The influence of Catholicism on the spiritual life of the K’Ho people in Gia Hiep, Lam Dong province
TS. Phan Văn Bông
Khoa Sư phạm Trường Đại học Đà Lạt
Email: bongpv@dlu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Công giáo có vị trí đáng kể trong đời sống tín ngưỡng, tinh thần của một bộ phận người Cơ Ho tại xã Gia Hiệp, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình tiếp nhận và thực hành Công giáo không chỉ làm thay đổi trọng tâm niềm tin, phương thức thực hành nghi lễ mà còn tác động đến đời sống gia đình, quan hệ cộng đồng và cách thức duy trì một số giá trị văn hóa dân tộc. Trong quá trình đó, những giá trị của Công giáo, như: yêu thương, sẻ chia, trách nhiệm, tương trợ cộng đồng có sự gặp gỡ với nhiều chuẩn mực truyền thống của người Cơ Ho; đồng thời, sự thu hẹp của một số nghi lễ tín ngưỡng truyền thống cũng đặt ra yêu cầu tạo lập những không gian mới để bảo tồn tiếng nói, âm nhạc, phong tục và tri thức bản địa. Bài viết phân tích những ảnh hưởng chủ yếu của Công giáo đến tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người Cơ Ho theo đạo ở Gia Hiệp; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy các giá trị tích cực của tôn giáo gắn với bảo tồn văn hóa và nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở.
Từ khóa: Công giáo; người Cơ Ho; tín ngưỡng; đời sống tinh thần; văn hóa tộc người; Gia Hiệp; Lâm Đồng.
Abstract: Catholicism plays a significant role in the religious and spiritual lives of a segment of the Co Ho people in Gia Hiep Commune, Lam Dong Province. The process of embracing and practicing Catholicism has not only shifted the focus of their beliefs and the way they perform rituals but has also influenced family life, community relationships, and the ways in which certain ethnic cultural values are preserved. In this process, Catholic values—such as love, sharing, responsibility, and community support—have intersected with many traditional norms of the Co Ho people; at the same time, the decline of certain traditional religious rituals has created a need to establish new spaces for preserving indigenous language, music, customs, and knowledge. This article analyzes the primary influences of Catholicism on the religious beliefs and spiritual lives of practicing Co Ho people in Gia Hiep; based on this analysis, it proposes several solutions aimed at promoting the positive values of religion in conjunction with cultural preservation and improving the effectiveness of grassroots management.
Keywords: Catholicism; Co Ho people; religious beliefs; spiritual life; ethnic culture; Gia Hiep; Lam Dong.
1. Đặt vấn đề
Tín ngưỡng và đời sống tinh thần giữ vị trí quan trọng trong văn hóa của người Cơ Ho. Những quan niệm về thần linh, nghi lễ gắn với mùa vụ và các mốc đời người vừa thể hiện cách ứng xử với tự nhiên, vừa góp phần gắn kết gia đình, dòng họ và cộng đồng. Cùng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội và quá trình tiếp nhận các tôn giáo, đời sống tín ngưỡng của người Cơ Ho có nhiều chuyển biến. Trong đó, ảnh hưởng của Công giáo thể hiện qua sự điều chỉnh niềm tin, cách thực hành nghi lễ, giáo dục gia đình và các quan hệ tương trợ.
Đối với người Cơ Ho theo Công giáo ở Gia Hiệp, đức tin được thể hiện trong cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và sinh hoạt giáo xứ. Nhà thờ là nơi người dân tìm kiếm sự nâng đỡ tinh thần, gặp gỡ và chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Các giá trị yêu thương, tha thứ và trách nhiệm được nhấn mạnh trong giáo dục con cái và ứng xử giữa các thành viên trong gia đình. Đồng thời, tiếng nói, tình cảm họ hàng và sự gắn bó với cộng đồng dân tộc vẫn có vị trí trong đời sống của giáo dân.
Ảnh hưởng của Công giáo vì vậy cần được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa biến đổi tôn giáo và sự tiếp nối văn hóa Cơ Ho. Một số nghi lễ truyền thống ít được thực hành hơn, nhưng nhu cầu tìm kiếm bình an, tưởng nhớ nguồn cội và duy trì quan hệ cộng đồng vẫn tồn tại. Việc phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo cần gắn với điều kiện để người dân gìn giữ văn hóa, chủ động lựa chọn cách thực hành phù hợp và tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương.
