Technological absorptive capacity of private-sector enterprises in Vietnam’s new development model
ThS. Cao Thị Huyền Nga
Trường Đại học Lao động Xã hội
TS. Đồng Thị Ngọc Lan
Học viện Tài chính
Email: ngacth@ulsa.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Đổi mới mô hình phát triển đất nước đặt ra yêu cầu nâng cao năng suất dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận công nghệ không đồng nhất với khả năng sử dụng công nghệ để tạo ra giá trị. Trên cơ sở phân biệt các thành tố: thu nhận, đồng hóa, chuyển hóa và khai thác công nghệ, bài viết xây dựng khung chẩn đoán điểm nghẽn và lựa chọn công cụ hỗ trợ. Các luận giải cho thấy, cần kết hợp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực, phát triển năng lực tổ chức thực hiện và liên kết. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hỗ trợ theo nhu cầu và mức độ sẵn sàng, tăng cường dịch vụ trung gian, gắn đào tạo với nhiệm vụ cải tiến; đồng thời, đánh giá kết quả theo thay đổi năng lực và hiệu quả vận hành.
Từ khóa: Năng lực hấp thụ công nghệ; kinh tế tư nhân; đổi mới sáng tạo; mô hình phát triển; quản trị nhà nước.
Abstract: Transforming the development model calls for productivity growth driven by science, technology, and innovation. However, access to technology does not necessarily translate into the ability to use it to create value. Drawing on the four dimensions of technological absorptive capacity-acquisition, assimilation, transformation, and exploitation-this article develops a framework for diagnosing bottlenecks and selecting support instruments. The analysis highlights the need to combine support for firms’ access to resources with efforts to strengthen their capacity to implement technological change and develop collaborative linkages. The article proposes tailoring support to firms’ needs and readiness, strengthening intermediary services, linking training to specific improvement tasks, and evaluating outcomes in terms of changes in capabilities and operational performance.
Keywords: Technological absorptive capacity; private sector; innovation; development model; state governance.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới mô hình phát triển đất nước đòi hỏi các chủ thể kinh tế nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động. Đối với doanh nghiệp, yêu cầu này được cụ thể hóa thông qua đổi mới công nghệ, cải tiến tổ chức sản xuất và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả đổi mới không chỉ phụ thuộc vào việc lựa chọn công nghệ phù hợp mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận, ứng dụng và làm chủ công nghệ. Vì vậy, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp là một trong những điều kiện để chuyển định hướng phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành kết quả kinh tế cụ thể.
Yêu cầu này gắn với những định hướng lớn của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Tiếp đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Các định hướng lớn đặt ra yêu cầu nghiên cứu những điều kiện giúp doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân nâng cao năng lực công nghệ và đóng góp hiệu quả hơn vào quá trình phát triển.
Yêu cầu đặt ra đối với quản trị nhà nước hiện nay là tạo lập chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của từng loại hình doanh nghiệp. Bên cạnh việc tạo điều kiện tiếp cận vốn, thông tin, chính sách cần hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nhân lực, nâng cao năng lực quản trị và tăng cường liên kết với các chủ thể cung cấp tri thức công nghệ. Hiệu quả chính sách được đánh giá qua khả năng tiếp nhận, ứng dụng công nghệ và những cải thiện trong hoạt động của doanh nghiệp.
Trong phạm vi bài viết, mô hình phát triển mới được tiếp cận ở bình diện kinh tế, tập trung vào yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Đối tượng phân tích là năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trong nước, chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung trả lời câu hỏi: Nhà nước cần tạo lập và hỗ trợ những điều kiện nào để doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân tiếp thu, vận dụng tri thức công nghệ và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh?
