Hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay

Enhancing state administration of social housing development in Vietnam today

ThS. Mai Thị Quỳnh Duyên
Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh
Email: duyen.maithiquynh@uah.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển nhà ở xã hội là một trong những trụ cột quan trọng của chính sách an sinh xã hội, bảo đảm quyền có chỗ ở của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Thời gian qua, mặc dù hệ thống chính sách, pháp luật về nhà ở xã hội  đã từng bước được hoàn thiện, song công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Bài báo tập trung làm rõ tính cấp thiết của việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội, nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong thời gian tới. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp.

Từ khóa: Đô thị hóa; Nhà ở xã hội; quản lý nhà nước.

Abstract: The development of social housing is a key pillar of social welfare policy, ensuring that citizens’ right to housing, as enshrined in the Constitution, is upheld. In recent years, although the policy and legal framework governing social housing has gradually been improved, state management in this field has continued to reveal several limitations. This article analyzes the urgency of improving state management of social housing development and examines key aspects of state management in this field. Furthermore, it proposes a comprehensive set of solutions to enhance the effectiveness and efficiency of state management in the coming years. The study employs methods of synthesis and analysis of secondary data.

Keywords: Urbanization; Social housing; State management.

1. Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội

1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội

Theo Luật Nhà ở năm 2023, nhà ở xã hội được xác định là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của pháp luật. Nếu như nhà ở thương mại vận hành thuần túy theo cơ chế thị trường và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, thì nhà ở xã hội lại mang bản chất kinh tế – xã hội kết hợp.

Từ góc độ quản lý nhà nước, phát triển nhà ở xã hội là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực công, hệ thống pháp luật, công cụ quy hoạch và các chính sách ưu đãi để điều tiết, định hướng và huy động các nguồn lực xã hội nhằm tạo lập, phân phối quỹ nhà ở giá rẻ, bảo đảm quyền có chỗ ở cho các đối tượng chính sách và người có thu nhập thấp.

Để phát triển nhà ở xã hội đạt được mục tiêu đề ra và đúng quy định, Nhà nước cần tăng cường quản lý trong lĩnh vực này. Quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về nhà ở. quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội là quá trình cơ quan quản lý nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước, thông qua hệ thống thể chế, chính sách, công cụ kinh tế và hành chính để tác động, điều chỉnh, định hướng và kiểm soát các hoạt động liên quan đến quy hoạch, đầu tư, xây dựng, phân phối, quản lý sử dụng nhà ở xã hội. Mục tiêu của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là bảo đảm thị trường nhà ở xã hội phát triển lành mạnh, đúng định hướng; khắc phục các “thất bại của thị trường”; giải quyết nhu cầu chỗ ở cho đối tượng thụ hưởng và thực hiện mục tiêu an sinh xã hội bền vững. Việc quản lý nhà nước nhằm bảo đảm các chính sách, pháp luật về nhà ở xã hội được thực hiện nghiêm minh, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng thụ hưởng.

1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội

Hiện nay, pháp luật không quy định cụ thể nội dung quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội mà việc này được lồng ghép trong nội dung quản lý nhà nước về nhà ở nói chung. Điều 189 của Luật Nhà ở năm 2023 đã xác định các nội dung quản lý nhà nước về nhà ở như sau:

“Điều 189. Nội dung quản lý nhà nước về nhà ở

1. Xây dựng chiến lược phát triển nhà ở quốc gia và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chiến lược, đề án, chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở.

2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản pháp luật về nhà ở, cơ chế, chính sách phát triển và quản lý nhà ở.

3. Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, phân cấp nhà ở và quản lý chất lượng nhà ở; phân hạng nhà chung cư.

4. Thẩm định nội dung liên quan đến nhà ở trong quá trình quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở; quyết định chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở.

5. Quản lý hồ sơ nhà ở; quản lý quỹ nhà ở thuộc tài sản công; quản lý dự án đầu tư xây dựng nhà ở.

6. Điều tra, thống kê, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về nhà ở, quản lý, vận hành, khai thác và cung cấp cơ sở dữ liệu, thông tin về nhà ở.

7. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, phổ biến kiến thức pháp luật trong lĩnh vực nhà ở.

8. Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển và quản lý nhà ở.