2. Khái quát về người Cơ Ho và Công giáo ở Gia Hiệp
2.1. Nền tảng tín ngưỡng và văn hóa của người Cơ Ho
Tín ngưỡng truyền thống của người Cơ Ho hình thành trong mối quan hệ mật thiết với tự nhiên và đời sống cộng đồng. Quan niệm về các Yang gắn với cách lý giải mùa màng, sức khỏe và những biến cố của con người; các nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ vòng đời thể hiện mong muốn được che chở, có cuộc sống bình an. Trong không gian ấy, gia đình, dòng họ và bòn vừa là môi trường thực hành tín ngưỡng, vừa gìn giữ những quy tắc ứng xử giữa các thành viên. Bởi vậy, ý nghĩa của nghi lễ vượt ra ngoài việc thờ cúng, bao hàm cả trách nhiệm với người thân, sự chia sẻ và gắn bó cộng đồng (Lê Minh Quang, 2011).
Tiếng nói, âm nhạc, phong tục và ký ức về nguồn cội được trao truyền thông qua chính những sinh hoạt đó. Một cuộc lễ có thể đồng thời là dịp để các thế hệ gặp gỡ, người trẻ tiếp nhận tri thức từ người cao tuổi và các gia đình củng cố quan hệ. Đặc điểm này khiến biến đổi tín ngưỡng thường kéo theo sự điều chỉnh trong cách tổ chức đời sống văn hóa. Khi thực hành tôn giáo thay đổi, vấn đề đặt ra là những giá trị nào tiếp tục được duy trì, được chuyển sang hình thức biểu đạt nào và được trao truyền trong không gian nào.
Công giáo được tiếp nhận trên nền tảng văn hóa ấy. Sự hiện diện của Công giáo trong đời sống người Cơ Ho tại khu vực Di Linh cùng những hoạt động quan tâm đến ngôn ngữ và văn hóa tộc người cho thấy mối liên hệ giữa Công giáo và cộng đồng địa phương đã hình thành từ khá sớm (Lê Minh Quang, 2011). Đức tin đi vào đời sống thông qua các quan hệ gia đình, họ hàng và làng xóm, đồng thời tạo thêm những mối liên kết trong giáo xứ. Quá trình tiếp nhận vì thế mang cả đặc điểm của sự chuyển đổi tôn giáo và sự tiếp nối văn hóa.
2.2. Đặc điểm địa bàn và sinh hoạt Công giáo
Gia Hiệp được hình thành trên cơ sở sáp nhập xã Gia Hiệp và xã Tam Bố, có diện tích tự nhiên 324,43 km², gồm 14 thôn; chính quyền địa phương hai cấp hoạt động từ ngày 01/7/2025. Tại thời điểm thống kê tổng hợp số liệu dân số các thành phần dân tộc trên địa bàn xã Gia Hiệp 11/2025, địa bàn có 1.535 hộ dân tộc thiểu số với 6.663 người. Trong đó, người Cơ Ho chiếm tỷ lệ lớn trong cộng đồng dân tộc thiểu số của xã, với 1.255 hộ và 5.397 người, tương đương 27,3% dân số toàn xã (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025a). Quy mô địa bàn và sự đa dạng về thành phần dân cư đặt ra yêu cầu gắn chăm lo đời sống tinh thần với đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng của từng cộng đồng.
Công giáo từng bước được truyền bá vào cộng đồng cư dân tại Gia Hiệp từ giữa thế kỷ XX. Sự hiện diện của Công giáo từ khoảng năm 1955 tại giáo xứ Phú Hiệp (Giáo hạt Di Linh, 2026). Tháng 10/2025, toàn xã có 11.831 tín đồ Công giáo trong tổng số 14.040 tín đồ thuộc bốn tôn giáo; các cơ sở Công giáo gồm ba nhà thờ Tam Bố, Phú Hiệp, Gia Lành và bốn nhà dòng (Đảng uỷ xã Gia Hiệp, 2025a); người Cơ Ho theo Công giáo chiếm khoảng 96% (Biện Duy Thông, 2026). Đối với người Cơ Ho theo đạo, giáo xứ là không gian thực hành đức tin, gặp gỡ và duy trì quan hệ cộng đoàn bên cạnh sinh hoạt gia đình, dòng họ và thôn.
