Vietnam’s Shan Tuyet tea value chain from an ecosystem perspective: current linkages and development bottlenecks
ThS. Trần Thị Mai Phương
Trung tâm UNESCO Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phương Đông
Email: tranmaiphuongpng@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Chè Shan Tuyết là nguồn tài nguyên bản địa đặc thù của khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, hội tụ nhiều giá trị về sinh thái, chất lượng sản phẩm, tri thức bản địa và văn hóa cộng đồng. Tuy nhiên, lợi thế về tài nguyên chưa đồng nghĩa với khả năng tạo ra và giữ lại giá trị kinh tế tương xứng. Trên cơ sở phân tích thực trạng chuỗi giá trị chè Shan Tuyết tại một số địa bàn thuộc Lai Châu, vùng Hà Giang (Tuyên Quang) và Lào Cai theo tiếp cận hệ sinh thái, bài viết nhận diện những điểm nghẽn trong liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường, cũng như những hạn chế trong tổ chức các điều kiện hỗ trợ chuỗi. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tổ chức hệ sinh thái, tăng mức độ đồng bộ của chuỗi và khả năng chuyển hóa các nguồn lực đặc thù của Shan Tuyết thành giá trị kinh tế.
Từ khóa: Chè Shan Tuyết; chuỗi giá trị; hệ sinh thái; liên kết chuỗi; giá trị kinh tế; điểm nghẽn phát triển.
Abstract: Shan Tuyet tea is a distinctive indigenous resource of Vietnam’s northern mountainous region, embodying ecological values, product quality, indigenous knowledge and community cultural heritage. However, resource advantages do not automatically translate into commensurate economic value. Based on an assessment of the Shan Tuyet tea value chain in selected areas of Lai Chau, Tuyen Quang region and Lao Cai from an ecosystem approach, this article identifies bottlenecks in linkages among producers, cooperatives, enterprises and markets, as well as constraints in the organization of supporting conditions for the value chain. The article proposes solutions to strengthen ecosystem coordination, improve value-chain coherence and enhance the transformation of Shan Tuyet tea’s distinctive resources into economic value.
Keywords: Shan Tuyet tea; value chain; ecosystem approach; value-chain linkages; economic value; development bottlenecks.
1. Đặt vấn đề
Chè Shan Tuyết là một trong những sản phẩm nông nghiệp đặc thù của khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Một bộ phận nguồn nguyên liệu tồn tại trong không gian núi cao, gắn với cây chè lâu năm, cộng đồng dân tộc thiểu số, phương thức thu hái thủ công và tri thức bản địa được tích lũy qua nhiều thế hệ. Vì vậy, giá trị của Shan Tuyết không chỉ nằm ở sản lượng chè thu được mà còn được cấu thành bởi điều kiện sinh thái, chất lượng nguyên liệu, nguồn gốc địa lý, văn hóa cộng đồng và khả năng kể câu chuyện về vùng sản xuất.
Tại một số địa bàn, các giá trị đặc thù này đã từng bước được nhận diện và thể chế hóa. Chè Shan Tuyết Hà Giang đã được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý “Hà Giang” (Cục Sở hữu trí tuệ, 2018); một số vùng chè tại Lào Cai phát triển sản xuất gắn với chứng nhận hữu cơ và vai trò của hợp tác xã; trong khi Lai Châu có những quần thể chè cổ thụ ở vùng núi cao với tiềm năng phát triển sản phẩm dựa trên nguồn gốc, sinh thái và văn hóa bản địa. Những kết quả này cho thấy, nền tảng tài nguyên của Shan Tuyết có khả năng tạo ra các phân khúc sản phẩm khác biệt. Tuy nhiên, có tài nguyên đặc thù chưa đồng nghĩa với có giá trị kinh tế cao; có sản phẩm chất lượng chưa đồng nghĩa với thị trường sẵn sàng công nhận và trả giá tương xứng; có thương hiệu, chỉ dẫn địa lý hoặc chứng nhận cũng chưa đồng nghĩa với giá trị được phân phối và giữ lại cho người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và vùng nguyên liệu. Đây là nghịch lý cần được giải thích từ góc độ tổ chức kinh tế thay vì chỉ từ góc độ chất lượng sản phẩm.
Theo Value Chain – chuỗi giá trị, sản phẩm đi qua nhiều công đoạn từ vùng nguyên liệu, thu hái, thu mua, chế biến, tiêu chuẩn hóa, phát triển sản phẩm đến phân phối và thị trường. Nhưng đối với Shan Tuyết, hiệu quả của chuỗi còn phụ thuộc vào Value Chain Governance – Quản trị chuỗi giá trị, tức cách các chủ thể phối hợp, đặt yêu cầu chất lượng, chia sẻ thông tin, phân bổ rủi ro và phân phối lợi ích. Vì vậy, một mắt xích có thể hoạt động tốt nhưng toàn chuỗi vẫn tạo giá trị thấp nếu quan hệ giữa các mắt xích thiếu ổn định hoặc thiếu cơ chế điều phối. Bên cạnh đó, chuỗi Shan Tuyết còn chịu tác động của những yếu tố nằm ngoài hoạt động sản xuất trực tiếp như thể chế, thuế – thanh toán, khoa học – công nghệ, tài chính, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn – kiểm nghiệm – công bố, truy xuất nguồn gốc, hạ tầng, logistics, thương hiệu và thị trường. Bài viết vì vậy sử dụng Ecosystem Approach – Tiếp cận hệ sinh thái để xem xét chuỗi trong mối quan hệ với toàn bộ các chủ thể và điều kiện hỗ trợ quá trình tạo giá trị.
