoảng cách cần có đơn vị phụ trách, nguồn lực, thời hạn và phản hồi kết quả. Cách làm này cụ thể hóa trách nhiệm công khai, bảo đảm chất lượng và bảo vệ quyền người học theo Luật Giáo dục đại học năm 2025 (Quốc hội, 2025c).
Thứ hai, tích hợp giáo dục văn hóa vào chương trình và đánh giá.
Tuần sinh hoạt đầu khóa chỉ nên là điểm khởi đầu. Mỗi trường cần lập ma trận nối giá trị cốt lõi với chuẩn đầu ra, học phần, thực tập và hoạt động theo từng năm học. Các giá trị tại Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT phải được cụ thể hóa theo ngành thành trung thực học thuật, đạo đức nghề nghiệp, tôn trọng sở hữu trí tuệ, trách nhiệm cộng đồng và sử dụng AI minh bạch (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Phương pháp cần chuyển từ ghi nhớ quy tắc sang tình huống, tranh biện, phản tư và học tập phục vụ cộng đồng; đánh giá yêu cầu sinh viên giải thích và bảo vệ lựa chọn đạo đức. Trường tại Hà Nội có thể phối hợp với bảo tàng, thư viện, doanh nghiệp và cộng đồng để thực hiện dự án về di sản, văn hóa công cộng, môi trường hoặc nhóm dễ bị tổn thương. Đề cương học phần phải nêu rõ mức sử dụng AI được phép, cách khai báo và trách nhiệm kiểm chứng, qua đó bảo vệ quá trình tư duy của người học.
Thứ ba, phát triển năng lực và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ.
Giảng viên, cán bộ và nhân viên trực tiếp tạo nên chương trình ẩn: sinh viên học về tôn trọng và công bằng từ cách trả lời email, phản hồi bài tập, thực hiện giờ giấc, phục vụ thủ tục và xử lý xung đột. Tuyên bố “lấy người học làm trung tâm” không tự loại bỏ thông điệp trái ngược trong quan hệ hằng ngày (Orón Semper & Blasco, 2018). Trường cần xây dựng khung năng lực cho mọi vị trí tiếp xúc với sinh viên, gồm giao tiếp tôn trọng, đối thoại, đánh giá công bằng, hỗ trợ người học khó khăn, nhận diện quấy rối, bảo vệ dữ liệu và hướng dẫn liêm chính học thuật. Khung này phải hiện diện trong tuyển dụng, hội nhập nhân sự mới, bồi dưỡng, đánh giá và khen thưởng, phù hợp với yêu cầu nêu gương của Luật Nhà giáo năm 2025 và quy tắc ứng xử hiện hành (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026a; Quốc hội, 2025a). Bồi dưỡng phải bao phủ giảng viên thỉnh giảng và nhân sự thuê ngoài vì người học trải nghiệm văn hóa ở mọi điểm tiếp xúc.
Thứ tư, phát huy tiếng nói và vai trò đồng kiến tạo của sinh viên.
Sinh viên phải được coi là chủ thể tạo dựng văn hóa. Trường nên mời sinh viên sửa đổi quy tắc ứng xử, tham gia hội đồng và đánh giá dịch vụ; phát triển cố vấn đồng đẳng, đại sứ văn hóa, câu lạc bộ và sáng kiến do sinh viên lãnh đạo. Gắn kết gồm hành vi, cảm xúc và nhận thức, nên không thể đo bằng số lượt có mặt tại sự kiện bắt buộc (Kahu, 2013). Nhà trường có thể cấp kinh phí nhỏ, minh bạch cho dự án hỗ trợ tân sinh viên, văn hóa đọc, liêm chính, trách nhiệm số hoặc phục vụ cộng đồng; việc ghi nhận dựa trên chất lượng đóng góp và phản tư. Đối thoại hằng năm cần có danh mục vấn đề, đầu mối, thời hạn và thông báo kết quả để tiếng nói sinh viên tạo ảnh hưởng thực chất (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026b). Hoạt động phải kết hợp trực tiếp – trực tuyến và điều chỉnh hợp lý để sinh viên khuyết tật, ngoại trú, đi làm thêm hoặc khó khăn kinh tế đều có cơ hội tham gia.
