Truyền thông số và năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội trong quản trị phát triển

Digital communication and the capacity to build social consensus in developmental governance

ThS. Nguyễn Trung Hoàng Nam
Công ty cổ phần phần đầu tư Đầu tư xây lắp và kinh doanh Hà Nội
Email: nathannguyentrung@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Khi không gian số trở thành môi trường chủ yếu hình thành dư luận, năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội trở thành một cấu phần của năng lực quản trị quốc gia. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất định hướng nâng cao năng lực này thông qua truyền thông số trong quản trị phát triển ở Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích tài liệu, phân tích chính sách giai đoạn 2022 – 2026, phân tích dữ liệu thứ cấp và so sánh quốc tế, bài viết xây dựng khung phân tích bốn trụ cột: minh bạch hóa thông tin, lắng nghe xã hội, đối thoại – giải trình và bảo vệ liêm chính thông tin. Kết quả cho thấy Việt Nam đã có nền tảng chính trị – pháp lý và hạ tầng số thuận lợi, song còn năm điểm nghẽn: chu trình phản hồi chính sách chưa khép kín, tham gia điện tử chậm hơn dịch vụ điện tử, độ trễ của thông tin chính thống, ô nhiễm hệ sinh thái thông tin và khoảng cách số. Điểm mới của bài viết là tiếp cận đồng thuận xã hội như một năng lực nhà nước có thể đo lường, từ đó đề xuất luật hóa chu trình phản hồi chính sách, thiết lập nền tảng tham vấn quốc gia và bộ chỉ số đồng thuận xã hội.

Từ khóa: Truyền thông số; đồng thuận xã hội; quản trị phát triển; năng lực nhà nước; liêm chính thông tin.

Abstract: As the digital space becomes the primary arena in which public opinion is formed, the capacity to build social consensus has become a component of national governance capacity. This article clarifies the theoretical foundations, assesses the current situation and proposes directions for strengthening this capacity through digital communication in Viet Nam’s developmental governance. Using document analysis, policy analysis of Party documents and legal instruments issued in 2022 – 2026, secondary data analysis and international comparison, the article develops a four-pillar analytical framework: information transparency, social listening, dialogue and accountability, and protection of information integrity. The findings show that Viet Nam has a favourable political-legal foundation and digital infrastructure, as demonstrated by the 2025 nationwide consultation on constitutional amendments; however, five bottlenecks persist: an incomplete policy feedback loop, e-participation lagging behind e-services, delays in official information, a polluted information ecosystem and the digital divide. The novelty of the article lies in treating social consensus as a measurable state capacity, on which basis it recommends institutionalising a policy feedback loop, establishing a national consultation platform and developing a social consensus index.

Keywords: Digital communication; social consensus; developmental governance; state capacity; information integrity.

1. Đặt vấn đề

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, sự đồng lòng của Nhân dân luôn là nguồn sức mạnh quyết định thành bại của mọi chủ trương lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 234). Kế thừa tư tưởng đó, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ “tăng cường đồng thuận xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021); Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục khẳng định “Dân là gốc, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Trước hàng loạt quyết sách chưa có tiền lệ của giai đoạn phát triển mới, yêu cầu này càng cấp thiết: chính sách đúng nhưng thiếu đồng thuận dễ bị trì hoãn, biến dạng hoặc phải trả giá đắt khi thực thi.

Cùng lúc đó, môi trường hình thành đồng thuận đã thay đổi căn bản. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng Internet, tương đương 84,2% dân số, và khoảng 79 triệu định danh người dùng mạng xã hội (Tô Lâm, 2026). Dư luận xã hội ngày nay hình thành qua những dòng chảy thông tin đa chiều, tức thời, được cá nhân hóa bởi thuật toán của các nền tảng xuyên biên giới. Không gian số vừa mở ra khả năng chưa từng có cho sự tham gia của Nhân dân – minh chứng là hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 2025 (Đỗ Bình, 2025) – vừa đặt ra thách thức mới: chỉ trong sáu tháng đầu năm 2026, hơn 117.000 nội dung trên mạng xã hội đã bị chặn gỡ (Quang Nam, 2026). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảnh báo: “Tình trạng phát ngôn bị cắt ghép có thể làm tổn hại uy tín cá nhân, tổ chức, thậm chí ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước” (Tô Lâm, 2026).