Trên cơ sở so sánh một số địa bàn thuộc Lai Châu, vùng Hà Giang (Tuyên Quang) và Lào Cai, bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: cấu trúc và mức độ liên kết của chuỗi; khả năng tạo lập, gia tăng, truyền tải, phân phối và giữ lại giá trị; các điểm nghẽn hình thành tại từng mắt xích, trong quan hệ giữa các tác nhân và trong năng lực tổ chức hệ sinh thái.
2. Thực trạng chuỗi giá trị chè Shan Tuyết theo tiếp cận hệ sinh thái
Một là, nguồn lực Shan Tuyết có giá trị cao nhưng mức độ tổ chức thành chuỗi khác biệt giữa các địa bàn
Các vùng Shan Tuyết ở miền núi phía Bắc có điểm chung là gắn với điều kiện sinh thái vùng cao, cộng đồng địa phương và phương thức sản xuất mang tính bản địa. Tuy nhiên, cấu trúc tổ chức chuỗi giữa các địa bàn không đồng nhất. Sự khác biệt thể hiện ở quy mô vùng nguyên liệu, vai trò của hợp tác xã, mức độ tham gia của doanh nghiệp, công cụ bảo hộ/chứng nhận, năng lực chế biến và khả năng tiếp cận thị trường.
Ở vùng Hà Giang (Tuyên Quang), lợi thế nổi bật là quy mô tài nguyên Shan Tuyết và Chỉ dẫn địa lý “Hà Giang”, tạo cơ sở để liên kết nguồn gốc địa lý với chất lượng và thương hiệu vùng. Tại Lào Cai, một số vùng, như Bắc Hà, Bản Liền đã phát triển sản xuất gắn với mô hình hợp tác xã và tiêu chuẩn hữu cơ, qua đó hình thành một cấu trúc chuỗi có mức độ tổ chức cao hơn ở một số khâu. Trong khi đó, tại Lai Châu, các vùng chè cổ thụ ở Hoang Thèn, Mồ Sì San và các khu vực núi cao tạo ra lợi thế về nguồn gốc và câu chuyện sản phẩm nhưng đồng thời đặt ra chi phí lớn hơn về tiếp cận vùng nguyên liệu, thu mua, vận chuyển, kiểm soát chất lượng và tổ chức người thu hái.
Dữ liệu trường hợp của tác giả tại Khổng Lào, Lai Châu cho thấy khoảng 600 cây chè cổ thụ tại Xin Chải và Tả Lèng có thể tạo ra nguồn nguyên liệu đáng kể theo mùa vụ. Với giả định bình quân 4 kg búp tươi/cây/vụ, sản lượng lý thuyết đạt khoảng 2.400 kg búp tươi/vụ; theo tỷ lệ khoảng 5 kg búp tươi cho 1 kg trà khô, tương đương khoảng 480 kg trà khô/vụ (Trần Thị Mai Phương(2026). Số liệu này chỉ phản ánh trường hợp nghiên cứu, không đại diện cho toàn bộ Lai Châu, nhưng cho thấy, tài nguyên có thể tạo ra giá trị đáng kể nếu được tổ chức thu hái, thu mua và chế biến ổn định. Điểm quan trọng là tài nguyên tự nhiên chỉ là điều kiện đầu vào. Một vùng có nhiều cây chè cổ thụ chưa chắc tạo ra giá trị kinh tế cao hơn một vùng có quy mô nhỏ hơn nhưng tổ chức tốt hơn về tiêu chuẩn, hợp tác xã, chế biến, truy xuất, thương hiệu và thị trường. Do đó, sự khác biệt giữa ba địa bàn cần được nhìn nhận không chỉ ở “có gì” mà ở “tổ chức nguồn lực đó như thế nào” (xem Bảng 1).