Thứ năm, xây dựng môi trường an toàn, bao trùm và văn minh số.
Nhà trường cần chuyển trọng tâm từ duy trì trật tự sang tạo dựng cảm giác an toàn, công bằng, được tôn trọng và thuộc về. Kênh phản ánh về quấy rối, bạo lực, gian lận và đối xử bất công phải dễ tiếp cận, quy định rõ bảo mật, bảo vệ người phản ánh, xác minh và thời hạn giải quyết. Tư vấn tâm lý, cố vấn học tập, hỗ trợ khẩn cấp và chuyển tuyến cần được kết nối. Khảo sát khí hậu nên xem xét khác biệt về ngành, năm học, giới, khuyết tật, điều kiện kinh tế và nơi cư trú, đồng thời tránh gắn nhãn nhóm nhỏ (Hurtado et al., 1998). Với sinh viên ngoại trú, trường duy trì đầu mối phối hợp địa phương nhưng chỉ chia sẻ dữ liệu đúng mục đích. Không gian số phải được coi là phần mở rộng của khuôn viên: quy tắc bao quát nhóm lớp, hệ thống học tập và mạng xã hội; giáo dục chú trọng quyền riêng tư, an ninh mạng, bắt nạt, tin sai lệch và AI giả mạo, phù hợp yêu cầu pháp luật hiện hành (Quốc hội, 2025b). Mục tiêu là năng lực tự bảo vệ, kiểm chứng, giao tiếp và chịu trách nhiệm, kết hợp phòng ngừa với xử lý tương xứng.
Thứ sáu, quản trị bằng dữ liệu, phối hợp và cải tiến liên tục.
Cuối cùng, mỗi trường cần chuyển từ báo cáo số hoạt động sang theo dõi thay đổi có ý nghĩa. Chỉ báo nên bao gồm hiểu biết giá trị, cảm nhận công bằng và thuộc về, gắn kết, niềm tin vào kênh phản ánh, hành vi liêm chính và chất lượng hỗ trợ. Dữ liệu kết hợp khảo sát ẩn danh, thảo luận nhóm, minh chứng học tập và hồ sơ hành chính; số phản ánh tăng phải được diễn giải thận trọng vì có thể cho thấy vấn đề gia tăng hoặc niềm tin lớn hơn vào hệ thống. Chu trình đường cơ sở, xác định ưu tiên, thí điểm, đánh giá và mở rộng phù hợp với cách tiếp cận chuyển đổi khí hậu của Rankin và Reason (2008). Kết quả cần báo cáo hội đồng trường, phản hồi cho sinh viên và công khai phù hợp, đồng thời bảo vệ dữ liệu. Các trường ngoài công lập tại Hà Nội có thể chia sẻ học liệu, chuyên gia, công cụ khảo sát và phối hợp với cơ quan quản lý, doanh nghiệp, cựu sinh viên, tổ chức văn hóa. Mạng lưới giúp giảm chi phí thử nghiệm nhưng không thay thế trách nhiệm điều chỉnh giải pháp của từng trường.
Thứ bảy, điều kiện thực hiện và khung đánh giá.
Các giải pháp cần được triển khai theo ba giai đoạn. Trong sáu tháng đầu, nhà trường thực hiện đánh giá đường cơ sở, rà soát khoảng cách chính sách, tham vấn sinh viên và xác lập nhóm chỉ báo tối thiểu. Từ tháng thứ bảy đến hết năm thứ hai, trường thí điểm tại một số khoa hoặc chương trình, bồi dưỡng đội ngũ, chuẩn hóa tài liệu và điều chỉnh nền tảng dữ liệu. Từ năm thứ ba, những mô hình có bằng chứng được mở rộng, tích hợp vào bảo đảm chất lượng và công khai kết quả cải tiến. Hội đồng trường định hướng và giám sát; ban giám hiệu phân bổ nguồn lực; các đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tích hợp học thuật; đơn vị công tác sinh viên điều phối hỗ trợ; sinh viên tham gia đồng thiết kế và giám sát.