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Các nghiên cứu về quan hệ giữa truyền thông và đồng thuận xã hội có thể khái quát theo ba hướng.

Hướng thứ nhất, lý thuyết giao tiếp và dân chủ thảo luận. Habermas (1984) cho rằng, tính chính đáng của trật tự xã hội dựa trên “hành động giao tiếp”, trong đó các chủ thể đạt tới hiểu biết chung bằng lập luận thay vì cưỡng chế; không gian công cộng là nơi dư luận được hình thành một cách lý tính (Habermas, 1989). Fishkin (2009) chỉ ra chất lượng ý kiến công chúng phụ thuộc vào việc người dân được thông tin đầy đủ và có cơ hội thảo luận. Rawls (1993) đưa ra khái niệm “đồng thuận chồng lấn”: một xã hội đa dạng vẫn có thể thống nhất về các giá trị nền tảng dù khác biệt về quan điểm cụ thể.

Hướng thứ hai, nghiên cứu sự biến đổi quyền lực truyền thông trong kỷ nguyên số. Castells (2009) chỉ ra sự xuất hiện của “tự truyền thông đại chúng”, khi mỗi cá nhân vừa là người nhận vừa là người phát tán thông tin tới số đông. Chadwick (2017) mô tả “hệ thống truyền thông lai”, nơi logic của báo chí và mạng xã hội đan xen, cạnh tranh định hình chương trình nghị sự. Ở chiều rủi ro, Wardle và Derakhshan (2017) xây dựng khung “rối loạn thông tin”; lý thuyết “vòng xoáy im lặng” của Noelle-Neumann (1974) giải thích cơ chế khiến tiếng nói ôn hòa bị lấn át khi cá nhân cảm nhận mình thuộc thiểu số.

Hướng thứ ba, gắn truyền thông với năng lực nhà nước. Grunig và Hunt (1984) xác lập mô hình truyền thông “đối xứng hai chiều”; Canel và Luoma-aho (2019) coi mục tiêu của truyền thông khu vực công là thu hẹp khoảng cách giữa công dân và tổ chức công; Bertot và cộng sự (2010) chứng minh mạng xã hội có thể trở thành công cụ minh bạch hóa. Ở tầng vĩ mô, Mann (1984) đưa ra khái niệm “quyền lực hạ tầng” – khả năng nhà nước thâm nhập và phối hợp hành động xã hội; Evans (1995) chỉ ra nhà nước kiến tạo phát triển thành công khi vừa tự chủ, vừa “gắn kết” với các lực lượng xã hội; Ansell và Gash (2008) coi niềm tin và đối thoại là điều kiện của quản trị hợp tác. Gần đây, OECD (202, 2026) coi liêm chính thông tin là một trụ cột của niềm tin vào thể chế công.

Ở Việt Nam, Lưu Thị Thu Phương (2023) phân tích ưu thế của mạng xã hội trong định hướng dư luận; Dương Hoa Lê (2026) chỉ ra truyền thông chính sách còn nặng tính hành chính, thiếu tương tác; Phạm Thanh Tâm và Nguyễn Bích Huệ (2026) làm rõ khoảng cách số về hạ tầng và kỹ năng; Nguyễn Ngọc Thái (2026) khẳng định truyền thông chính sách là nhân tố quyết định kiến tạo đồng thuận. Tuy vậy, chưa có khung phân tích tích hợp xem năng lực kiến tạo đồng thuận như một năng lực nhà nước với các cấu phần có thể đo lường. Đây là khoảng trống bài viết hướng tới.

2.2. Các khái niệm cơ bản

Truyền thông số là quá trình sản xuất, phân phối, tiếp nhận và tương tác thông tin trên nền tảng số, có đặc trưng đa chiều, tức thời, được cá nhân hóa bởi thuật toán. Đồng thuận xã hội là trạng thái thống nhất tương đối về nhận thức, thái độ và hành động giữa các chủ thể xã hội đối với những mục tiêu, giá trị và chủ trương chung; nó không đồng nghĩa với đồng nhất tuyệt đối mà chấp nhận khác biệt về lợi ích cụ thể trên cơ sở thống nhất về mục tiêu nền tảng. Cần phân biệt đồng thuận thụ động – sự chấp thuận chủ yếu dựa trên huy động – với đồng thuận phản tư – sự ủng hộ dựa trên hiểu biết, hình thành qua thông tin minh bạch, đối thoại và cảm nhận rằng ý kiến của mình được lắng nghe. Chỉ đồng thuận phản tư mới bền vững trước tác động của thông tin sai lệch.