2. Cơ sở lý luận, phương pháp và khung phân tích
2.1. Từ tiếp cận công nghệ đến năng lực hấp thụ
Cohen & Levinthal (1990) xác định năng lực hấp thụ là khả năng nhận biết giá trị của thông tin mới từ bên ngoài, tiếp thu và vận dụng thông tin đó vào mục đích thương mại. Khả năng này phụ thuộc vào tri thức liên quan mà doanh nghiệp đã tích lũy. Theo cách tiếp cận này, học hỏi công nghệ là một quá trình liên tục, trong đó kiến thức và kinh nghiệm hiện có tạo nền tảng cho việc tiếp nhận tri thức mới. Năng lực hấp thụ của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cách tổ chức trao đổi và sử dụng tri thức nên không thể đánh giá chỉ dựa trên trình độ của một số nhân sự hoặc giá trị thiết bị đang sở hữu. Zahra & George (2002) phát triển khái niệm này thành bốn thành tố: thu nhận, đồng hóa, chuyển hóa và khai thác tri thức. Trong đó, thu nhận là tìm kiếm và tiếp nhận tri thức cần thiết từ bên ngoài; đồng hóa là phân tích và hiểu tri thức tiếp nhận được; chuyển hóa là kết hợp tri thức mới với tri thức hiện có; khai thác là vận dụng tri thức vào hoạt động của doanh nghiệp. Hai thành tố đầu cấu thành năng lực hấp thụ tiềm năng, còn hai thành tố sau cấu thành năng lực hấp thụ hiện thực. Sự phân biệt này giúp làm rõ vì sao doanh nghiệp có thể tiếp cận và hiểu một công nghệ nhưng vẫn gặp khó khăn khi đưa công nghệ đó vào sản xuất – kinh doanh.
Hiện nay, năng lực hấp thụ công nghệ được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trong việc nhận diện, tiếp thu, kết hợp và vận dụng tri thức công nghệ từ bên ngoài để cải tiến hoạt động sản xuất – kinh doanh. Tri thức công nghệ không chỉ liên quan đến thiết bị và phần mềm mà còn bao gồm kiến thức về quy trình sản xuất, phương pháp kiểm soát chất lượng và cách thức vận hành… Năng lực này được thể hiện thông qua việc học hỏi, chia sẻ kiến thức và điều chỉnh quy trình phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cần phân biệt năng lực hấp thụ công nghệ với nguồn lực đầu tư, mức độ ứng dụng và kết quả chuyển đổi. Chi tiêu cho công nghệ phản ánh nguồn lực được huy động; mức độ ứng dụng cho biết công nghệ đang được sử dụng như thế nào; kết quả chuyển đổi phản ánh những thay đổi ra sao. Trong khi đó, năng lực hấp thụ phản ánh khả năng học hỏi và chuyển tri thức thành khả năng thực hiện của doanh nghiệp. Vì vậy, đánh giá năng lực này cần xem xét cả quá trình tiếp thu, điều chỉnh và vận dụng tri thức, thay vì chỉ dựa vào số lượng thiết bị, kinh phí đầu tư hoặc mức tăng doanh thu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu kết hợp phân tích chính sách. Tài liệu được lựa chọn theo mức độ liên quan trực tiếp đến năng lực hấp thụ, ứng dụng công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Nguồn nghiên cứu gồm công trình lý thuyết nền tảng, báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2021), OECD (2021) và hồ sơ đổi mới sáng tạo quốc gia của WIPO (2025).
Quá trình phân tích được thực hiện theo ba bước: (1) Làm rõ nội hàm khái niệm và đơn vị phân tích. (2) Phân loại thông tin theo điều kiện bên trong doanh nghiệp, quan hệ với môi trường bên ngoài và kết quả sử dụng công nghệ. (3) Đối chiếu từng vấn đề với mục tiêu, công cụ và yêu cầu tổ chức thực hiện chính sách.
2.3. Khung phân tích
Để xác định những hạn chế trong năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp và lựa chọn công cụ hỗ trợ phù hợp, bài viết đề xuất khung phân tích gồm ba nhóm nội dung có quan hệ với nhau.
(1) Điều kiện thực hiện, bao gồm: chất lượng nhân lực, năng lực quản trị, nguồn lực tài chính, quan hệ hợp tác và dữ liệu. Đây là những điều kiện giúp doanh nghiệp tiếp cận, học hỏi và sử dụng tri thức công nghệ.
(2) Quá trình hấp thụ công nghệ, gồm bốn thành tố: thu nhận, đồng hóa, chuyển hóa và khai thác. Phân tích từng thành tố giúp làm rõ doanh nghiệp gặp khó khăn ở khâu tìm kiếm công nghệ, tiếp thu kiến thức, điều chỉnh quy trình hay đưa công nghệ vào sử dụng thường xuyên.
(3) Kết quả vận dụng công nghệ, thể hiện qua những thay đổi về hiệu quả vận hành, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Những kết quả này được sử dụng để đối chiếu với quá trình hấp thụ; đồng thời, cần xem xét các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.