9. Quản lý hoạt động dịch vụ công về nhà ở; ban hành khung giá cho thuê nhà ở xã hội, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp và nhà ở thuộc tài sản công.

10. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nhà ở.

11. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhà ở.

Là một lĩnh vực của nhà ở, quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội cũng dựa trên các nội dung cơ bản nêu trên. Tuy nhiên, có thể khái quát thành các nội dung cơ bản như sau:

Thứ nhất, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phát triển nhà ở xã hội.

Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, bảo đảm chính sách nhà ở xã hội được thực thi thống nhất và đúng pháp luật trên toàn quốc. Nội dung này đóng vai trò nền tảng, giúp điều chỉnh các quan hệ phát sinh, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thụ hưởng. Công việc cụ thể bao gồm nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các luật, nghị định, thông tư quy định rõ tiêu chí đối tượng được hưởng chính sách, điều kiện mua hoặc thuê nhà… Đồng thời, cơ quan nhà nước quy định cụ thể cơ chế ưu đãi tài chính – đất đai cho doanh nghiệp và thiết lập quy trình thủ tục hành chính để thực hiện nội dung này.

Thứ hai, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà ở xã hội.

Công tác xây dựng quy hoạch và kế hoạch giúp Nhà nước chủ động phân bổ nguồn lực đất đai và tài chính một cách khoa học, tránh tình trạng phát triển tự phát, thiếu định hướng. Nội dung này mang ý nghĩa chiến lược nhằm bảo đảm các dự án nhà ở xã hội được kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của địa phương. Các công việc cụ thể bao gồm điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu nhà ở của các nhóm đối tượng thu nhập thấp theo từng giai đoạn. Trên cơ sở đó, Nhà nước dành quỹ đất sạch phù hợp, phê duyệt chỉ tiêu phát triển trong chương trình nhà ở xã hội của các địa phương và cân đối nguồn vốn để hỗ trợ.

Thứ ba, tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội.

Nội dung này giữ vai trò quyết định đối với năng lực thực thi và hiệu quả của toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội trong thực tiễn. Việc tổ chức bộ máy tinh gọn, chuyên nghiệp giúp quá trình tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính diễn ra nhanh chóng, giảm thiểu chi phí và thời gian cho người dân và doanh nghiệp. Hoạt động cụ thể bao gồm việc phân định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành từ Bộ Xây dựng đến UBND các cấp, các Sở, Phòng chuyên môn tại địa phương. Đồng thời, Nhà nước thường xuyên tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Thứ tư, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch.

Hoạt động tuyên truyền và tổ chức thực hiện giúp chính sách nhà ở xã hội thực sự đi vào đời sống, bảo đảm tính công khai, minh bạch và tiếp cận bình đẳng cho mọi người dân. Ý nghĩa của nội dung này là nâng cao nhận thức cộng đồng, ngăn chặn các hành vi trục lợi chính sách do thiếu thông tin hoặc do thông tin sai lệch. Các công việc cụ thể bao gồm tổ chức các đợt phổ biến pháp luật, đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử danh mục dự án, tiến độ, giá bán và điều kiện đăng ký. Ngoài ra, cơ quan chức năng trực tiếp hướng dẫn người dân làm hồ sơ chứng minh đối tượng, hỗ trợ chủ đầu tư giải quyết vướng mắc về thủ tục và giám sát quá trình xét duyệt danh sách thụ hưởng.

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm.

Công tác thanh tra, kiểm tra đóng vai trò là công cụ giám sát hữu hiệu nhằm duy trì kỷ cương pháp luật, ngăn chặn tiêu cực và bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng thụ hưởng. Ý nghĩa của công tác này là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, nâng cao chất lượng công trình và duy trì sự công bằng trong xã hội. Hoạt động này bao gồm việc tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc quản lý, sử dụng quỹ đất, chất lượng thi công và việc xét duyệt đối tượng mua nhà của chủ đầu tư. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và ra quyết định xử phạt, thu hồi nhà ở đối với các trường hợp gian lận hoặc mua bán trái quy định.