Quản trị phát triển là phương thức quản trị trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt phát triển thông qua hoạch định tầm nhìn, huy động nguồn lực và điều phối các chủ thể xã hội; do đòi hỏi những thay đổi cấu trúc với chi phí điều chỉnh lớn, nó phụ thuộc rất lớn vào mức độ đồng thuận xã hội.

Trên cơ sở đó, năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội là khả năng của hệ thống chính trị, trực tiếp là Nhà nước, trong việc sử dụng các thiết chế, công cụ và nguồn lực truyền thông để hình thành, duy trì và tái tạo sự thống nhất có cơ sở hiểu biết giữa Nhà nước và các chủ thể xã hội đối với mục tiêu, chính sách phát triển. Đây là một dạng “quyền lực hạ tầng” (Mann, 1984) trong không gian thông tin: dựa trên khả năng làm cho chính sách được hiểu, được tin và được ủng hộ.

2.3. Khung phân tích

Bài viết đề xuất khung phân tích gồm bốn trụ cột năng lực (Bảng 1), vận hành như một chu trình khép kín: thông tin minh bạch tạo điều kiện cho sự tham gia có hiểu biết; lắng nghe tạo đầu vào cho chính sách; đối thoại – giải trình chứng minh ý kiến của người dân có giá trị thực; bảo vệ liêm chính thông tin giữ cho chu trình không bị nhiễu loạn. Theo logic “mắt xích yếu nhất”, năng lực kiến tạo đồng thuận bị giới hạn bởi trụ cột yếu nhất.

Bảng 1. Khung phân tích năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội trong môi trường truyền thông số

Trụ cột năng lựcNội hàmChỉ báo đánh giá chủ yếuCơ sở lý thuyết
1. Minh bạch hóa thông tinCung cấp thông tin chính xác, kịp thời, dễ hiểu về chính sáchThời gian phản hồi; phạm vi công khai; mức độ dễ hiểuBertot và cộng sự (2010); Canel và Luoma-aho (2019)
2. Lắng nghe xã hộiThu nhận, phân tích ý kiến và tâm trạng xã hội trên các kênh sốQuy mô, tính đại diện của kênh tham vấnHabermas (1989); Fishkin (2009)
3. Đối thoại – giải trìnhPhản hồi, giải thích việc tiếp thu hay không tiếp thu ý kiếnTỷ lệ ý kiến được phản hồi; báo cáo giải trình công khaiGrunig và Hunt (1984); Ansell và Gash (2008)
4. Bảo vệ liêm chính thông tinPhòng, chống thông tin sai lệch; nâng cao năng lực thông tin của người dânTốc độ xử lý thông tin sai lệch; mức độ năng lực số, năng lực truyền thôngWardle và Derakhshan (2017); OECD (2024a)

2.4. Phương pháp nghiên cứu

Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, bài viết phân tích tài liệu đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng và các công trình nghiên cứu trong, ngoài nước; phân tích chính sách đối với văn bản pháp luật giai đoạn 2022 – 2026, kể cả văn bản mới có hiệu lực trong năm 2026; phân tích dữ liệu thứ cấp từ nguồn chính thức của cơ quan nhà nước, Liên Hợp quốc và OECD; so sánh quốc tế có chọn lọc với Singapore, Estonia, Phần Lan và Liên minh châu Âu. Do chưa sử dụng dữ liệu điều tra sơ cấp, các nhận định về mức độ đồng thuận chủ yếu dựa trên chỉ báo gián tiếp.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Cơ sở chính trị – pháp lý

Về cơ sở chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận đặt nền móng cho quan niệm đồng thuận dựa trên lợi ích và quyền làm chủ của Nhân dân: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 232). Đại hội XIII của Đảng bổ sung phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021) – có thể xem là một chu trình đồng thuận hoàn chỉnh, từ thông tin, thảo luận đến giám sát và thụ hưởng. Đại hội XIV xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026); Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 30/3/2026 của Bộ Chính trị đề ra 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, truyền thông trên không gian mạng (Bộ Chính trị, 2026).

Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp năm 2013 bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 25) và quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước (Điều 28) (Quốc hội, 2013). Trên nền tảng đó, pháp luật giai đoạn 2022 – 2026 đã hình thành tương đối đồng bộ:

(1) Minh bạch hóa: Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 (hiệu lực từ ngày 01/9/2026) mở rộng nghĩa vụ công khai sang đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ thiết yếu và đa dạng hóa hình thức công khai trên môi trường số (Quốc hội, 2026); Nghị định số 244/2026/NĐ-CP yêu cầu cung cấp thông tin ban đầu chậm nhất 24 giờ đối với vụ việc gây tác động lớn trong xã hội hoặc có ý kiến trái chiều, đồng thời buộc công bố tài khoản mạng xã hội chính thức của cơ quan (Chính phủ, 2026).

(2) Lắng nghe và đối thoại: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 cụ thể hóa những nội dung người dân được bàn, quyết định và tham gia ý kiến (Quốc hội, 2022); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15, tiếp tục yêu cầu lấy ý kiến đối tượng chịu tác động; Quyết định số 407/QĐ-TTg phê duyệt Đề án truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội.

(3) Liêm chính thông tin: Luật Báo chí năm 2025, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và Nghị định số 142/2026/NĐ-CP (quy định gắn nhãn nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra) tạo lập khung pháp lý cho môi trường thông tin an toàn hơn; Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập quyền con người, quyền công dân trên môi trường số (Điều 41) và nhiệm vụ thu hẹp khoảng cách số (Điều 42).

Đánh giá tổng thể, khung thể chế đã cơ bản đầy đủ ở chiều cung cấp thông tin từ Nhà nước tới xã hội, nhưng chưa cân xứng ở chiều phản hồi của Nhà nước đối với ý kiến xã hội: việc tiếp thu, giải trình chủ yếu dừng ở báo cáo tổng hợp theo nhóm vấn đề, chưa có chuẩn thống nhất cho phép người góp ý tra cứu ý kiến của mình được xử lý ra sao; các kênh ngoài quy trình xây dựng pháp luật càng thiếu cơ chế này.

3.2. Thực trạng vấn đề

Thứ nhất, hạ tầng số cho đồng thuận đã hình thành ở quy mô quốc gia. Ứng dụng VNeID có hơn 102,1 triệu hồ sơ định danh và 71,5 triệu tài khoản đã kích hoạt (Đỗ Trung, 2026); nền tảng trong nước Zalo có khoảng 78,3 triệu người dùng hằng tháng (DataReportal, 2025). Theo khảo sát Chính phủ điện tử năm 2024 của Liên hợp quốc, Việt Nam tăng 15 bậc, xếp thứ 71/193 với chỉ số phát triển chính phủ điện tử 0,7709, thuộc nhóm “rất cao” (United Nations, 2024).

Thứ hai, tham vấn số quy mô toàn dân đã được kiểm chứng. Đợt lấy ý kiến Nhân dân năm 2025 về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 thu hút hơn 280 triệu lượt ý kiến, trong đó hơn 20 triệu người tham gia qua VNeID; tỷ lệ tán thành trung bình đạt 99,75% (Đỗ Bình, 2025). Ngày 16/6/2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15. Lần đầu tiên một nền tảng định danh số quốc gia được dùng để tham vấn về văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, chứng minh “quyền lực hạ tầng” thông tin của Nhà nước đủ sức tổ chức sự tham gia của hàng chục triệu người trong thời gian ngắn.

Thứ ba, năng lực quản trị nền tảng được tăng cường. Trong sáu tháng đầu năm 2026, hơn 117.000 nội dung vi phạm bị chặn gỡ; tỷ lệ đáp ứng yêu cầu chặn gỡ của các nền tảng xuyên biên giới đạt trên 94%; thời gian xử lý của một số nền tảng rút ngắn từ khoảng 24 giờ xuống 3 – 12 giờ (Quang Nam, 2026).

3.3. Những điểm nghẽn cốt lõi

Đối chiếu với khung phân tích, có thể nhận diện năm điểm nghẽn cốt lõi.

Điểm nghẽn thứ nhất, chu trình phản hồi chính sách chưa khép kín. Trụ cột đối thoại – giải trình đang là mắt xích yếu nhất. Khi góp ý không nhận được phản hồi, tham vấn có nguy cơ bị hình thức hóa, dẫn tới tâm lý “mệt mỏi tham vấn” và làm suy giảm chính nguồn vốn niềm tin mà tham vấn muốn tạo lập. Tỷ lệ tán thành rất cao phản ánh năng lực huy động và sự thống nhất về định hướng lớn; nhưng để đo chiều sâu của đồng thuận phản tư, cần thêm các chỉ báo về chất lượng tiếp thu, giải trình mà hệ thống đánh giá hiện nay chưa có.