Thể chế và chính sách tác động đến cả ba nhóm nội dung thông qua điều kiện tiếp cận nguồn lực, chi phí thực hiện các giao dịch, chất lượng dịch vụ công và động lực đầu tư. Tuy nhiên, các điều kiện thuận lợi chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới và có khả năng tổ chức thực hiện. Quá trình hấp thụ cũng có sự điều chỉnh và phản hồi: kết quả thử nghiệm có thể khiến doanh nghiệp tìm kiếm thêm tri thức, trong khi việc vận dụng thành công có thể tạo nguồn lực cho những bước đổi mới tiếp theo.
Bảng 1. Các thành tố của năng lực hấp thụ công nghệ
| Thành tố | Câu hỏi đánh giá | Minh chứng có thể sử dụng |
| Thu nhận | Doanh nghiệp xác định nhu cầu, tìm kiếm và lựa chọn nguồn tri thức công nghệ như thế nào? | Yêu cầu công nghệ; thông tin về nguồn cung cấp tri thức; phương án so sánh giải pháp và chi phí dự kiến. |
| Đồng hóa | Nhân sự liên quan có hiểu và chia sẻ được tri thức công nghệ đã tiếp nhận không? | Kết quả kiểm tra kiến thức; tài liệu hướng dẫn nội bộ; khả năng giải thích nguyên lý và yêu cầu sử dụng công nghệ. |
| Chuyển hóa | Tri thức mới được kết hợp với kinh nghiệm và quy trình hiện có của doanh nghiệp như thế nào? | Phương án điều chỉnh quy trình; tài liệu tích hợp công nghệ; nhật ký và kết quả thử nghiệm. |
| Khai thác | Doanh nghiệp có đưa công nghệ vào sử dụng thường xuyên và duy trì được kết quả cải tiến không? | Nhật ký vận hành; mức sử dụng thực tế; độ ổn định của quy trình; thay đổi về tỷ lệ lỗi và thời gian xử lý. |
Khi áp dụng, các nội dung trong Bảng 1 cần được điều chỉnh theo đặc điểm ngành và hoạt động ứng dụng, cải tiến công nghệ cụ thể của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp tự đánh giá cần được đối chiếu với tài liệu kỹ thuật, khả năng thực hiện công việc của người lao động và số liệu vận hành thực tế. Việc xem xét riêng từng thành tố giúp nhận diện rõ những khâu cần hỗ trợ, tránh để một điểm số tổng hợp che lấp sự khác biệt giữa các mặt năng lực. Trên cơ sở đó, chính sách hỗ trợ cần hướng vào những trở ngại cụ thể. Với doanh nghiệp chưa xác định rõ nhu cầu công nghệ, tư vấn lựa chọn giải pháp có thể là ưu tiên. Với doanh nghiệp đã lựa chọn được công nghệ nhưng thiếu nhân lực vận hành, hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn tại chỗ có thể phù hợp hơn. Trường hợp doanh nghiệp đã làm chủ quy trình nhưng chưa có điều kiện kiểm nghiệm sản phẩm, cần xem xét hỗ trợ thử nghiệm và đánh giá chất lượng.
3. Những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp và quản trị nhà nước
3.1. Bối cảnh chính sách và yêu cầu đánh giá năng lực hấp thụ công nghệ
Nghị quyết số 68-NQ/TW chỉ ra những hạn chế về quy mô, tiềm lực tài chính, trình độ quản trị, năng lực công nghệ và liên kết của khu vực kinh tế tư nhân. Những hạn chế này có thể tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận và sử dụng công nghệ của doanh nghiệp. Chẳng hạn, thiếu nguồn lực tài chính có thể làm giảm khả năng đầu tư cho đào tạo, trong khi hạn chế về quản trị có thể khiến công nghệ được đầu tư chưa phát huy hiệu quả. Vì vậy, chính sách hỗ trợ cần xem xét mối quan hệ giữa các điều kiện về vốn, nhân lực và tổ chức thực hiện; đồng thời, tính đến sự khác biệt về nhu cầu và năng lực của từng nhóm doanh nghiệp.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị định số 268/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa nhiều nội dung về đổi mới sáng tạo, khuyến khích hoạt động trong doanh nghiệp và phát triển các tổ chức hỗ trợ. Trong quá trình thực hiện, yêu cầu đặt ra là chuyển các quy định thành những hình thức hỗ trợ phù hợp, giúp doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Kết quả thực thi phụ thuộc vào cả chất lượng hỗ trợ và khả năng tham gia, tiếp nhận của doanh nghiệp.