Bảng 1. So sánh cấu trúc chuỗi giá trị chè Shan Tuyết tại ba địa bàn nghiên cứu
| Tiêu chí | Lai Châu | Vùng Hà Giang (Tuyên Quang) | Lào Cai |
| Đặc điểm nguồn lực | Có quần thể chè cổ thụ vùng núi cao; một số vùng xa khu dân cư, địa hình khó tiếp cận | Quy mô vùng Shan Tuyết lớn; nhiều vùng chè cổ thụ gắn với cộng đồng và sinh thái đặc thù | Có vùng chè cổ thụ; một số vùng đã phát triển sản xuất hữu cơ |
| Người sản xuất/thu hái | Chủ yếu hộ đồng bào dân tộc vùng cao; thu hái thủ công | Hộ gia đình và cộng đồng vùng chè; hình thức tổ chức khác nhau giữa các vùng | Hộ sản xuất; một số vùng liên kết với HTX theo tiêu chuẩn |
| Tổ chức trung gian | Có HTX tham gia thu mua tại một số vùng | HTX, tổ hợp tác và doanh nghiệp cùng tham gia | Vai trò HTX tương đối rõ tại một số vùng |
| Thu mua nguyên liệu | Trực tiếp hoặc qua HTX/thương lái; chịu ảnh hưởng lớn bởi địa hình và vận chuyển | Nhiều chủ thể tham gia thu mua | Một số vùng có HTX làm đầu mối thu mua |
| Chế biến | Có khả năng chế biến lục trà, hồng trà, bạch trà và sản phẩm giá trị cao | Hệ thống cơ sở và doanh nghiệp chế biến đa dạng | Có chế biến gắn với vùng nguyên liệu hữu cơ |
| Tiêu chuẩn/chứng nhận | Chưa đồng đều giữa vùng và chủ thể | Có lợi thế Chỉ dẫn địa lý “Hà Giang” | Một số vùng có chứng nhận hữu cơ |
| Thị trường | Một phần nguyên liệu bán thô; một phần được chế biến thành sản phẩm thương mại | Từ nguyên liệu tới sản phẩm chế biến và thương hiệu vùng | Có sản phẩm hữu cơ và khả năng tiếp cận phân khúc giá trị cao |
| Điểm nghẽn cần kiểm chứng | Logistics; ổn định thu mua; chi phí tổ chức vùng nguyên liệu; tiêu chuẩn hóa | Đồng bộ chất lượng; quản trị chỉ dẫn địa lý; liên kết nhiều tác nhân; thương mại hóa giá trị vùng | Duy trì tiêu chuẩn; liên kết hộ – HTX – doanh nghiệp; mở rộng thị trường |
Hai là, các mắt xích đã hình thành nhưng liên kết hộ dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – thị trường chưa đồng đều
Về hình thức, chuỗi Shan Tuyết đã xuất hiện tương đối đầy đủ các tác nhân: hộ sản xuất/người thu hái, hợp tác xã, thương lái, cơ sở chế biến, doanh nghiệp, đơn vị phân phối và thị trường. Tuy nhiên, sự hiện diện của các chủ thể chưa đồng nghĩa với một chuỗi được quản trị thống nhất.
Hộ dân chủ yếu đảm nhiệm chăm sóc, bảo vệ cây và thu hái nguyên liệu. Hợp tác xã có thể tập hợp sản lượng, tổ chức thu mua, hỗ trợ kỹ thuật, kiểm soát một phần chất lượng, truy xuất và chứng từ. Doanh nghiệp tiếp tục thực hiện chế biến, kiểm nghiệm, phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và thị trường. Trong một cấu trúc lý tưởng, các vai trò này bổ trợ lẫn nhau. Nhưng khi tiêu chuẩn thu hái, giá, thời gian giao hàng, chất lượng nguyên liệu và cơ chế chia sẻ thông tin chưa thống nhất, các tác nhân có thể vận hành theo mục tiêu riêng thay vì mục tiêu của toàn chuỗi. Thực tiễn cho thấy mối liên kết thu mua có thể mang tính thời vụ. Khi đầu ra chưa ổn định, doanh nghiệp khó cam kết sản lượng dài hạn; khi cam kết thu mua thiếu ổn định, người dân giảm động lực chăm sóc và thu hái đúng quy cách; khi nguyên liệu biến động, doanh nghiệp lại khó chuẩn hóa sản phẩm và mở rộng thị trường. Một vòng phản hồi bất lợi hình thành: thị trường không ổn định → thu mua không ổn định → người dân giảm đầu tư → nguyên liệu thiếu ổn định → chế biến khó chuẩn hóa → sản phẩm khó mở rộng thị trường → đầu ra tiếp tục thiếu ổn định.
Điều này cho thấy một phần điểm nghẽn không nằm ở năng lực của từng chủ thể riêng lẻ mà nằm ở giao diện giữa các chủ thể. Vì vậy, cần phân biệt “có Hợp tác xã” với “Hợp tác xã thực sự điều phối chuỗi”, “có doanh nghiệp thu mua” với “có quan hệ thu mua dài hạn”, và “có thị trường” với “có thị trường đủ ổn định để truyền tín hiệu ngược trở lại vùng nguyên liệu”.
Ba là, giá trị được tạo ra qua nhiều công đoạn nhưng khả năng gia tăng, phân phối và giữ lại giá trị còn khác biệt.
Giá trị kinh tế của Shan Tuyết không hình thành tại một công đoạn duy nhất. Từ búp tươi đến sản phẩm cuối cùng, giá trị có thể được gia tăng thông qua lựa chọn nguyên liệu, kỹ thuật thu hái, chế biến, phân loại, kiểm nghiệm, bao bì, truy xuất, thương hiệu, phân phối và trải nghiệm tiêu dùng. Do đó, giá búp tươi chỉ phản ánh một phần giá trị của nguồn tài nguyên.