2. Sự cần thiết hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội

2.1. Quán triệt và thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển nhà ở xã hội

Sự cần thiết hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội trước hết xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa một cách đồng bộ, sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng qua các kỳ Đại hội và các văn kiện chuyên đề quan trọng.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nhấn mạnh: “Thành lập, sử dụng hiệu quả quỹ nhà ở quốc gia, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ nhằm giải quyết cơ bản nhu cầu về nhà ở cho cư dân đô thị, người lao động ở các khu công nghiệp và các đối tượng yếu thế”. Quan điểm của Đảng coi nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người; phát triển nhà ở xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của chính sách xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ rõ yêu cầu đưa chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội thành chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho các địa phương đưa các chỉ tiêu về phát triển nhà ở, trong đó có chỉ tiêu bắt buộc phát triển nhà ở xã hội vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hằng năm của cả nước và từng tỉnh, thành phố; các tỉnh, thành phố bảo đảm bố trí đủ quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội.

Đặc biệt, Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24/5/2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới đã tạo ra bước đột phá quan trọng về nhận thức và hành động. Chỉ thị nhấn mạnh “xác định phát triển nhà ở xã hội là quyết tâm chính trị, nhiệm vụ quan trọng của Đảng và cả hệ thống chính trị, thể hiện đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ ta; là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần ưu tiên trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”. Ban Bí thư không chỉ nhấn mạnh quan điểm, mục tiêu trong phát triển nhà ở xã hội mà còn đưa ra những yêu cầu, định hớng trong hoàn thiện quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới phương thức, mô hình quản lý và phát triển nhà ở xã hội; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương trong phát triển nhà ở xã hội, đi đôi với tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, bảo đảm việc triển khai các dự án nhà ở xã hội, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quỹ đất phát triển nhà ở xã hội trong các dự án nhà ở thương mại đúng mục đích”. Do đó, việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội là đòi hỏi khách quan nhằm cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.

Đảng đã ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo, định hướng về phát triển nhà ở xã hội, coi đây là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách an sinh xã hội nói riêng và phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Tuy nhiên, để các chủ trương, chính sách này đi vào thực tế và phát huy hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải tăng cường công tác tổ chức thực hiện. Trong đó, cần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong phát triển nhà ở xã hội.

2.2. Xuất phát từ những hạn chế trong thực tiễn quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội trong thời gian qua

Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội đã ngày càng được quan tâm và có sự cải thiện đáng kể. Hệ thống hành lang pháp lý trong lĩnh vực này từng bước được hoàn thiện, mạng lưới nhà ở xã hội ngày càng được mở rộng, và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước ngày càng nhiều. Tuy nhiên, trong thực tiễn quản lý lĩnh vực này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24/5/2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới đã nhấn mạnh “Nhiều mục tiêu về phát triển nhà ở xã hội trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 không đạt được; nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế so với nhu cầu thực tế; giá nhà ở xã hội bình quân còn quá cao so với thu nhập của đối tượng thụ hưởng; công tác quản lý nhà nước về nhà ở xã hội vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập; tỷ lệ quỹ đất dành cho phát triển nhà ở xã hội khu vực đô thị thấp; nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các chương trình tín dụng ưu đãi nhà ở xã hội còn thấp, chưa huy động được mạnh mẽ nguồn lực xã hội tham gia; còn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát, nhất là tại các vùng khó khăn, chịu nhiều ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu”. Trong đó, Đảng nhận định nguyên nhân đến từ “một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ, thiếu quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nhà ở xã hội và thực hiện các chủ trương, chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển nhà ở xã hội chậm được đổi mới, hoàn thiện, thiếu sự đột phá để thu hút nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển nhà ở xã hội; sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa chặt chẽ; công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý sai phạm trong phát triển nhà ở xã hội chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả”.

Mặc dù Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có nhiều cải tiến, thực tiễn quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội thời gian qua vẫn bộc lộ những vướng mắc mang tính hệ thống. Trong đó “chính sách ưu đãi vay vốn mua nhà ở xã hội còn một số điểm chưa hợp lý như chưa phân loại nhu cầu nhà ở của từng đối tượng và thực trạng thu nhập của đối tượng được hưởng chính sách tài chính đó; thiếu cơ chế, nguyên tắc phối hợp giữa Bộ Xây dựng và chính quyền các địa phương trong việc thực thi chính sách; chính sách chưa đồng bộ và chưa sát thực tế đời sống xã hội”.