Ở cấp quốc gia, Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 của WIPO xếp Việt Nam thứ 44 trong 139 nền kinh tế; thứ hạng về đầu vào đổi mới sáng tạo là 50 và đầu ra là 37 (World Intellectual Property Organization, 2025). Các chỉ số này cung cấp thông tin về điều kiện và kết quả đổi mới sáng tạo của nền kinh tế, nhưng chưa phản ánh trực tiếp năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp tư nhân. Để xác định nội dung cần hỗ trợ, cần bổ sung thông tin ở cấp doanh nghiệp về khả năng tìm kiếm, tiếp thu, điều chỉnh và vận dụng tri thức công nghệ.
Nghiên cứu của Cirera & cộng sự (2021), dựa trên khảo sát trước đại dịch Covid-19 với khoảng 1.500 doanh nghiệp Việt Nam có từ 5 lao động trở lên, ghi nhận tỷ lệ doanh nghiệp có kết nối Internet đạt 99,7%, trong khi tỷ lệ sử dụng điện toán đám mây là 6,9%. Kết quả này cho thấy, sự khác biệt giữa khả năng tiếp cận hạ tầng số và việc sử dụng một ứng dụng công nghệ cụ thể trong hoạt động kinh doanh.
Từ những phân tích trên cho thấy, việc đánh giá năng lực hấp thụ công nghệ cần kết hợp thông tin về điều kiện tiếp cận với bằng chứng về quá trình học hỏi và sử dụng công nghệ tại doanh nghiệp. Cách tiếp cận này giúp xác định rõ doanh nghiệp đang thiếu nguồn lực, gặp khó khăn trong tiếp thu tri thức hay chưa tổ chức được việc vận dụng vào sản xuất – kinh doanh. Đây là cơ sở để lựa chọn công cụ hỗ trợ phù hợp và theo dõi những thay đổi thực chất sau hỗ trợ.
3.2. Thu nhận tri thức và xác định nhu cầu công nghệ
Ở khâu thu nhận tri thức, yêu cầu trước hết là xác định doanh nghiệp cần công nghệ để giải quyết vấn đề gì. Khó khăn có thể xuất hiện khi doanh nghiệp biết nhiều giải pháp trên thị trường nhưng chưa nhận diện rõ những hạn chế trong hoạt động, như: chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm không ổn định hoặc thời gian xử lý công việc kéo dài. Khi nhu cầu chưa được xác định cụ thể, việc bổ sung thông tin về công nghệ và nhà cung cấp chưa đủ để bảo đảm lựa chọn phù hợp. Doanh nghiệp cần có khả năng đánh giá hiện trạng, xác định tình trạng kỹ thuật và so sánh các phương án theo điều kiện thực tế. Việc so sánh cần tính đến cả chi phí mua sắm, tích hợp, đào tạo, vận hành và bảo trì.
Một vấn đề khác là sự chênh lệch thông tin giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp công nghệ. Trong khi nhà cung cấp nắm rõ đặc tính sản phẩm, doanh nghiệp có thể thiếu kiến thức chuyên môn để đánh giá mức độ phù hợp và kiểm chứng những lợi ích được giới thiệu. Vì vậy, hoạt động tư vấn có vai trò hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn giải pháp. Tuy nhiên, nếu lợi ích của đơn vị tư vấn gắn trực tiếp với doanh số bán thiết bị hoặc phần mềm, khuyến nghị có nguy cơ thiên về mục tiêu bán hàng. Điều này đặt ra yêu cầu bảo đảm tính độc lập, minh bạch và trách nhiệm của hoạt động tư vấn, nhất là trong các chương trình sử dụng nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước.
3.3. Đồng hóa tri thức và tổ chức học hỏi trong doanh nghiệp
Ở khâu đồng hóa, doanh nghiệp cần giúp những người có liên quan hiểu và tiếp thu được tri thức công nghệ đã tiếp nhận. Quá trình này có thể gặp trở ngại về tài liệu, thiếu người hướng dẫn hoặc người lao động không được bố trí đủ thời gian học tập. Đối với doanh nghiệp có ít nhân sự chuyên trách, việc cử một người tham gia đào tạo chưa bảo đảm kiến thức được chia sẻ đến những người trực tiếp sử dụng công nghệ. Vì vậy, khả năng đồng hóa tri thức cần được xem xét thông qua mức độ hiểu nguyên lý, yêu cầu vận hành và khả năng giải thích, hướng dẫn lại cho người khác.