Tại trường hợp Khổng Lào, giá thu mua búp tươi được ghi nhận khoảng 60.000 đồng/kg. Với tỷ lệ khoảng 5 kg búp tươi cho 1 kg trà khô, giá trị nguyên liệu tương đương khoảng 300.000 đồng cho lượng búp cần để tạo ra 1 kg trà khô. Trong khi đó, trà khô tại địa phương có mức giá từ khoảng 1 triệu đồng/kg và sản phẩm thương mại của ANNVIESHAN được ghi nhận khoảng 1,8 triệu đồng/kg. Tỷ lệ 1,8 triệu/300 nghìn tương đương 6 lần chỉ phản ánh chênh lệch giữa giá trị nguyên liệu quy đổi và giá bán sản phẩm cuối, tuyệt đối không được hiểu là tỷ suất lợi nhuận, bởi còn phải trừ chi phí chế biến, lao động, bao bì, logistics, kiểm nghiệm, chuyên gia, đi lại, marketing, quản trị và phân phối (Trần Thị Mai Phương(2026). Ví dụ trên cho thấy, Value Addition – Gia tăng giá trị có thể diễn ra mạnh sau khâu nguyên liệu, nhưng câu hỏi quan trọng hơn là Value Distribution – Phân phối giá trị và Value Retention – Giữ lại giá trị: phần giá trị tăng thêm được phân bổ cho người sản xuất, Hợp tác xã, cơ sở chế biến, doanh nghiệp, nhà phân phối và hoạt động tái đầu tư như thế nào. Nếu giá trị gia tăng tập trung ở khâu cuối trong khi vùng nguyên liệu không nhận được tín hiệu kinh tế đủ mạnh, chuỗi khó tạo động lực bảo tồn và nâng cao chất lượng lâu dài.
Vì vậy, đánh giá hiệu quả chuỗi không nên chỉ dừng ở giá bán cuối cùng. Cần theo dõi giá trị gia tăng ở từng công đoạn, chi phí tổ chức chuỗi, tỷ lệ giá trị giữ lại tại địa phương, mức thu nhập của người sản xuất và mức tái đầu tư trở lại vùng nguyên liệu. Đây là cơ sở để chuyển từ tư duy “tăng giá sản phẩm” sang tư duy “nâng chất lượng phân phối giá trị trong toàn chuỗi”.
Bốn là, công cụ bảo hộ, tiêu chuẩn và truy xuất đã hình thành nhưng khả năng chuyển thành giá trị thị trường còn hạn chế.
Chỉ dẫn địa lý, chứng nhận hữu cơ, tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc là các công cụ quan trọng giúp biến chất lượng thực tế thành chất lượng có thể chứng minh. Chỉ dẫn địa lý “Hà Giang” cho chè Shan Tuyết cho thấy giá trị nguồn gốc địa lý đã được nhận diện và thể chế hóa. Tại một số vùng Lào Cai, chứng nhận hữu cơ cũng tạo điều kiện để sản phẩm tiếp cận những phân khúc có yêu cầu cao hơn. Tuy nhiên, có công cụ bảo hộ chưa đồng nghĩa với có giá trị thương mại cao; có chứng nhận chưa đồng nghĩa với thị trường trả giá cao hơn; có sản phẩm chất lượng chưa đồng nghĩa với người tiêu dùng nhận biết được sự khác biệt. Chỉ dẫn địa lý chỉ tạo ra giá trị khi được kết nối với quản lý vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn sử dụng, truy xuất, quyền sử dụng, thương hiệu và thị trường. Chứng nhận chỉ có ý nghĩa kinh tế khi người mua hiểu, tin tưởng và chấp nhận trả mức giá tương ứng.
Quá trình chuyển hóa vì vậy cần liên tục theo chuỗi: nguồn gốc → tiêu chuẩn → kiểm soát → truy xuất → chế biến → sản phẩm → thương hiệu → truyền thông → thị trường công nhận → giá trị kinh tế. Nếu một mắt xích bị đứt, giá trị tiềm năng của tài nguyên có thể không đi hết được tới thị trường. Vấn đề của Shan Tuyết do đó không phải thiếu câu chuyện để xây dựng giá trị, mà là chưa chuyển hóa đầy đủ các giá trị sinh thái, nguồn gốc, văn hóa và tri thức bản địa thành những thuộc tính sản phẩm có thể được chứng minh, nhận diện và định giá. Đây là khoảng cách giữa “có giá trị” và “thị trường công nhận giá trị”.
Năm là, yêu cầu thể chế, thuế – thanh toán và điều kiện giao dịch vùng cao còn có khoảng cách.