Ngoài ra, trong thời gian qua, quy trình, thủ tục đầu tư dự án nhà ở xã hội hiện nay còn kéo dài hơn so với dự án nhà ở thương mại. Một số quy định pháp luật còn tồn tại những hạn chế như: “Pháp luật hiện chưa có quy định giới hạn thời hạn thẩm định, xét duyệt hồ sơ vay vốn áp dụng cho các ngân hàng thương mại” hay “bất cập trong quy định về quyền của người mua nhà”. Với hình thức quy định là nhà ở cho người thu nhập thấp không được phép chuyển nhượng, mua bán trong 10 năm đầu sau khi trả hết tiền mua nhà, mức thời gian này là quá dài”. Những hạn chế của hệ thống hành lang pháp lý gây ra những khó khăn nhất định trong công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, các địa phương chưa chủ động bố trí quỹ đất sạch (đã giải phóng mặt bằng) tại các vị trí thuận lợi, gắn với hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện, chợ) để phục vụ triển khai các dự án phát triển nhà ở xã hội. Điều này khiến các dự án bị triển khai chậm, thậm chí bị tồn đọng trong thời gian dài. Ngoài ra, do thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ về nhà ở và thu nhập, việc xác nhận các điều kiện về thu nhập và nhà ở ở một số nơi còn mang tính thủ tục, mang tính hình thức. Tình trạng trục lợi từ chính sách phát triển nhà ở xã hội vẫn còn tồn tại.

2.3. Yêu cầu từ bối cảnh kinh tế – xã hội và quá trình đô thị hóa nhanh chóng

Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, đã thúc đẩy làn sóng dịch chuyển dân cư mạnh mẽ về các đô thị lớn, kéo theo nhu cầu cấp thiết về nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp. Trong bối cảnh đó, thị trường tự do khó có thể tự điều tiết do các doanh nghiệp thường tập trung vào phân khúc thương mại để tối đa hóa lợi nhuận. Sự quản lý của Nhà nước là yếu tố then chốt nhằm quy hoạch quỹ đất, hoàn thiện chính sách ưu đãi và kiểm soát giá bán phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

Thông qua công cụ quản lý, Nhà nước giúp cân bằng cán cân cung – cầu, ngăn chặn hiện tượng cơ cấu sản phẩm bị lệch pha và giảm áp lực lên hạ tầng đô thị. Việc chủ động định hướng này không chỉ giải quyết bài toán an cư cho lực lượng lao động yếu thế mà còn góp phần giữ vững trật tự xã hội. Nhờ đó, quản lý nhà nước trở thành trụ cột quan trọng bảo đảm an sinh và tạo tiền đề cho sự phát triển đô thị bền vững. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Tỷ lệ đô thị hóa tăng nhanh cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất đã thu hút hàng triệu lao động di cư từ nông thôn ra đô thị. Nhu cầu về chỗ ở gia tăng đột biến, trong khi giá nhà ở thương mại tại các đô thị lớn (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh) đã vượt quá khả năng chi trả của phần đông người lao động có thu nhập trung bình và thấp.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”. Để đạt được mục tiêu mang tính chiến lược này, công tác quản lý nhà nước không thể duy trì theo phương thức cũ mà bắt buộc phải hoàn thiện, đổi mới tư duy từ “quản lý, can thiệp hành chính” sang “kiến tạo, hỗ trợ và phục vụ”. Việc tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nhà ở xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, góp phần bảo đảm sự ổn định, công bằng và tiến bộ trong đời sống xã hội.

3. Một số định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội trong thời gian tới

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển nhà ở xã hội.

Các cơ quan nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn trong lĩnh vực này. Trong đó, tập trung hoàn thiện hệ thống nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết Luật Nhà ở năm 2023, Luật Đất đai năm 2024, Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2023 và các nghị quyết thí điểm cơ chế đặc thù của Quốc hội, bảo đảm các chính sách ưu đãi mới đi vào cuộc sống một cách thông suốt. Đồng thời, nghiên cứu việc đổi mới cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực này. Trong đó, nâng mức lợi nhuận định mức hợp lý cho chủ đầu tư (hoặc không khống chế trần lợi nhuận đối với phần diện tích kinh doanh thương mại tích hợp), đơn giản hóa phương pháp xác định giá bán và giá cho thuê nhà ở xã hội. Đồng thời, nghiên cứu đơn giản hóa các quy trình, thủ tục liên quan đến việc phát triển nhà ở xã hội cho chủ đầu tư và đối tượng thụ hưởng.