Khó khăn còn xuất hiện khi kiến thức và kinh nghiệm chủ yếu được giữ ở từng cá nhân, chưa được lưu giữ và chia sẻ trong doanh nghiệp. Khi nhân sự phụ trách thay đổi, doanh nghiệp có thể mất đi những hiểu biết cần thiết để duy trì hoạt động. Việc xây dựng tài liệu hướng dẫn chỉ phát huy tác dụng khi nội dung được cập nhật, dễ tiếp cận và gắn với công việc thực tế. Do đó, doanh nghiệp cần tổ chức trao đổi kinh nghiệm, hướng dẫn tại chỗ và lưu giữ những kiến thức thiết yếu. Đây là điều kiện để chuyển kiến thức của cá nhân thành hiểu biết chung, tạo nền tảng cho việc điều chỉnh và vận dụng công nghệ ở các khâu tiếp theo.
3.4. Chuyển hóa tri thức và chi phí điều chỉnh quy trình
Ở khâu chuyển hóa, doanh nghiệp cần kết hợp tri thức công nghệ mới với kiến thức, kinh nghiệm và quy trình hiện có. Quá trình này thường đòi hỏi điều chỉnh cả yếu tố kỹ thuật và cách thức tổ chức công việc. Chẳng hạn, khi triển khai hệ thống theo dõi sản xuất, doanh nghiệp cần thống nhất cách ghi nhận dữ liệu, mã sản phẩm và trách nhiệm cập nhật giữa các bộ phận. Nếu những nội dung này chưa được thống nhất, phần mềm khó cung cấp thông tin chính xác để phục vụ quản lý. Vì vậy, việc tiếp nhận công nghệ cần đi cùng với điều chỉnh quy trình và cơ chế phối hợp trong doanh nghiệp.
Chi phí chuyển hóa tri thức không chỉ gồm khoản tiền mua thiết bị hoặc phần mềm mà còn bao gồm: thử nghiệm, chuẩn hóa dữ liệu, điều chỉnh quy trình và kiểm soát chất lượng. Doanh nghiệp cũng có thể phải bố trí lại nhân lực hoặc kế hoạch sản xuất để triển khai công nghệ mới. Những hoạt động này sử dụng nguồn lực trước khi tạo ra kết quả kinh tế. Nếu chương trình hỗ trợ chỉ tập trung vào mua sắm, nhu cầu hoàn thiện các điều kiện vận hành có thể chưa được đáp ứng đầy đủ. Do đó, thiết kế hỗ trợ cần xem xét tổng thể những công việc cần thực hiện để công nghệ phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp.
Nhu cầu điều chỉnh còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành và công nghệ. Vì vậy, tiêu chí đánh giá nên kết hợp những yêu cầu chung về xác định vấn đề, theo dõi sự thay đổi và kiểm soát rủi ro với yêu cầu kỹ thuật của từng ngành. Sự tham gia của chuyên gia và doanh nghiệp giúp các tiêu chí sát với điều kiện thực hiện và kết quả cần đạt được.
3.5. Khai thác tri thức, thị trường và quan hệ liên kết
Ở khâu khai thác, yêu cầu đặt ra là đưa tri thức công nghệ vào hoạt động thường xuyên và duy trì được kết quả cải tiến. Một thử nghiệm thành công về kỹ thuật chưa bảo đảm hiệu quả kinh tế nếu chi phí vận hành cao, chất lượng thiếu ổn định hoặc sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, doanh nghiệp cần kết hợp khả năng vận hành công nghệ với quản lý chi phí, bảo đảm chất lượng và phát triển thị trường.
Báo cáo của OECD (2021) nhấn mạnhviệc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước; đồng thời, phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Từ góc độ năng lực hấp thụ, giá trị của liên kết cần được xem xét qua cơ hội học hỏi và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Trong quan hệ cung ứng, doanh nghiệp có thể tiếp nhận tri thức thông qua hướng dẫn kỹ thuật, phản hồi về chất lượng, xử lý lỗi và điều chỉnh quy trình theo yêu cầu của đối tác.
Tuy nhiên, liên kết cũng có thể tạo ra sự phụ thuộc nếu khả năng sử dụng công nghệ, dữ liệu và thị trường tiêu thụ bị ràng buộc quá lớn vào một đối tác. Vì vậy, chương trình phát triển nhà cung ứng cần quan tâm đến khả năng duy trì và vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã tiếp thu cho các sản phẩm hoặc khách hàng khác. Kết quả hỗ trợ cần được thể hiện ở năng lực đáp ứng của doanh nghiệp, bên cạnh số lượng hợp đồng hoặc đơn hàng được ký kết.