Đời sống tôn giáo diễn ra trong bối cảnh kinh tế, giáo dục và văn hóa địa phương có nhiều chuyển biến. Thu nhập bình quân tại các thôn người dân tộc thiểu số tăng từ 38 triệu đồng/người/năm năm 2021 lên 50 triệu đồng năm 2024, song một số nhà văn hóa thôn còn thiếu cơ sở vật chất (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025a). Điều kiện sống được cải thiện tạo thêm khả năng chăm lo nhu cầu tinh thần; trong khi hạn chế về thiết chế văn hóa khiến việc duy trì các sinh hoạt chung vẫn cần được quan tâm. Đây cũng là cơ sở để xem xét vai trò của giáo xứ trong quan hệ với những không gian văn hóa khác của cộng đồng.
3. Ảnh hưởng của Công giáo đến tín ngưỡng và đời sống tinh thần người Cơ Ho theo Công giáo ở Gia Hiệp
Thứ nhất, chuyển đổi trọng tâm niềm tin và cách đáp ứng nhu cầu tâm linh.
Ảnh hưởng trực tiếp của Công giáo thể hiện ở việc niềm tin vào Thiên Chúa trở thành điểm quy chiếu trong đời sống tôn giáo của giáo dân Cơ Ho. Qua khảo sát và phỏng vấn tại địa bàn cho thấy, ở những gia đình Cơ Ho duy trì đời sống Công giáo thường xuyên, cách nhìn nhận về bệnh tật, mùa màng và những biến cố trong cuộc sống đã có những thay đổi đáng kể. Một số nghi lễ cúng trước đây được thực hành khi gia đình gặp đau ốm, mất mát hoặc bất trắc dần thu hẹp; thay vào đó, cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và tìm kiếm sự nâng đỡ từ cộng đoàn trở thành những cách thức phổ biến hơn để đáp ứng nhu cầu tâm linh.
Nhu cầu được bình an, được che chở và có nơi gửi gắm hy vọng vẫn được duy trì, nhưng được thể hiện bằng những thực hành gắn với đức tin Công giáo. Cầu nguyện giúp giáo dân bày tỏ lo âu; gặp gỡ linh mục và người cùng đạo tạo cơ hội được lắng nghe, động viên. Trong mối liên hệ đó, niềm tin tôn giáo gắn với sự hỗ trợ giữa người với người, qua đó giúp sinh hoạt Công giáo đi sâu hơn vào đời sống thường ngày.
Tuy nhiên, sự chuyển đổi niềm tin không xóa bỏ ngay ký ức về tín ngưỡng tộc người. Phỏng vấn tại địa bàn cho thấy, trong khi Thiên Chúa trở thành trung tâm của đời sống đức tin, một bộ phận người Cơ Ho vẫn nhắc đến các Yang gắn với lúa, rừng và tự nhiên như những biểu tượng quen thuộc trong ký ức văn hóa của cộng đồng. Điều này cho thấy, cần phân biệt giữa việc tiếp tục thực hành một nghi lễ tín ngưỡng với việc bảo lưu ký ức, tri thức và tình cảm văn hóa gắn với nghi lễ đó. Ảnh hưởng của Công giáo vì vậy có những mức độ và biểu hiện khác nhau giữa các gia đình, tùy thuộc vào quá trình theo đạo và sự gắn bó với phong tục truyền thống.
Thứ hai, điều chỉnh nghi lễ và nhịp sinh hoạt gia đình, cộng đồng.