Thứ hai, đổi mới công tác quy hoạch và bảo đảm quỹ đất cho nhà ở xã hội.

Các cơ quan nhà nước và các địa phương cần tích hợp quy hoạch nhà ở xã hội vào quy hoạch tổng thể. Khi lập quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, các địa phương bắt buộc phải xác định rõ vị trí và diện tích đất dành riêng để phát triển nhà ở xã hội. Tách rời quỹ đất nhà ở xã hội khỏi việc phụ thuộc đơn thuần vào các dự án nhà ở thương mại. Trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính từ ngày 01/7/2025, các địa phương cần rà soát, xây dựng và hoàn thiện quy hoạch hệ thống nhà ở xã hội trên địa bàn để bảo đảm tính kế thừa, thống nhất và liên thông. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cần chủ động giải phóng mặt bằng để đảm bảo tiến độ phát triển nhà ở xã hội: “Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư để có quỹ đất sạch phục vụ phát triển nhà ở xã hội”. UBND cấp tỉnh cần chủ động sử dụng ngân sách địa phương để giải phóng mặt bằng, đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông, điện, nước) và hạ tầng xã hội (trường học, trạm y tế) trước khi giao đất hoặc đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số.

Các cơ quan nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu để đơn giản hóa các quy trình, thủ tục hành chính liên quan đến phát triển nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng cần phối hợp với các địa phương để rà soát các quy trình, thủ tục có liên quan, nhất là trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nhằm xây dựng hệ thống quy trình thống nhất, tiến tới rà soát và đơn giản hóa các quy trình, thủ tục. Đồng thời, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu trong lĩnh vực phát triển nhà ở xã hội để có thể hoàn thiện việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực này. Các cơ quan nhà nước cũng cần nghiên cứu để có thể số hóa việc quản lý đối tượng thụ hưởng bằng VNeID. Trong đó, cần sớm nghiên cứu để tích hợp cơ sở dữ liệu về nhà ở xã hội với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID) và Cơ sở dữ liệu về đất đai, thuế. Việc xét duyệt đối tượng được mua/thuê nhà ở xã hội phải được thực hiện tự động hóa trực tuyến, giúp xác minh nhanh chóng và chính xác.

Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Trong đó, cần tập trung thanh tra, kiểm tra các khâu/nội dung có nguy cơ xảy ra sai sót/sai phạm nhằm tăng tính phòng ngừa. Đặc biệt, cần xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra. Xây dựng các cơ chế tiếp nhận thông tin, phản ánh của người dân để có hướng xử lý kịp thời. Nhà nước phải kiên quyết xử lý đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm trong lĩnh vực này, liên quan đến quy trình xét duyệt đối tượng thụ hưởng và việc thực hiện cam kết của các chủ đầu tư, nhà thầu trong việc triển khai các dự án phát triển nhà ở xã hội.

4. Kết luận

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với phát triển nhà ở xã hội là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Việc giải quyết tốt vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp, công nhân lao động không chỉ trực tiếp hiện thực hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Chỉ thị số 34-CT/TW và Nghị quyết số 06-NQ/TW mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế và đô thị hóa bền vững. Thông qua việc đổi mới tư duy quản lý, hoàn thiện khung khổ pháp lý, bảo đảm quỹ đất sạch, khơi thông nguồn vốn và đẩy mạnh chuyển đổi số, Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo hiệu quả, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cùng chung tay giải quyết bài toán nhà ở, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (2024). Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24/05/2024 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập II). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 7/NQ-CP ngày 12/01/2026 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho các địa phương giai đoạn 2026-2030.
Nguyễn Thị Giang Hương, Triệu Thị Trinh, Nguyễn Thị Nguyệt, Hà Thị Trang (2023). Quản lý nhà nước về nhà ở xã hội của Thành phố Hà Nội. Tạp chí Nguồn Nhân lực và An sinh xã hội, số 19, tháng 6/2023, tr. 51-60.
Đặng Thanh Mai (2023). Phát triển nhà ở xã hội và kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 332, tháng 9/2023, tr. 55-59.
Nguyễn Thị Mai (2025). Phát triển nhà ở xã hội cho người lao động – Góc nhìn từ chính sách an sinh xã hội. Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, kỳ 1, tháng 6/2025, tr. 63-64
Quốc hội (2023). Luật Nhà ở năm 2023.