Cùng với quá trình thương mại hóa, chuỗi Shan Tuyết phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, công bố, truy xuất, hóa đơn – chứng từ, thuế và thanh toán. Đây là điều kiện cần để chuyển một ngành hàng từ giao dịch truyền thống sang thị trường chính thức và quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, điều kiện giao dịch ở vùng chè núi cao có những đặc thù đáng lưu ý. Một bộ phận người cung cấp nguyên liệu là đồng bào dân tộc thiểu số; khả năng sử dụng tiếng Việt, tiếp cận ngân hàng, tài khoản hoặc thanh toán số có thể chưa đồng đều. Trong khi đó, doanh nghiệp phải tổ chức chứng từ và phương thức thanh toán phù hợp với yêu cầu pháp luật để bảo đảm tính hợp lệ của chi phí và quản trị tài chính.
Theo điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ, đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, để đáp ứng điều kiện về khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; việc xác định chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tang (Chính phủ, 2025b); trong đó, Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (Chính phủ, 2025a). Con số 6 triệu đồng nêu trên không được sử dụng để suy rộng cho toàn vùng, nhưng cho thấy một giao dịch nguyên liệu tương đối thông thường có thể phát sinh yêu cầu tuân thủ đối với doanh nghiệp. Nếu người bán quen nhận tiền mặt trong khi doanh nghiệp cần phương thức thanh toán và chứng từ chính thức, chi phí tổ chức giao dịch có thể tăng. Vấn đề không nên được diễn giải đơn giản rằng chính sách thuế “cản trở người dân”, mà là khả năng tồn tại một độ lệch giữa yêu cầu quản trị chính thức với điều kiện giao dịch đặc thù vùng cao. Khoảng cách này cần được đo lường bằng các chỉ báo cụ thể như tỷ lệ hộ có tài khoản, tỷ lệ giao dịch chuyển khoản, thời gian/chi phí hoàn thiện chứng từ, vai trò của hợp tác xã và những khó khăn về ngôn ngữ hoặc kỹ năng số.
Tương tự, đối với sở hữu trí tuệ, kiểm nghiệm, công bố và an toàn thực phẩm, vấn đề nghiên cứu không chỉ là “có bao nhiêu thủ tục” mà là mỗi yêu cầu tác động đến chủ thể nào, phát sinh bao nhiêu thời gian/chi phí, có điểm giao thoa nào giữa các cơ quan/quy trình và ảnh hưởng ra sao đến khả năng đưa sản phẩm ra thị trường.
Sáu là, khoa học – công nghệ, tài chính và logistics đã tham gia nhưng chưa tạo thành hệ hỗ trợ đồng bộ.
Khoa học – công nghệ có vai trò quan trọng trong quản lý vùng nguyên liệu, xác định đặc tính sản phẩm, chuẩn hóa thu hái, cải tiến chế biến, kiểm nghiệm, bảo quản, phát triển sản phẩm mới và xây dựng hệ thống truy xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của khoa học chỉ được thể hiện khi kết quả nghiên cứu được chuyển thành quy trình, sản phẩm hoặc năng lực mới của các chủ thể trong chuỗi.
Tương tự, tài chính không chỉ là vốn đầu tư máy móc. Hộ sản xuất cần nguồn lực để chăm sóc vùng nguyên liệu; hợp tác xã cần vốn lưu động để thu mua; doanh nghiệp cần vốn cho chế biến, kiểm nghiệm, bao bì, hàng tồn kho và phát triển thị trường. Nếu từng tác nhân thiếu nguồn lực ở những thời điểm khác nhau, chuỗi có thể bị gián đoạn dù tổng nhu cầu thị trường vẫn tồn tại.
Logistics là một điểm nghẽn đặc biệt tại các vùng chè núi cao. Búp tươi cần được đưa vào chế biến trong thời gian phù hợp để hạn chế suy giảm chất lượng, trong khi đường sá, khoảng cách, địa hình và quy mô thu hái phân tán làm tăng chi phí tập kết. Vì vậy, logistics không chỉ là vấn đề vận chuyển sau sản xuất mà là một bộ phận của quản trị chất lượng nguyên liệu.
Ba yếu tố khoa học – công nghệ, tài chính và logistics có quan hệ tương tác. Công nghệ tốt nhưng thiếu vốn không thể triển khai; vốn có nhưng vùng nguyên liệu và logistics không ổn định làm tăng rủi ro đầu tư; logistics tốt nhưng không có tiêu chuẩn và dữ liệu truy xuất cũng chưa tạo được giá trị khác biệt. Điều này củng cố yêu cầu phải tổ chức các nguồn lực hỗ trợ như một hệ thống thay vì các chương trình riêng lẻ.
Bảy là, thị trường và thương hiệu phát triển nhưng khả năng truyền tải giá trị đặc thù của Shan Tuyết còn hạn chế.
Thị trường là nơi giá trị tiềm năng của Shan Tuyết được kiểm chứng. Nếu người tiêu dùng không nhận biết sự khác biệt về nguồn gốc, sinh thái, cây chè lâu năm, tri thức bản địa, quy trình chế biến hoặc tính xác thực, các giá trị này khó chuyển thành mức giá và sức mua cao hơn. Một số doanh nghiệp và địa phương đã phát triển sản phẩm, bao bì, thương hiệu và câu chuyện vùng chè. Tuy nhiên, khi mỗi chủ thể sử dụng cách gọi, tiêu chuẩn, thông điệp và bằng chứng khác nhau, người tiêu dùng khó hình thành một nhận thức nhất quán về Shan Tuyết Việt Nam. Nguy cơ là tài nguyên phong phú nhưng thông điệp thị trường phân tán. Vì vậy, thương hiệu cần được hiểu như một cơ chế truyền tải giá trị, không chỉ là tên gọi hay bao bì.