3.6. Yêu cầu đánh giá và hỗ trợ theo năng lực doanh nghiệp
Năng lực hấp thụ công nghệ có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp, giữa các thành tố và theo từng loại công nghệ. Một doanh nghiệp vận hành tốt công nghệ hiện có vẫn có thể gặp khó khăn khi tiếp nhận công nghệ mới. Do đó, phân loại đối tượng hỗ trợ chỉ theo quy mô hoặc địa bàn chưa đủ để xác định nhu cầu. Cần xem xét cụ thể doanh nghiệp đang gặp trở ngại trong tìm kiếm, tiếp thu, điều chỉnh hay vận dụng tri thức; đồng thời, cập nhật đánh giá khi nhiệm vụ và điều kiện hoạt động thay đổi.
4. Hàm ý chính sách
Một là, thiết kế hỗ trợ theo điểm nghẽn và giá trị bổ sung. Chính sách hỗ trợ cần hướng vào việc nâng cao khả năng giải quyết những vấn đề cụ thể của doanh nghiệp. Theo đó, hỗ trợ vốn, thiết bị, đào tạo cần gắn với mục tiêu cải tiến và điểm nghẽn đã được xác định. Trước khi triển khai, doanh nghiệp cần làm rõ vấn đề cần giải quyết, tình trạng ban đầu, kết quả dự kiến và nhân sự chịu trách nhiệm thực hiện. Đây là cơ sở để lựa chọn công cụ hỗ trợ và theo dõi kết quả. Yêu cầu hồ sơ cần tương xứng với quy mô, kinh phí và mức độ rủi ro, bảo đảm doanh nghiệp có thể tham gia mà không phải chịu chi phí thủ tục quá lớn.
Việc lựa chọn đối tượng và nội dung hỗ trợ cần làm rõ sự cần thiết can thiệp của Nhà nước. Những khó khăn do thiếu thông tin chính thống, hạn chế khả năng phối hợp hoặc chi phí sử dụng hạ tầng kỹ thuật cao có thể được xem xét giải quyết thông qua dịch vụ tư vấn độc lập, cung cấp thông tin tiêu chuẩn và cơ sở thử nghiệm dùng chung. Đối với hỗ trợ trực tiếp cho từng doanh nghiệp, cần đánh giá giá trị bổ sung, tức là khả năng hỗ trợ giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, rút ngắn thời gian hoặc nâng cao chất lượng đổi mới so với trường hợp tự thực hiện. Cách tiếp cận này giúp hạn chế việc dùng ngân sách để thay thế khoản đầu tư mà doanh nghiệp đã có khả năng và kế hoạch thực hiện.
Trên cơ sở đó, các công cụ được đề xuất cần được cụ thể hóa thành chương trình có mục tiêu, điều kiện tham gia, trách nhiệm thực hiện và tiêu chí đánh giá rõ ràng. Phạm vi và mức hỗ trợ phải phù hợp với thẩm quyền, nguồn lực được phê duyệt và các quy định liên quan. Việc thiết kế chương trình cũng cần tạo điều kiện điều chỉnh nội dung hỗ trợ khi nhu cầu và năng lực của doanh nghiệp thay đổi.
Bảng 2. Gắn điểm nghẽn với công cụ hỗ trợ và kết quả cần theo dõi
| Điểm nghẽn | Công cụ đề xuất | Kết quả cần theo dõi |
| Chưa xác định đúng nhu cầu | Chẩn đoán độc lập; tư vấn so sánh phương án | Yêu cầu công nghệ rõ; quyết định đầu tư có căn cứ |
| Thiếu khả năng hiểu và vận hành | Đào tạo tại chỗ gắn nhiệm vụ; hướng dẫn nội bộ | Nhân sự thực hiện độc lập; tri thức được chia sẻ |
| Chưa tích hợp vào quy trình | Hỗ trợ thử nghiệm; chuẩn hóa dữ liệu; cải tiến tổ chức | Quy trình mới vận hành; lỗi tích hợp được xử lý |
| Khó duy trì hoặc mở rộng kết quả | Kiểm nghiệm; hoàn thiện chất lượng; liên kết nhà cung ứng | Chất lượng ổn định; hiệu quả sử dụng; khả năng đáp ứng đơn hàng |
Hai là, nâng cao chất lượng dịch vụ tư vấn và hỗ trợ trung gian. Có thể hỗ trợ một phần chi phí đánh giá hiện trạng và xác định nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp. Báo cáo tư vấn cần làm rõ vấn đề, so sánh phương án và đề xuất kế hoạch thực hiện. Doanh nghiệp lựa chọn đơn vị tư vấn theo tiêu chí chuyên môn công khai. Đơn vị tư vấn cần công bố quan hệ lợi ích với nhà cung cấp và giải thích căn cứ đề xuất giải pháp. Khuyến nghị cần phù hợp với nhu cầu, khả năng tiếp nhận và điều kiện vận hành của doanh nghiệp.