Sự thay đổi đối tượng niềm tin dẫn đến những điều chỉnh trong thực hành nghi lễ. Ở các gia đình Cơ Ho theo Công giáo, cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, nghi thức hôn phối và tang lễ Công giáo có vị trí rõ hơn; một số lễ cúng gắn với mùa vụ và các mốc đời người giảm hoặc thay đổi cách tổ chức. Những sự kiện quan trọng của gia đình vì thế được gắn thêm với lịch sinh hoạt và sự tham gia của cộng đoàn giáo xứ. Thực tiễn sự thay đổi này không đồng nghĩa với việc quan hệ dòng họ và cộng đồng truyền thống bị thay thế. Gia đình vẫn duy trì sự giúp đỡ của người thân, họ hàng và láng giềng trong chuẩn bị, chăm sóc, đón tiếp khi có việc lớn; trong khi giáo xứ bổ sung thêm sự đồng hành về đức tin và một mạng lưới hỗ trợ rộng hơn. Cách tổ chức mới phản ánh sự đan xen giữa nếp sống Công giáo với truyền thống gắn bó của người Cơ Ho. Mặt khác, các nghi lễ truyền thống vốn chứa đựng âm nhạc, lời kể, tri thức sản xuất và ký ức về cộng đồng. Khi nghi lễ ít được tổ chức, cơ hội thực hành những yếu tố văn hóa đi kèm cũng có thể thu hẹp. Bảo tồn giá trị văn hóa, vì vậy cần chú ý tìm kiếm những không gian trao truyền phù hợp, nhất là đối với thế hệ trẻ. Việc nhận diện biến đổi cũng cần tính đến thay đổi sinh kế và điều kiện tổ chức đời sống, bởi phong tục chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố xã hội.
Thứ ba, tạo chỗ dựa tinh thần trước khó khăn và biến cố.
Đối với người Cơ Ho theo Công giáo, ý nghĩa của đức tin còn nằm ở khả năng nâng đỡ con người khi đối diện với những điều vượt quá khả năng tự giải quyết. Những trao đổi với giáo dân và người làm công tác tôn giáo tại Gia Hiệp cũng cho thấy, nhà thờ đối với nhiều gia đình không chỉ là nơi cử hành nghi lễ mà còn là không gian để chia sẻ những khó khăn trong đời sống. Khi có người đau ốm, mất mát hoặc gặp biến cố, việc cầu nguyện thường đi cùng với sự thăm hỏi, động viên và hỗ trợ của những người trong cộng đoàn. Chính sự kết hợp giữa niềm tin và quan hệ xã hội làm cho đời sống Công giáo trở thành một trong những điểm tựa tinh thần của một bộ phận người Cơ Ho tại địa phương.
Chỗ dựa ấy được hình thành từ cả niềm tin và quan hệ xã hội. Việc đến nhà thờ, tham gia sinh hoạt giáo xứ tạo điều kiện để những lo lắng riêng được bày tỏ trong một môi trường quen thuộc. Qua gặp gỡ, các thành viên có thể biết đến hoàn cảnh của nhau và duy trì sự động viên ngoài thời gian cử hành nghi lễ. Vì vậy, giá trị tinh thần của sinh hoạt Công giáo cần được xem xét trong sự gắn bó giữa thực hành đức tin với sự chăm sóc, hỗ trợ cụ thể của cộng đoàn.
Nhu cầu nâng đỡ càng đáng quan tâm đối với những gia đình còn nhiều khó khăn về đời sống. Tại thời điểm sơ kết công tác dân tộc năm 2025, nhóm dân tộc thiểu số trên địa bàn còn 25 hộ nghèo và 47 hộ cận nghèo (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025b). Trong bối cảnh đó, hỗ trợ vật chất và động viên tinh thần cần được kết hợp để người dân có thêm điều kiện ổn định cuộc sống. Các quan hệ tương trợ trong giáo xứ có thể bổ sung nguồn hỗ trợ gần gũi, nhất là khi một gia đình gặp biến cố đột xuất.
Thứ tư, góp phần củng cố đạo đức và trách nhiệm gia đình.
Các giá trị yêu thương, tha thứ, chia sẻ và trách nhiệm được nhấn mạnh trong giáo dục Công giáo có nhiều điểm tương đồng với truyền thống gắn bó họ hàng, kính trọng người cao tuổi và giúp đỡ lẫn nhau của người Cơ Ho (Phạm Huy Thông, 2026). Sự gặp gỡ này tạo điều kiện để giáo dục đức tin gắn với cách ứng xử trong gia đình. Lời dạy tôn giáo trở nên gần gũi khi được thể hiện qua sự quan tâm giữa cha mẹ và con cái, ý thức chăm sóc người thân và trách nhiệm đối với việc chung.