Bảng 2: Ma trận triển khai và chỉ báo đánh giá đề xuất
| Nhóm giải pháp | Chủ trì/phối hợp | Chỉ báo cốt lõi |
| Hệ giá trị và chuẩn mực | Hội đồng trường, ban giám hiệu, sinh viên, cựu sinh viên | Mức độ hiểu giá trị; tỷ lệ quy trình được rà soát về tính nhất quán |
| Chương trình và đánh giá | Phòng đào tạo, khoa, giảng viên, thư viện | Tỷ lệ học phần có kết quả học tập liên quan; chất lượng nhiệm vụ liêm chính/đạo đức nghề |
| Nêu gương và năng lực đội ngũ | Tổ chức nhân sự, khoa, công tác sinh viên | Tỷ lệ hoàn thành bồi dưỡng; phản hồi về công bằng, tôn trọng và chất lượng phục vụ |
| Tham gia và cộng đồng | Công tác sinh viên, đoàn thể, câu lạc bộ, đối tác | Mức độ tham gia có ý nghĩa; sản phẩm và tác động của dự án; cảm giác thuộc về |
| An toàn, bao trùm và văn hóa số | Tư vấn, công nghệ, pháp chế, truyền thông | Khả năng tiếp cận hỗ trợ; thời gian xử lý; năng lực số và minh bạch sử dụng AI |
| Dữ liệu và cải tiến | Bảo đảm chất lượng, công nghệ, các đơn vị | Khảo sát khí hậu định kỳ; cải tiến đã hoàn thành và được phản hồi công khai |
Khung đánh giá không nên quy tất cả thành một điểm thi đua. Nhà trường cần kết hợp dữ liệu định lượng với phỏng vấn nhóm, nhật ký phản tư, minh chứng học tập và phân tích tình huống. Chỉ báo kết quả nên tập trung vào năng lực nhận diện vấn đề đạo đức, khả năng giải thích lựa chọn, hành vi nhất quán, cảm giác thuộc về và mức độ tin cậy vào cơ chế hỗ trợ. Việc công bố kết quả cần đi kèm giải thích bối cảnh, giới hạn dữ liệu và kế hoạch khắc phục. Đánh giá như vậy phục vụ học hỏi tổ chức thay vì tạo động cơ che giấu vấn đề.
6. Kết luận
Giáo dục văn hóa học đường cho sinh viên trường đại học ngoài công lập tại Hà Nội chỉ bền vững khi được tổ chức như một nhiệm vụ toàn trường. Trọng tâm không nằm ở số lượng khẩu hiệu hay sự kiện, mà ở sự nhất quán giữa giá trị, chương trình, quan hệ, dịch vụ, môi trường số và quyết định quản trị. Sáu nhóm giải pháp được đề xuất liên kết tầng văn hóa tổ chức với trải nghiệm và vai trò chủ thể của sinh viên, đồng thời phù hợp với khuôn khổ pháp lý hiện hành. Do bài viết dựa trên phân tích tài liệu, bước tiếp theo cần thiết là nghiên cứu hỗn hợp tại từng cơ sở và nghiên cứu so sánh giữa các mô hình trường để kiểm định mức độ phù hợp, tác động và điều kiện duy trì của các giải pháp.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 03/2026/TT-BGDĐT ngày 30/01/2026 quy định quy tắc ứng xử của nhà giáo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026). Thông tư số 40/2026/TT-BGDĐT ngày 15/5/2026 quy định về công tác sinh viên.