Nhà nước cần ưu tiên nâng cao chất lượng mạng lưới hỗ trợ hiện có, tăng cường phối hợp giữa các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và đơn vị dịch vụ kỹ thuật. Thông tin về chuyên gia, tổ chức tư vấn cần nêu rõ kinh nghiệm và kết quả có thể kiểm chứng. Đồng thời, cần tiếp nhận phản hồi, xử lý khiếu nại và xem xét dừng hợp tác với đơn vị không đáp ứng yêu cầu.
Địa phương thiếu dịch vụ chuyên sâu có thể phối hợp sử dụng chuyên gia và cơ sở thử nghiệm của địa phương khác. Đầu tư hạ tầng mới cần dựa trên nhu cầu, khả năng khai thác và chi phí duy trì. Các cơ sở dùng chung cần công khai điều kiện tiếp cận, mức phí, thời gian phục vụ và trách nhiệm bảo mật thông tin. Hiệu quả hoạt động được đánh giá qua mức độ sử dụng và khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của doanh nghiệp.
Ba là, gắn đào tạo nhân lực với nhiệm vụ cải tiến công nghệ tại doanh nghiệp. Đào tạo cần bổ sung kiến thức, kỹ năng phục vụ yêu cầu cải tiến cụ thể của doanh nghiệp, như: giảm sai sót dữ liệu, chuẩn hóa thao tác hoặc ổn định quy trình sản xuất. Nội dung học cần phù hợp với từng vị trí công việc, kết hợp hướng dẫn và thực hành tại chỗ. Kết quả được đánh giá qua khả năng thực hiện công việc độc lập, giải thích quy trình và xử lý tình huống thực tế.
Doanh nghiệp cần bố trí người phụ trách, thời gian và điều kiện thực hành; cơ sở đào tạo phối hợp xác định nhu cầu, hướng dẫn và theo dõi tiến bộ. Sau đào tạo, cần đánh giá khả năng vận dụng, cập nhật tài liệu và chia sẻ kinh nghiệm để kiến thức được duy trì trong tổ chức, giảm sự phụ thuộc vào từng cá nhân.
Đối với người quản lý, đào tạo cần chú trọng khả năng lựa chọn công nghệ, tổ chức công việc và phối hợp giữa các bộ phận. Kế hoạch đổi mới công nghệ cũng cần tính đến đào tạo lại và bố trí công việc phù hợp cho người lao động chịu tác động. Qua đó, phát triển năng lực hấp thụ công nghệ được gắn với nâng cao kỹ năng và cải thiện điều kiện làm việc.
Bốn là, đồng tài trợ theo giai đoạn và quản trị rủi ro thử nghiệm. Có thể áp dụng đồng tài trợ theo ba giai đoạn: đánh giá nhu cầu, thử nghiệm và triển khai. Mỗi giai đoạn cần xác định rõ mục tiêu và kết quả cần kiểm chứng. Việc tiếp tục hỗ trợ dựa trên tiến bộ kỹ thuật, mức độ phù hợp của giải pháp và khả năng vận hành của doanh nghiệp. Mức đóng góp của các bên cần phù hợp với nội dung công việc, khả năng huy động nguồn lực và lợi ích dự kiến.
Thử nghiệm chưa đạt mục tiêu vẫn có thể cung cấp thông tin hữu ích nếu được thực hiện đúng quy trình và báo cáo trung thực. Cần phân biệt rủi ro kỹ thuật với hành vi sử dụng kinh phí sai mục đích hoặc báo cáo sai kết quả. Điều kiện tiếp tục, điều chỉnh, dừng hỗ trợ và nghiệm thu cần được xác định từ đầu, gắn với trách nhiệm của các bên và quy định áp dụng.