Tư liệu phỏng vấn tại địa bàn phản ánh khá rõ sự đan xen giữa giáo dục đức tin và giáo dục văn hóa tộc người trong gia đình Cơ Ho theo Công giáo. Con cái được nhắc nhở về tình yêu thương, sự tha thứ, sẻ chia và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng; đồng thời vẫn được giáo dục về nguồn gốc, tiếng nói và những giá trị văn hóa của dân tộc mình. Điều đáng chú ý là hai hệ giá trị này trong nhiều gia đình không tồn tại tách biệt mà bổ sung cho nhau trong quá trình giáo dục trẻ.
Ảnh hưởng của tôn giáo đối với nhân cách cần được đặt trong mối liên hệ với gia đình, nhà trường và môi trường văn hóa. Năm học 2025 – 2026, Gia Hiệp có 10 trường học, gồm 7 trường công lập và 3 trường ngoài công lập, với 4.136 học sinh (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025b). Sự phối hợp giữa các môi trường giáo dục có ý nghĩa đối với việc duy trì học tập, rèn luyện ứng xử và hiểu biết về nguồn cội của thế hệ trẻ. Qua đó, những giá trị đạo đức tôn giáo có thể được phát huy cùng với mục tiêu giáo dục chung, trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt về niềm tin.
Thứ năm, mở rộng quan hệ tương trợ và sự tham gia vào đời sống xã hội.
Quan hệ giáo xứ bổ sung một mạng lưới liên kết bên cạnh gia đình, dòng họ và bòn. Qua các cuộc trao đổi tại địa bàn, một điểm khá thống nhất được ghi nhận là sự hình thành quan hệ trong giáo xứ không làm mất đi vai trò của dòng họ và bòn mà bổ sung thêm một mạng lưới liên kết xã hội. Người dân vẫn duy trì sự giúp đỡ giữa họ hàng, láng giềng, đồng thời mở rộng tương trợ thông qua giáo xứ, giáo họ và các nhóm sinh hoạt tôn giáo, nhất là trong những trường hợp gia đình gặp khó khăn, tổ chức cưới xin hoặc cần hỗ trợ trong sản xuất và đời sống. Đáng chú ý, sự gắn bó trong cộng đoàn có khả năng kết nối với các hoạt động chung của địa phương. Tính đến ngày 17/10/2025, toàn xã vận động được 451.652.260 đồng hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do bão số 10, với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ các tôn giáo. Cũng trong tháng 10/2025, Nhà thờ Phú Hiệp giới thiệu một thành viên hội đồng giáo xứ tham gia Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã nhiệm kỳ 2025 – 2030 (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025b). Các hoạt động này cho thấy, những kênh để cộng đồng tôn giáo tham gia vào công việc xã hội và cơ chế đại diện tại cơ sở.
Sự tham gia ấy có ý nghĩa đối với cả cộng đồng giáo dân và địa phương. Giáo dân có thêm điều kiện phản ánh nhu cầu, đóng góp nguồn lực và thực hiện trách nhiệm công dân; chính quyền và Mặt trận Tổ quốc có thêm đầu mối trao đổi, vận động sự đồng thuận. Hiệu quả gắn kết được củng cố khi các hoạt động cùng hướng đến nhu cầu của người dân, có sự tham gia tự nguyện và mở rộng sự hỗ trợ giữa các nhóm dân cư.
Thứ sáu, làm xuất hiện những cách thức tiếp nối văn hóa Cơ Ho trong đời sống Công giáo.
Tiếp nhận Công giáo và duy trì bản sắc dân tộc có thể cùng hiện diện trong đời sống của một người. Tại Gia Hiệp, tiếng nói, tình cảm họ hàng và âm nhạc vẫn có vị trí trong sinh hoạt của giáo dân Cơ Ho. Qua trao đổi thực địa, việc khuyến khích sử dụng ngôn ngữ, trang phục truyền thống trong một số buổi sinh hoạt riêng của cộng đồng, cùng với sự tìm hiểu phong tục và tiếng nói địa phương của người hoạt động tôn giáo, được ghi nhận như những yếu tố giúp môi trường tôn giáo gần gũi hơn với người dân.
