Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của Đảng – Từ Đại hội VII đến Đại hội XIV

Building and improving the socialist rule-of-law State of Vietnam from the perspective of the Communist Party of Vietnam – From the 7th to the 14th National Party congresses

ThS. Đinh Thị Thanh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: thienthanhtkvp93@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Trải qua 40 năm đổi mới đất nước gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư duy, nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các quan điểm của Đảng đã tạo cơ sở để cả hệ thống chính trị chung tay thực hiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ tư tưởng trở thành hiện thực. Việc nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Từ khóa: Quan điểm; chủ trương; Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Abstract: Over the course of 40 years of national renewal (Doi Moi), the process has been closely associated with the formation and development of the Communist Party of Vietnam’s theoretical thinking and understanding of the model of a socialist rule-of-law state. The Party’s perspectives have provided the foundation for the entire political system to work together in building the Socialist Rule-of-Law State of Vietnam, transforming this model from a theoretical concept into reality. Studying the development of the Party’s theoretical understanding of the socialist rule-of-law state in Vietnam is of profound theoretical and practical significance.

Keywords: Perspectives; policies; Communist Party of Vietnam; Socialist Rule-of-Law State of Vietnam.

1. Mô hình Nhà nước pháp quyền từ tư tưởng đến hiện thực

Nhà nước pháp quyền là một giá trị của nhân loại về một mô hình nhà nước tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người; mô hình nhà nước pháp quyền hội tụ những giá trị phổ quát, được kết tinh, chọn lọc từ ý tưởng của những triết gia, nhà tư tưởng nổi tiếng từ cổ chí kim, từ Tây sang Đông qua các giai đoạn phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại (Phùng Hữu Phú & cộng sự, 2016, tr. 50-51). Cùng với sự thay thế của các chế độ chính trị – xã hội tương ứng với mỗi kiểu nhà nước, mô hình nhà nước pháp quyền đã được hiện thực hóa ngay khi nền dân chủ rộng rãi xuất hiện trong xã hội; khi các cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành công, xóa bỏ chế độ phong kiến chuyên chế, thay xã hội thần dân bằng xã hội công dân, nhà nước pháp quyền dần được hiện thực hóa, trở thành mô hình nhà nước được nhiều quốc gia lựa chọn. Tuy nhiên, nhà nước pháp quyền dù được hiện thực hóa ở kiểu nhà nước tư sản, song đây là mô hình nhà nước mang giá trị chung của nhân loại, không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản; nhà nước pháp quyền có những giá trị phổ biến và những giá trị đặc thù trong nhận thức lý luận cũng như trong thực tiễn, có Nhà nước pháp quyền tư sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn, 2008, tr.154-156).

Đối với mỗi quốc gia cụ thể, trong đó có Việt Nam, việc lựa chọn xây dựng nhà nước pháp quyền là hướng tới xây dựng mô hình nhà nước vừa đáp ứng những giá trị phổ quát, vừa bao gồm những yếu tố giá trị đặc thù quốc gia; sự ra đời, phát triển mô hình nhà nước kiểu mới ở Việt Nam luôn thể hiện và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý, phù hợp của các tư tưởng tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại khi vận dụng vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Từ điều kiện thực tế của đất nước, kế thừa những tinh hoa, giá trị tiến bộ của nhân loại, đường lối đổi mới của Đảng đã định hình rõ, những quan điểm lớn, sâu sắc và toàn diện về xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Đồng thời, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân là kế thừa tư tưởng của Hồ Chủ tịch về một Nhà nước kiểu mới. Đây là bước tiến về nhận thức lý luận, thể hiện giá trị chung của nhân loại và đặc điểm riêng của chính thể cộng hòa XHCN Việt Nam, được thực hiện trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước.

2. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của Đảng

Từ Đại hội IV, V, VI của Đảng, trong các văn kiện đã xác định chuyển từ Nhà nước chuyên chính vô sản sang Nhà nước có tính pháp quyền; tuy nhiên, vào thời kỳ đó, nhận thức về tính pháp quyền của Nhà nước mới chỉ là bước đầu, còn hiểu Nhà nước pháp quyền là một kiểu hay hình thức Nhà nước hiện thực với một bộ máy nhà nước cụ thể, trên một số đặc điểm: “Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr. 316); những quan điểm trên mới đặt ra những định hướng chuyển từ Nhà nước chuyên chính vô sản sang xây dựng một Nhà nước kiểu mới, bước đầu với những giá trị căn bản của nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, đặt trong tương quan với pháp luật, sự thượng tôn pháp luật với một tập hợp những yếu tố, nguyên tắc. Tuy nhiên, không có mô hình nhà nước pháp quyền chung cho mọi quốc gia; tất cả các nhà nước được xây dựng, tổ chức theo hướng Nhà nước pháp quyền đều có những nét riêng, không hoàn toàn giống nhau.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng xác định xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản: “Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2010, tr.442). Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1994) đã chính thức đề cập việc xây dựng “Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân” lần đầu tiên trong Văn kiện của Đảng (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2020, tr.246). Thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” được sử dụng đến năm 2001, khi sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mới được coi là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược và xuyên suốt của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; lần đầu tiên thuật ngữ này được hiến định, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để hiện thực hóa việc xây dựng nhà nước pháp quyền.

Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa VII) (năm 1995) đã đánh giá những thành tựu, khuyết điểm trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước và đặt ra những yêu cầu trong tình hình mới. Theo đó, đề ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo: (1) Xây dựng Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của Nhân dân; (2) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; (3) Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; (4) Tăng cường pháp chế XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức XHCN; (5) Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) đặt ra các nhiệm vụ: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước;… cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2010, tr.709-711).

Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, nhất là sau khi thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) (năm 1997), công cuộc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước đã có những tiến bộ to lớn cụ thể hóa nhận thức về Nhà nước pháp quyền: “ từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân”, và chỉ rõ: “… trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc vừa phải làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm” (Trần Đại Quang, 09/01/2017).

Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chủ trương : “Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng”, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, Đảng tiếp tục khẳng định: Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; đồng thời, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Sự nhất quán và những phát triển trong quan điểm của Đảng tại Đại hội lần thứ X (năm 2006) tiếp tục khẳng định xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; làm rõ hơn nhận thức về Nhà nước pháp quyền XHCN trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân; bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động hợp hiến, hợp pháp; bắt đầu chú trọng tới vấn đề giám sát quyền lực trong hoạt động của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và những giá trị đặc thù Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được khẳng định quan hệ giữa Nhà nước và công dân là quan hệ bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý; tính dân chủ, nhân quyền bên cạnh tính hợp hiến và pháp trị; từng bước làm rõ khía cạnh quyền lực trong hoạt động của Nhà nước pháp quyền; đặc điểm quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đã làm sâu sắc hơn nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và khẳng định, một trong tám đặc trưng của XHCN mà Việt Nam xây dựng, đó là: có Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đặc biệt, lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội của Đảng, nguyên tắc về kiểm soát quyền lực đã được ghi nhận, mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng, là: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.85). Tư tưởng này tiếp tục được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013, thể chế hóa, hiến định nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đặc trưng phổ quát của Nhà nước pháp quyền XHCN,  đặc biệt là tư tưởng Nhà nước phục vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của Nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân; có cơ chế, biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lạm quyền vượt quá sự ủy quyền của Nhân dân.

Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là sự thống nhất giữa tính phổ quát và tính đặc thù, là Nhà nước dân chủ và bảo đảm thực thi dân chủ; quyền con người và quyền công dân được tôn trọng, quyền lợi gắn với kỷ cương, trách nhiệm; Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, quyền lực bị giới hạn và kiểm soát; đồng thời, nghiêm chỉnh thực thi các cam kết quốc tế. Xét về bản chất, nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2011, là bước phát triển mạnh mẽ về lý luận, phản ánh sâu sắc những giá trị phổ quát của thế giới, nhất là Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người; quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được phát triển thêm một bước, tiệm cận với những giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, đồng thời, phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; tính thống nhất trên cơ sở phân cấp, phân quyền hợp lý giữa chính quyền trung ương và địa phương được nhấn mạnh hơn.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) kiên định quan điểm: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và gắn với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội; hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.39-40). Cùng với đó, đã khẳng định “trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 175) và bổ sung nội dung “thượng tôn pháp luật”, “Nhà nước chịu trách nhiệm” lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội, Đảng chính thức khẳng định phải tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN.
Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XII, nhiều nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII được ban hành, như: Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị Trung ương 5 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị Trung ương 6 về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 Hội nghị lần thứ bảy về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ;… minh chứng thể hiện sự quyết tâm và kiên định của Đảng ta trong hiện thực hóa các quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền XHCN.