Kiểm soát rủi ro cần phù hợp với đặc điểm công nghệ. Các thử nghiệm liên quan đến an toàn, dữ liệu nhạy cảm hoặc môi trường cần được đánh giá chuyên môn trước khi triển khai. Với phần mềm, cần xem xét khả năng chuyển dữ liệu, duy trì vận hành và tổng chi phí sử dụng, kể cả khi thay đổi nhà cung cấp. Điều này giúp doanh nghiệp chủ động về tài chính và hạn chế sự phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Năm là, tổ chức liên kết theo nhiệm vụ và phát triển năng lực lâu dài. Chương trình phát triển nhà cung ứng cần dựa trên yêu cầu kỹ thuật của bên mua và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp tham gia. Các bên thống nhất nội dung cải tiến, tiến độ và tiêu chí đánh giá. Nhà trường, viện hoặc đơn vị tư vấn hỗ trợ chuyên môn; bên mua cung cấp hướng dẫn và phản hồi. Kết quả liên kết được đánh giá qua khả năng đáp ứng yêu cầu, duy trì chất lượng và vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào công việc hoặc đơn hàng khác.
Với chương trình sử dụng nguồn lực công, cần công khai tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp và nội dung hỗ trợ. Thỏa thuận hợp tác cần làm rõ trách nhiệm, quyền sử dụng kết quả cải tiến, dữ liệu và tài liệu kỹ thuật, kể cả khi phục vụ khách hàng khác, đồng thời bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ và bảo mật kinh doanh. Nhà nước hỗ trợ kết nối, giảm chi phí phối hợp; doanh nghiệp chủ động hợp tác và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp duy trì và phát triển năng lực sau khi chương trình hỗ trợ kết thúc.
Sáu là, phối hợp thực hiện và đánh giá dựa trên thay đổi năng lực. Chương trình cần có đầu mối điều phối rõ ràng, ưu tiên sử dụng bộ máy và mạng lưới hỗ trợ hiện có. Trách nhiệm chuyên môn, bố trí kinh phí và theo dõi triển khai cần được phân định giữa các cơ quan liên quan theo chức năng, thẩm quyền. Chính quyền địa phương hỗ trợ kết nối nhu cầu doanh nghiệp; các bên tham gia có trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin và giải trình về kết quả.
Đánh giá cần kết hợp ba nhóm thông tin: thay đổi năng lực, kết quả hoạt động và chi phí thực hiện. Năng lực doanh nghiệp được xem xét qua khả năng vận hành công nghệ, xử lý vấn đề, điều chỉnh quy trình và chia sẻ kiến thức. Các chỉ tiêu cần thống nhất cách đo và thời gian theo dõi ngay từ đầu. Khi sử dụng doanh thu hoặc năng suất lao động, cần tính đến ảnh hưởng của giá cả, cơ cấu sản phẩm, thời gian làm việc và các khoản đầu tư khác.
5. Kết luận
Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ góp phần giúp doanh nghiệp tư nhân cải thiện năng suất và khả năng đổi mới, đáp ứng yêu cầu của mô hình phát triển mới. Việc tìm hiểu cách doanh nghiệp học hỏi, tiếp thu và vận dụng tri thức là cơ sở để nhận diện khó khăn và lựa chọn hình thức hỗ trợ phù hợp.
Từ khung phân tích đề xuất, bài viết gợi mở hướng kết hợp hỗ trợ tài chính, công nghệ với phát triển nhân lực, cải tiến quản trị và tăng cường liên kết. Sự hỗ trợ của Nhà nước cần đi cùng với tính chủ động của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu, bố trí nguồn lực và duy trì kết quả cải tiến. Hiệu quả hỗ trợ được xem xét qua những thay đổi về năng lực và hoạt động của doanh nghiệp, gắn với sử dụng nguồn lực công minh bạch, có trách nhiệm. Các nghiên cứu tiếp theo có thể bổ sung dữ liệu theo thời gian và đặc điểm ngành để kiểm chứng khung phân tích, làm cơ sở điều chỉnh chính sách sát hơn với thực tiễn.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025). Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128-152. DOI: 10.2307/2393553.
Cirera, X., Comin, D., Cruz, M., Lee, K. M., & Soares Martins-Neto, A. (2021). Firm-level technology adoption in Vietnam. Policy Research Working Paper 9567. World Bank, tr. 2-6. DOI: 10.1596/1813-9450-9567.
OECD (2021). SME and entrepreneurship policy in Viet Nam. OECD Studies on SMEs and Entrepreneurship. OECD Publishing. DOI: 10.1787/30c79519-en.
Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
World Intellectual Property Organization (2025). Global Innovation Index 2025: Viet Nam. Hồ sơ quốc gia. WIPO. https://www.wipo.int/documents/d/global-innovation-index/docs-en-2025-gii-2025-clusters-top100-ranking.pdf
Zahra, S. A., & George, G. (2002). Absorptive capacity: A review, reconceptualization, and extension. Academy of Management Review, 27(2), 185-203. DOI: 10.5465/AMR.2002.6587995.