Sự gần gũi về văn hóa giúp giáo dân biểu đạt đức tin trong mối liên hệ với nguồn cội. Khi tiếng mẹ đẻ có chỗ đứng trong giao tiếp và sinh hoạt chung, người dân có thêm cơ hội sử dụng ngôn ngữ của mình; khi trang phục và âm nhạc được trân trọng, người trẻ có thêm dịp tiếp xúc với các biểu đạt văn hóa dân tộc. Khả năng đối thoại giữa tổ chức tôn giáo và cộng đồng bản địa vì vậy có ý nghĩa đối với việc duy trì văn hóa trong điều kiện đời sống đang biến đổi (Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Quế Hương, 2018).
Tuy nhiên, sự xuất hiện của một yếu tố văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng chưa đủ bảo đảm khả năng trao truyền lâu dài. Việc gìn giữ cần dựa vào người am hiểu, người học và cơ hội thực hành thường xuyên. Với những giá trị từng gắn với nghi lễ truyền thống, sự thay đổi hình thức sinh hoạt càng đòi hỏi quan tâm đến nội dung và ý nghĩa được lưu giữ. Đây là yêu cầu đặt ra cho cả gia đình, cộng đồng giáo dân và cơ quan phụ trách văn hóa.
Ở Gia Hiệp, các lớp truyền dạy cồng chiêng và việc duy trì phong tục tốt đẹp trong lễ hội đã được quan tâm, song trang bị phục vụ sinh hoạt cộng đồng tại các thôn dân tộc thiểu số còn thiếu (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025c). Khó khăn này cho thấy bảo tồn cần sự phối hợp giữa nhiều không gian: gia đình duy trì tiếng nói và ký ức, thôn tổ chức sinh hoạt văn hóa, giáo xứ tạo điều kiện cho những biểu đạt phù hợp. Sự bổ trợ giữa các không gian ấy giúp mở rộng cơ hội tiếp cận văn hóa cho giáo dân Cơ Ho, đặc biệt là thế hệ trẻ.
4. Một số giải pháp
Một là, gắn giáo dục đạo đức Công giáo với xây dựng đời sống văn hóa trong gia đình và cộng đồng.
Cần khuyến khích giáo dân thực hành những giá trị yêu thương, chia sẻ và trách nhiệm bằng những công việc cụ thể trong đời sống. Các gia đình có thể gắn giáo dục đức tin với chăm sóc người thân, hỗ trợ người cao tuổi, giúp đỡ hộ gặp khó khăn và tham gia hoạt động của thôn. Giáo xứ quan tâm hướng dẫn cách ứng xử tôn trọng, biết lắng nghe và chia sẻ công việc trong gia đình, tạo môi trường để thế hệ trẻ học qua trải nghiệm.
Việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng cần dựa trên những nhu cầu thiết thực của trẻ em. Hoạt động khuyến học, hỗ trợ học sinh khó khăn, giáo dục trách nhiệm và tìm hiểu văn hóa Cơ Ho có thể tạo điểm gặp gỡ giữa các bên. Nội dung giáo dục nên giúp trẻ hiểu nguồn gốc dân tộc, biết sử dụng tiếng mẹ đẻ và tôn trọng người có niềm tin khác. Qua đó, đức tin được thực hành trong sự gắn bó với gia đình, cộng đồng và trách nhiệm công dân.
Hai là, bảo tồn văn hóa Cơ Ho trên cơ sở nhu cầu và sự tham gia của người dân.
Ủy ban nhân dân xã cần quan tâm điều kiện hoạt động của nhà văn hóa thôn, hỗ trợ truyền dạy tiếng nói, cồng chiêng, dân ca và nghề thủ công phù hợp với nhu cầu cộng đồng. Cơ quan chuyên môn về văn hóa phối hợp với người có uy tín, nghệ nhân, giáo viên và đại diện giáo dân để lựa chọn nội dung, thời gian và địa điểm tổ chức. Cần tạo cơ hội để người trẻ thường xuyên tiếp xúc với người am hiểu văn hóa, thay vì chỉ tham gia vào những dịp lễ hội.