Giá trị sinh thái phải được chứng minh bằng dữ liệu vùng; giá trị nguồn gốc phải được hỗ trợ bởi truy xuất; giá trị văn hóa cần được kể đúng và có sự tham gia của cộng đồng; chất lượng cảm quan cần được gắn với quy trình chế biến và tiêu chuẩn. Khi các lớp bằng chứng này được kết nối, thị trường mới có cơ sở để nhận diện sự khác biệt và hình thành mức sẵn lòng chi trả cao hơn. Ở chiều ngược lại, tín hiệu thị trường cần quay trở lại vùng nguyên liệu thông qua cơ chế thu mua, tiêu chuẩn và phân phối lợi ích. Nếu thương hiệu tạo ra mức giá cao hơn nhưng không hình thành động lực kinh tế cho người sản xuất và hợp tác xã, khả năng duy trì chất lượng và bảo tồn tài nguyên sẽ bị hạn chế.
Tám là, điểm nghẽn cuối cùng không chỉ nằm ở từng mắt xích mà nằm ở năng lực tổ chức toàn hệ sinh thái.
Bảng 2. Ma trận nhận diện các điểm nghẽn của chuỗi giá trị chè Shan Tuyết
| Nhóm điểm nghẽn | Biểu hiện trong chuỗi | Tác động đến tạo giá trị | Tầng tác động |
| Vùng nguyên liệu | Phân tán, địa hình khó tiếp cận | Tăng chi phí thu mua, kiểm soát và logistics | Mắt xích |
| Thu hái | Quy cách có thể khác nhau giữa hộ/vùng | Chất lượng đầu vào không ổn định | Mắt xích |
| Thu mua | Thời vụ, nhiều chủ thể, mức cam kết khác nhau | Khó ổn định sản lượng và giá | Liên kết |
| Thanh toán – thuế | Thói quen tiền mặt và yêu cầu tuân thủ có thể chưa tương thích | Tăng chi phí giao dịch | Hệ sinh thái thể chế |
| HTX | Năng lực quản trị, kỹ thuật, thương mại khác nhau | Khó phát huy đầy đủ vai trò điều phối | Liên kết/Hệ sinh thái |
| Chế biến | Công nghệ và quy trình khác nhau | Chất lượng sản phẩm thiếu đồng nhất | Mắt xích |
| Tiêu chuẩn – kiểm nghiệm – công bố | Năng lực tuân thủ của chủ thể nhỏ còn hạn chế | Tăng chi phí, ảnh hưởng tiếp cận thị trường | Hệ sinh thái |
| Truy xuất nguồn gốc | Dữ liệu vùng, hộ, lô nguyên liệu chưa đồng bộ | Khó chứng minh nguồn gốc và tính xác thực | Chuỗi/Hệ sinh thái |
| Sở hữu trí tuệ | Tài sản trí tuệ chưa luôn gắn với quản trị thương mại | Giá trị nguồn gốc chưa chuyển đầy đủ thành giá thị trường | Hệ sinh thái |
| Khoa học – công nghệ | Kết nối nghiên cứu với nhu cầu chuỗi chưa đồng đều | Hạn chế nâng cấp sản phẩm và quy trình | Hệ sinh thái |
| Tài chính | Khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế ở một số tác nhân | Khó đầu tư vùng nguyên liệu, thiết bị, tiêu chuẩn | Hệ sinh thái |
| Logistics | Địa hình cao, xa; nguyên liệu tươi cần vận chuyển nhanh | Tăng chi phí và nguy cơ suy giảm chất lượng | Mắt xích/Hệ sinh thái |
| Thương hiệu | Giá trị sinh thái – văn hóa – nguồn gốc chưa truyền tải thống nhất | Người tiêu dùng khó nhận diện khác biệt | Chuỗi |
| Thị trường | Đầu ra và phân khúc giá trị cao chưa đồng đều | Tác động ngược trở lại thu mua | Chuỗi/Hệ sinh thái |
| Điều phối hệ sinh thái | Các chủ thể và nguồn lực chưa được phối hợp đủ đồng bộ | Các giải pháp riêng lẻ khó tạo hiệu ứng toàn chuỗi | Điểm nghẽn hệ thống |
Bảng 2 cho thấy, phần lớn những vấn đề khó giải quyết nhất không hoàn toàn nằm bên trong một mắt xích. Logistics liên quan cả nguyên liệu lẫn hạ tầng; truy xuất liên quan hộ dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và hệ thống dữ liệu; tiêu chuẩn liên quan doanh nghiệp nhưng cũng liên quan cơ quan quản lý và năng lực kỹ thuật; tài chính nằm ngoài sản xuất trực tiếp nhưng quyết định khả năng đầu tư vào chuỗi. Vì vậy, nếu chỉ sửa từng mắt xích mà không cải thiện cơ chế điều phối, điểm nghẽn có thể tái xuất hiện dưới hình thức khác. Đây là cơ sở để xem năng lực tổ chức hệ sinh thái như một biến giải thích quan trọng đối với khả năng chuyển hóa giá trị Shan Tuyết (xem Hình 1).