Tiếp đến Đại hội XIII của Đảng (năm 2021), đã đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, song cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, như: “chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 28-36); xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam “trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước” được xác định là một trong 10 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030; đồng thời, là nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội XIII. Trong đó đặt ra yêu cầu: “Nghiên cứu ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, trong đó có Chiến lược pháp luật và cải cách tư pháp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.111-177). Đây là yêu cầu mới đặt ra mang tính “chiến lược” phải đề ra các quyết sách, cách thức hành động đầy đủ, toàn diện, sâu sắc nhằm đạt được mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; đồng thời, thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức, tư duy, quyết tâm chính trị của Đảng.

Trên cơ sở tổng kết, kế thừa nội dung của Cương lĩnh, Văn kiện của Đảng, Hiến pháp qua các thời kỳ về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và bám sát tình hình thực tiễn trong nước và thế giới, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, giữ vững định hướng XHCN, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Nghị quyết đã chỉ ra 8 đặc trưng của mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những điểm mới bổ sung, đó là: (1) Sự thay đổi thứ tự các đặc trưng, đưa đặc trưng “do Đảng Cộng sản Việt Nam” lên đầu tiên nhằm khẳng định vai trò của Đảng là lực lượng lãnh đạo duy nhất nhà nước và xã hội. (2) Phải có sự “phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả” giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. (3) Bổ sung thêm đặc trưng về hệ thống pháp luật và sự độc lập của cơ quan tư pháp.
Trong nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng, hệ thống pháp luật có vai trò hết sức quan trọng, chỉ khi pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán thì mới nhận được sự ủng hộ và tự giác thực hiện của tất cả các chủ thể trong xã hội; qua đó mới bảo đảm tính thượng tôn pháp luật. Tương tự, sự độc lập trong xét xử của cơ quan Tòa án thể hiện nguyên tắc thượng tôn pháp luật; bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân.

Nghị quyết 27-NQ/TW đánh dấu một giai đoạn mới, bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận, xác lập những định hướng căn bản cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta. Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới có chất lượng, hiệu quả, hiện đại, cần phải đổi mới tư duy, nhận thức để có tư duy, nhận thức mới, đúng về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên các nội dung: (1) Đổi mới tư duy, nhận thức về cách tiếp cận việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (2) Đổi mới tư duy, nhận thức về những vấn đề cơ bản, cốt lõi, đột phá với tầm nhìn chiến lược trong tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; (3) Đổi mới tư duy, nhận thức về tổ chức thực hiện và kế hoạch thực hiện trên thực tế việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.

3. Kế thừa và phát triển quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở nền tảng định hướng căn bản của Nghị quyết số 27-NQ/TW, Đại hội XIV của Đảng (2026) tiếp tục kế thừa và phát triển những thành tựu lý luận và thực tiễn, đồng thời có nhiều điểm mới, bổ sung, phát triển quan trọng, thể hiện rõ yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước. Điểm nhấn nổi bật của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy: “có luật là đủ”, sang tư duy: “luật phải tốt, được tổ chức thực hiện nghiêm minh, hiệu quả”; từ coi trọng chủ yếu khâu xây dựng pháp luật sang gắn chặt xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; từ quản lý xã hội nặng về mệnh lệnh hành chính sang quản lý xã hội bằng pháp luật, trên cơ sở tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, từ đó định hướng thể chế “Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; lấy thực thi làm thước đo; thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” nhưng cũng là “đột phá của đột phá” phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.28) và nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chứ không chỉ tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền, phản ánh mức độ quyết liệt và toàn diện hơn trong triển khai thực hiện và phương thức thực hiện, cụ thể là:

Một là, Nhà nước pháp quyền là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại. So với các văn kiện trước, nội hàm Nhà nước pháp quyền được đặt trong bối cảnh rộng hơn của quản trị quốc gia, gắn chặt với yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; bên cạnh đó, Đại hội XIV của Đảng bổ sung yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả, thực chất “tiếp tục nhấn mạnh kiểm soát quyền lực nhà nước là nội dung cốt lõi của Nhà nước pháp quyền, đồng thời bổ sung yêu cầu kiểm soát quyền lực một cách thực chất, hiệu quả, khắc phục tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” xóa bỏ cơ chế “xin – cho” giảm tối đa thủ tục hành chính; đẩy mạnh số hóa toàn diện, toàn trình liên thông dữ liệu (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.29); điểm mới này phản ánh quyết tâm chính trị cao của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lạm quyền; đồng thời nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa pháp quyền và đạo đức công vụ Văn kiện Đại hội XIV của Đảng bổ sung, phát triển tư duy coi pháp quyền và đạo đức công vụ là hai trụ cột không thể tách rời trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; pháp luật nghiêm minh phải đi đôi với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, trách nhiệm, tận tụy phục vụ Nhân dân; đây là điểm phát triển quan trọng, khắc phục khuynh hướng tuyệt đối hóa pháp luật mà coi nhẹ yếu tố con người trong thực thi quyền lực nhà nước.

Hai là, bổ sung về hoàn thiện thể chế và hệ thống pháp luật trong đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và dễ tiếp cận”, tính khả thi, ổn định và dự báo được của pháp luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thay đổi thường xuyên điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý an toàn, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội.

Ba là, bổ sung, phát triển về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua việc tiếp tục tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm giải trình, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo đánh giá và bổ sung yêu cầu phân cấp, phân quyền hợp lý gắn với kiểm soát quyền lực giữa Trung ương và địa phương, đi đôi với hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Đây là bước phát triển nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, đồng thời bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước.

Bốn là, cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định cải cách tư pháp là khâu đột phá trong xây dựng Nhà nước pháp quyền; nhấn mạnh bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật gắn chặt cải cách tư pháp với yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, liêm chính, phụng sự Tổ quốc và Nhân dân.

Đại hội XIV của Đảng đã làm sâu sắc hơn nội hàm Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; góp phần phát triển lý luận về xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong điều kiện mới. Về thực tiễn, các nội dung bổ sung, phát triển tạo cơ sở chính trị – tư tưởng quan trọng để tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo động lực cho phát triển đất nước và thể hiện bước phát triển mới, toàn diện, sâu sắc trong tư duy và đường lối về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

4. Kết luận

Qua các kỳ Đại hội của Đảng, quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam ngày càng được bổ sung, phát triển thông qua việc tiếp tục hoàn thiện quan điểm về các đặc trưng thể hiện giá trị chung, mang tính phổ quát của nhà nước pháp quyền; đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng, có ý nghĩa quyết định đối với việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy dân chủ XHCN, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam đến nay, đã định hình những đặc trưng cơ bản: Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tất cả vì hạnh phúc của con người; được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật do Đảng lãnh đạo; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và yêu cầu thượng tôn pháp luật trong hoạt động của Nhà nước và xã hội; Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và phát triển với Nhân dân các dân tộc và các nước trên thế giới; đồng thời, tôn trọng và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2010). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hội đồng Lý luận Trung ương (2020). 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Duy Quý & Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên) (2008). Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân – lý luận và thực tiễn. Nxb. Chính trị quốc gia.
Phùng Hữu Phú & Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên) (2016). Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới. Nxb. Chính trị quốc gia.
Trần Đại Quang (09/01/2017). Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/tiep-tuc-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xhcn-cua-nhan-dan-do-nhan-dan-va-vi-nhan-dan-post282706.html
Trương Hồ Hải & Đặng Viết Đạt (11/9/2023). Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-trong-giai-doan-moi