Đối với những yếu tố văn hóa gắn với tín ngưỡng truyền thống, việc bảo tồn cần được trao đổi cụ thể với người thực hành. Có thể chú trọng lưu giữ lời kể, tri thức canh tác, âm nhạc, ý nghĩa biểu tượng và ký ức về phong tục; đồng thời tôn trọng lựa chọn của giáo dân đối với nghi lễ tôn giáo. Không nên đặt việc phục dựng lễ cúng thành điều kiện để một người được thừa nhận là gìn giữ văn hóa Cơ Ho.
Giáo xứ có thể tiếp tục tạo điều kiện cho tiếng nói, trang phục và các biểu đạt văn hóa phù hợp trong sinh hoạt cộng đồng. Sự kết nối giữa gia đình, nhà văn hóa thôn và giáo xứ giúp mở rộng cơ hội thực hành. Hiệu quả bảo tồn cần được nhìn nhận qua khả năng duy trì người dạy, người học và việc sử dụng văn hóa trong đời sống, cùng với số hoạt động được tổ chức.
Ba là, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền, tổ chức tôn giáo và người có uy tín.
Sau sáp nhập, địa bàn quản lý rộng hơn đòi hỏi việc trao đổi thông tin giữa chính quyền và cơ sở tôn giáo được duy trì thường xuyên. Cần xác định đầu mối tiếp nhận nhu cầu sinh hoạt, hướng dẫn thủ tục và phản hồi kiến nghị; đồng thời tạo điều kiện để chức sắc, chức việc và người có uy tín tham gia trao đổi về những vấn đề liên quan đến cộng đồng. Việc phối hợp nên đi vào từng công việc cụ thể, tránh hình thức và trùng lặp.
Khó khăn về nhân lực cần được giải quyết cùng với việc cải thiện phối hợp. Tình trạng cán bộ cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ đã được địa phương ghi nhận (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025a). Do đó, cần bồi dưỡng kỹ năng tiếp nhận phản ánh, giải thích thủ tục và tìm hiểu đặc điểm văn hóa, tôn giáo cho cán bộ trực tiếp làm việc với người dân. Phân công rõ trách nhiệm và duy trì phản hồi sau mỗi kiến nghị sẽ giúp việc phối hợp đi vào thực chất.
Địa phương hiện có sáu người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, 2025c), là nguồn lực cần được phát huy trong trao đổi, vận động và kết nối cộng đồng. Cùng với vai trò của đội ngũ này, cần tạo điều kiện để phụ nữ, thanh niên và những hộ ít tham gia sinh hoạt chung được trực tiếp bày tỏ nhu cầu. Sự tham gia đa dạng giúp công tác quản lý và bảo tồn phản ánh sát hơn đời sống của người dân.
Bốn là, phát huy hoạt động tương trợ gắn với chăm lo sinh kế và tiếp cận dịch vụ xã hội.
Các hoạt động bác ái, thăm hỏi và hỗ trợ của giáo xứ cần được kết nối với công tác chăm lo đời sống tại địa phương trên cơ sở tự nguyện. Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và cộng đồng giáo dân có thể phối hợp xác định những nhu cầu cấp thiết về học tập, nhà ở, việc làm và trợ giúp khi có biến cố. Việc hỗ trợ nên căn cứ hoàn cảnh thực tế, quan tâm cả người ngoài cộng đồng Công giáo và bảo đảm sự tôn trọng đối với người nhận.
Bên cạnh giúp đỡ trước mắt, cần chú ý cơ hội học nghề, tiếp cận thông tin sản xuất và duy trì việc học của trẻ em. Giáo xứ có thể tham gia động viên, kết nối người có khả năng hỗ trợ; cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân tiếp cận chương trình và dịch vụ phù hợp. Cách phối hợp này giúp sự nâng đỡ tinh thần đi cùng những điều kiện để gia đình chủ động ổn định cuộc sống. Các nguồn vận động cần được công khai về mục đích, đối tượng và kết quả sử dụng, đồng thời phối hợp thông tin để hạn chế hỗ trợ trùng lặp hoặc bỏ sót hộ khó khăn. Người dân cần được biết và tham gia góp ý về những hoạt động liên quan đến cộng đồng mình. Sự minh bạch giúp củng cố niềm tin và tạo điều kiện để hoạt động tương trợ được duy trì lâu dài.