Hình 1. Khung phân tích quá trình chuyển hóa giá trị chè Shan Tuyết theo tiếp cận hệ sinh thái

Nguồn: Tác giả đề xuất trên cơ sở tổng hợp Gereffi, Humphrey & Sturgeon (2005), Springer-Heinze (2018), World Bank (2012), Tran và cộng sự (2016) và kết quả nghiên cứu của tác giả.
Hình 1 cho thấy, nguồn lực sinh thái, chất lượng, tri thức bản địa, văn hóa và nguồn gốc địa lý trước hết mới tạo ra giá trị tiềm năng. Để giá trị tiềm năng trở thành giá trị kinh tế cần có năng lực tổ chức hệ sinh thái, liên kết hiệu quả giữa các chủ thể và sự đồng bộ của các mắt xích trong chuỗi. Từ logic này, có thể sử dụng khái niệm làm việc “khoảng cách chuyển hóa giá trị” để mô tả khoảng cách giữa giá trị tiềm năng của nguồn lực Shan Tuyết với giá trị kinh tế mà chuỗi thực tế có khả năng tạo ra, đưa ra thị trường và giữ lại. Trong phạm vi bài viết, đây là công cụ phân tích chứ chưa được khẳng định là một khái niệm lý thuyết mới.
3. Một số giải pháp
Thứ nhất, chuyển từ hỗ trợ từng khâu sang tổ chức hệ sinh thái phát triển chè Shan Tuyết.
Cần hình thành cơ chế phối hợp thường xuyên giữa cơ quan quản lý, cộng đồng, hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở khoa học, tổ chức tài chính và thị trường. Mục tiêu không phải tạo thêm một tầng hành chính mà là xác định rõ vai trò, dữ liệu, tiêu chuẩn và trách nhiệm của từng tác nhân trong một chuỗi giá trị thống nhất. Ở cấp vùng, cần có đầu mối điều phối để kết nối quy hoạch vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, xúc tiến thương mại, sở hữu trí tuệ và dữ liệu truy xuất.
Thứ hai, nâng hợp tác xã từ đầu mối thu gom thành tổ chức cung cấp dịch vụ chuỗi. Hợp tác xã cần từng bước đảm nhiệm hướng dẫn kỹ thuật, quản lý tiêu chuẩn thu hái, tập hợp nguyên liệu, sơ bộ phân loại chất lượng, truy xuất, chứng từ, hỗ trợ thanh toán và kết nối doanh nghiệp. Trong điều kiện hộ sản xuất nhỏ và phân tán, hợp tác xã có thể giảm Transaction Costs – chi phí giao dịch bằng cách thay thế hàng trăm giao dịch nhỏ bằng một cơ chế tập hợp minh bạch, đồng thời, truyền yêu cầu của doanh nghiệp về vùng nguyên liệu.
Thứ ba, xây dựng bộ tiêu chí nền tảng thống nhất từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm. Mỗi vùng cần xác định những yêu cầu cơ bản về nhận diện vùng, hồ sơ hộ/cây/lô nguyên liệu, tiêu chuẩn thu hái, thời gian tập kết, sơ chế, bảo quản và dữ liệu truy xuất. Bộ tiêu chí nền tảng không thay thế tiêu chuẩn riêng của doanh nghiệp mà tạo một “ngôn ngữ chung” cho toàn chuỗi, qua đó giảm biến động chất lượng và chi phí kiểm soát.
Thứ tư, biến sở hữu trí tuệ, chứng nhận và truy xuất thành công cụ tạo giá trị thị trường. Chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, chứng nhận hữu cơ và truy xuất cần được gắn với quản trị sử dụng, kiểm soát chất lượng, bao bì, truyền thông và phân khúc khách hàng. Mục tiêu không phải dừng ở việc “có chứng nhận” mà phải tạo được chuỗi: chứng nhận → chứng minh khác biệt → tạo niềm tin → tiếp cận thị trường → tạo mức giá tốt hơn → phân phối lại giá trị cho các tác nhân trong chuỗi.
Thứ năm, giảm khoảng cách giữa yêu cầu quản lý chính thức và điều kiện giao dịch vùng cao. Cần hỗ trợ người sản xuất mở và sử dụng tài khoản, tiếp cận thanh toán số, hiểu chứng từ và quyền lợi/nghĩa vụ giao dịch; đồng thời phát huy hợp tác xã như đầu mối tập hợp chứng từ và thanh toán trong phạm vi pháp luật cho phép. Đối với các thủ tục kiểm nghiệm, công bố, an toàn thực phẩm và sở hữu trí tuệ, cần rà soát quy trình theo góc nhìn chi phí tuân thủ để xác định điểm có thể chuẩn hóa, số hóa hoặc phối hợp liên thông.