Hurtado, S., Milem, J. F., Clayton-Pedersen, A. R., & Allen, W. R. (1998). Enhancing campus climates for racial/ethnic diversity: Educational policy and practice. The Review of Higher Education, 21(3), 279–302. https://doi.org/10.1353/rhe.1998.0003
International Center for Academic Integrity (2021). The fundamental values of academic integrity (3rd ed.). https://www.academicintegrity.org/aws/ICAI/asset_manager/get_file/911282?ver=1
Kahu, E. R. (2013). Framing student engagement in higher education. Studies in Higher Education, 38(5), 758–773. https://doi.org/10.1080/03075079.2011.598505
Kuh, G. D., Cruce, T. M., Shoup, R., Kinzie, J., & Gonyea, R. M. (2008). Unmasking the effects of student engagement on first-year college grades and persistence. The Journal of Higher Education, 79(5), 540–563. https://doi.org/10.1080/00221546.2008.11772116
Mai Phương (23/11/2023). Sinh viên Hà Nội thi hùng biện “Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh” – năm 2023. Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/sinh-vien-ha-noi-thi-hung-bien-xay-dung-nguoi-ha-noi-thanh-lich-van-minh-nam-2023/
Miao, F., & Holmes, W. (2023). Guidance for generative AI in education and research. UNESCO. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000386693
Nguyễn, T. H. (2024). Tổng quan nghiên cứu về xây dựng văn hóa học đường trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Tạp chí Giáo dục, 24 (số đặc biệt 5), 8–13. https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/view/2028
Nguyễn, T. T. (25/8/2025). Vận dụng phương pháp giáo dục của Hồ Chí Minh trong xây dựng môi trường học tập dân chủ, linh hoạt và sáng tạo tại các trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội hiện nay. Lý luận chính trị. https://lyluanchinhtri.vn/van-dung-phuong-phap-giao-duc-cua-ho-chi-minh-trong-xay-dung-moi-truong-hoc-tap-dan-chu-linh-hoat-va-sang-tao-tai-cac-truong-dai-hoc-tu-thuc-tren-dia-ban-ha-noi-hien-nay-7098.html
Orón Semper, J. V., & Blasco, M. (2018). Revealing the hidden curriculum in higher education. Studies in Philosophy and Education, 37(5), 481–498. https://doi.org/10.1007/s11217-018-9608-5
Quốc hội (2025a). Luật Nhà giáo năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật An ninh mạng năm 2025.
Quốc hội (2025). Luật Giáo dục đại năm 2025.
Rankin, S., & Reason, R. (2008). Transformational tapestry model: A comprehensive approach to transforming campus climate. Journal of Diversity in Higher Education, 1(4), 262–274. https://doi.org/10.1037/a0014018
Schein, E. H., & Schein, P. A. (2017). Organizational culture and leadership (5th ed.). John Wiley & Sons. https://www.wiley.com/en-us/Organizational%2BCulture%2Band%2BLeadership%2C%2B5th%2BEdition-p-9781119212041
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội (12/11/2024). Giáo dục Thủ đô phải hướng tới là nền giáo dục thanh lịch. https://hanoi.edu.vn/tin-tuc-su-kien/giao-duc-thu-do-phai-huong-toi-la-nen-giao-duc-thanh-lich/ctmb/525/15812
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 11/11/2021 phê duyệt Chương trình “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021–2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 311/QĐ-TTg ngày 05/3/2022 phê duyệt Chương trình “Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng trên không gian mạng giai đoạn 2022–2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 01/6/2022 về việc tăng cường triển khai công tác xây dựng văn hóa học đường.
Tierney, W. G. (1988). Organizational culture in higher education: Defining the essentials. The Journal of Higher Education, 59(1), 2–21. https://doi.org/10.1080/00221546.1988.11778301
Veugelers, W. (2000). Different ways of teaching values. Educational Review, 52(1), 37–46. https://doi.org/10.1080/00131910097397