Năm là, thường xuyên nắm bắt biến đổi tín ngưỡng và nhu cầu tinh thần của giáo dân Cơ Ho.
Công tác nắm tình hình cần quan tâm cách người dân thực hành tôn giáo, duy trì phong tục và truyền dạy văn hóa trong gia đình. Các cuộc trao đổi tại thôn và cơ sở tôn giáo có thể làm rõ nhu cầu sử dụng tiếng Cơ Ho, tham gia sinh hoạt văn hóa, tổ chức cưới tang và hỗ trợ người gặp khó khăn. Cần chú ý sự khác nhau giữa các thế hệ để lựa chọn hoạt động phù hợp, đồng thời tránh nhìn nhận cộng đồng như một nhóm có nhu cầu hoàn toàn giống nhau.
Việc nắm bắt nhu cầu cần gắn với theo dõi khả năng đáp ứng: người trẻ có điều kiện học tiếng Cơ Ho hay không, các lớp truyền dạy có duy trì được người học, các gia đình gặp biến cố có tiếp cận hỗ trợ kịp thời hay không. Trên cơ sở đó, chính quyền và cộng đồng lựa chọn nội dung cần ưu tiên, điều chỉnh cách tổ chức và sử dụng nguồn lực phù hợp. Trao đổi thường xuyên từ cơ sở cũng giúp nhận diện những khác biệt giữa các gia đình, hạn chế áp dụng một cách làm chung cho mọi nhóm giáo dân.
5. Kết luận
Công giáo tham gia định hình đời sống tín ngưỡng và tinh thần của người Cơ Ho theo đạo ở Gia Hiệp qua sự thay đổi niềm tin, nghi lễ, nếp sinh hoạt và các quan hệ hỗ trợ. Cầu nguyện và sinh hoạt giáo xứ tạo chỗ dựa tinh thần; giáo dục đức tin góp phần nhấn mạnh trách nhiệm gia đình, tinh thần chia sẻ và sự quan tâm đến người khác. Trong quá trình đó, tiếng nói, tình cảm họ hàng và những biểu đạt văn hóa Cơ Ho tiếp tục có vị trí trong đời sống giáo dân.
Phát huy ảnh hưởng tích cực của Công giáo cần đi cùng sự quan tâm đến những không gian và điều kiện trao truyền văn hóa tộc người. Sự phối hợp giữa chính quyền, giáo xứ, nhà trường, người có uy tín và gia đình có ý nghĩa thiết thực đối với việc chăm lo đời sống tinh thần, hỗ trợ người khó khăn và bảo tồn bản sắc. Tôn trọng lựa chọn tín ngưỡng, khuyến khích sự tham gia của người dân và giải quyết nhu cầu cụ thể từ cơ sở là những điều kiện để đời sống tôn giáo gắn bó với sự phát triển của cộng đồng Cơ Ho tại Gia Hiệp, tỉnh Lâm Đồng.
Tài liệu tham khảo:
Đảng ủy xã Gia Hiệp (2025). Báo cáo tình hình, công tác dân tộc, tôn giáo tháng 10, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm tháng 11 năm 2025 [Báo cáo nội bộ].
Giáo hạt Di Linh. (2026). Trăm năm hình thành và phát triển Giáo hạt Di Linh.
Lê Minh Quang (2011). Vài nét về tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng người Cơ Ho ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay. Nghiên cứu Tôn giáo, (8), 64–69.
Nguyễn Hồng Dương, & Nguyễn Thị Quế Hương (2018). Những biến đổi của Công giáo ảnh hưởng đến phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu Tôn giáo, (8), 57–83.
Phạm Huy Thông (2016). Ảnh hưởng từ Công giáo đến lối sống của người Việt. Công tác Tôn giáo, (1+2), 75–79.
Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp (2025a). Báo cáo sơ kết tình hình triển khai Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021–2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Báo cáo tháng 9/2025.
Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp (2025b). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng năm 2025 và chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội năm 2026. Báo cáo, số liệu tính đến ngày 14/11/2025.
Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp (2025c). Thống kê tổng hợp số liệu dân số các thành phần dân tộc trên địa bàn xã Gia Hiệp. Tài liệu thống kê nội bộ.