Thứ sáu, tổ chức khoa học – công nghệ và tài chính theo nhu cầu nâng cấp chuỗi. Nghiên cứu cần hướng vào các vấn đề trực tiếp tạo giá trị như quản lý vùng nguyên liệu, nhận diện đặc tính, tiêu chuẩn thu hái, công nghệ chế biến, kiểm nghiệm, bảo quản, sản phẩm mới, bao bì, truy xuất và dữ liệu thị trường. Cơ chế tài chính cần phân biệt nhu cầu của hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp; đặc biệt chú ý vốn lưu động cho thu mua theo mùa vụ, đầu tư thiết bị chế biến và chi phí đáp ứng tiêu chuẩn.
Thứ bảy, tổ chức logistics như một bộ phận của quản trị chất lượng. Đối với búp tươi, thời gian và điều kiện vận chuyển ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chế biến. Vì vậy, cần bố trí điểm tập kết, lịch thu hái, phương tiện phù hợp và cơ chế phối hợp giữa hộ – hợp tác xã – cơ sở chế biến. Ở vùng địa hình khó khăn, đầu tư logistics phải được đánh giá cùng với hiệu quả vùng nguyên liệu thay vì coi là chi phí vận chuyển đơn thuần.
Thứ tám, xây dựng thương hiệu trên cơ sở bằng chứng và khả năng kể câu chuyện thống nhất. Giá trị sinh thái, cây chè lâu năm, tri thức bản địa và văn hóa cộng đồng cần được chuyển thành nội dung thương hiệu có bằng chứng: bản đồ vùng, dữ liệu truy xuất, quy trình, nhân vật cộng đồng, câu chuyện mùa vụ và đặc tính sản phẩm. Cần tránh tình trạng mỗi chủ thể kể một câu chuyện khác nhau về Shan Tuyết khiến người tiêu dùng khó hình thành nhận thức thống nhất. Thương hiệu vùng và thương hiệu doanh nghiệp nên bổ trợ thay vì cạnh tranh về nguồn gốc.
Thứ chín, chuyển trọng tâm quản lý từ tăng sản lượng sang tăng giá trị được tạo ra và giữ lại. Bên cạnh diện tích và sản lượng, cần bổ sung các chỉ tiêu như giá trị gia tăng trên đơn vị nguyên liệu, tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, mức giá sản phẩm có truy xuất/chứng nhận, thu nhập người sản xuất, tỷ lệ giá trị giữ lại tại địa phương, mức tái đầu tư vào vùng nguyên liệu và tỷ lệ hợp đồng/quan hệ thu mua ổn định. Đây là bước chuyển từ Production-oriented Management – quản lý định hướng sản lượng sang Value-oriented Management – quản lý định hướng giá trị.
Theo đó, câu hỏi quản lý cần chuyển từ “Sản xuất được bao nhiêu chè Shan Tuyết?” sang “Từ một đơn vị tài nguyên Shan Tuyết, chuỗi có thể tạo ra bao nhiêu giá trị, thị trường công nhận bao nhiêu, các tác nhân được phân phối bao nhiêu và vùng sản xuất giữ lại được bao nhiêu để tái đầu tư?”. Khi giá trị được giữ lại quay trở lại vùng nguyên liệu, cộng đồng, chất lượng và đổi mới, chuỗi mới hình thành được vòng phát triển bền vững thay vì chỉ khai thác tài nguyên sẵn có.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ (2025a). Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Điều 26.
Chính phủ (2025b). Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, điểm c khoản 1 Điều 9.
Cục Sở hữu trí tuệ (2018). Bảo hộ Chỉ dẫn địa lý “Hà Giang” cho sản phẩm chè Shan Tuyết, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00069.
Gereffi, G., Humphrey, J. & Sturgeon, T. (2005). The Governance of Global Value Chains. Review of International Political Economy, 12(1), 78-104.
Humphrey, J. & Schmitz, H. (2002). How does insertion in global value chains affect upgrading in industrial clusters? Regional Studies, 36(9), 1017-1027.
Mekong Region Land Governance – MRLG (2021). Shan Tuyet Tea Value Chain in Vietnam Community Forest Management.
Research Initiatives for Community Development – RIC/MRLG (2023). Forest Co-management and Value Chain Development of Shan Tuyet in Hoa Binh Province.
Springer-Heinze, A. (2018). ValueLinks 2.0: Manual on Sustainable Value Chain Development. GIZ.
Tran, T., Branca, G., Arslan, A. & Van Mai, T. (2016). Value Chain Analysis of Climate-smart Shan Tea Production in the Northern Mountainous Region of Vietnam. Italian Review of Agricultural Economics, 71(1), 155-169.
Trần Thị Mai Phương(2026). Dữ liệu nghiên cứu thực địa và dữ liệu chuỗi chè Shan Tuyết do tác giả tổng hợp tại các địa bàn nghiên cứu, 2025 – 2026.
World Bank (2012). Agricultural Innovation Systems: An Investment Sourcebook. Washington, D.C.