Điểm nghẽn thứ hai, tham gia điện tử phát triển chậm hơn dịch vụ điện tử. Năm 2024, trong khi chỉ số phát triển chính phủ điện tử của Việt Nam tăng 15 bậc, chỉ số tham gia điện tử chỉ đạt 0,6027 và giữ nguyên thứ hạng 72 như năm 2022 (United Nations, 2024). Chuyển đổi số khu vực công đang tập trung vào cung ứng dịch vụ hành chính, trong khi chức năng tham vấn, đối thoại chưa tương xứng; truyền thông chính sách ở nhiều lĩnh vực vẫn nặng tính hành chính, thiếu tương tác (Dương Hoa Lê, 2026), tức là vẫn vận hành theo mô hình một chiều mà Grunig và Hunt (1984) chỉ ra là kém hiệu quả trong tạo dựng hiểu biết chung.

Điểm nghẽn thứ ba, độ trễ của thông tin chính thống và “khoảng trống thông tin”. Mốc 24 giờ của Nghị định số 244/2026/NĐ-CP là bước tiến về thể chế, nhưng trên mạng xã hội, một thông tin có thể lan tới hàng triệu người chỉ trong vài giờ. Khoảng trống trước khi có thông tin chính thức là môi trường thuận lợi cho tin đồn và thông tin sai lệch (Wardle & Derakhshan, 2017); khi đến muộn, thông tin chính thống không còn “định hình” mà buộc phải “đính chính”, trong khi theo cơ chế “vòng xoáy im lặng” (Noelle-Neumann, 1974), những tiếng nói ôn hòa ngại lên tiếng trước luồng dư luận tiêu cực đã kịp hình thành.

Điểm nghẽn thứ tư, ô nhiễm hệ sinh thái thông tin và sự phụ thuộc vào nền tảng xuyên biên giới. Cuối năm 2025, Facebook có khoảng 79,0 triệu người dùng, TikTok khoảng 76,1 triệu người dùng từ 18 tuổi trở lên, YouTube khoảng 62,1 triệu người dùng tại Việt Nam (DataReportal, 2025). Thuật toán phân phối của các nền tảng này thường ưu tiên nội dung gây cảm xúc mạnh, dễ tạo “buồng vang” và phân mảnh dư luận. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh làm xuất hiện các dạng thông tin sai lệch tinh vi hơn: sáu tháng đầu năm 2026, Trung tâm Xử lý tin giả Việt Nam tiếp nhận 1.287 phản ánh, tập trung vào nội dung lừa đảo, nội dung sai lệch do trí tuệ nhân tạo tạo ra và cờ bạc trực tuyến (Quang Nam, 2026). Chặn gỡ, dù cần thiết, chỉ là giải pháp “hạ nguồn”; thiếu năng lực “thượng nguồn” – thông tin chính thống hấp dẫn, đáng tin cậy và người dân có năng lực thông tin – thì sẽ luôn ở thế bị động.

Điểm nghẽn thứ năm, khoảng cách số làm suy giảm tính đại diện của đồng thuận số. Lao động có kỹ năng số cao mới chiếm khoảng 11% lực lượng lao động; chênh lệch thành thị – nông thôn về hạ tầng, thu nhập và kỹ năng còn đáng kể (Phạm Thanh Tâm & Nguyễn Bích Huệ, 2026). Khoảng cách giữa 102,1 triệu hồ sơ định danh và 71,5 triệu tài khoản VNeID đã kích hoạt (Đỗ Trung, 2026), dù có nhiều nguyên nhân, cũng gợi ý một bộ phận dân cư chưa hiện diện trên kênh tham vấn số. Nếu không được bù đắp, “đồng thuận số” có thể không trùng khớp với đồng thuận của toàn xã hội.

Các điểm nghẽn trên không phải là đặc thù riêng của Việt Nam. Khảo sát năm 2025 của OECD tại 38 quốc gia cho thấy mức tin tưởng vào chính phủ quốc gia chỉ ổn định quanh 40%, trong khi 43% người được hỏi có mức tin tưởng thấp hoặc không tin tưởng (OECD, 2026). Đồng thuận đang trở thành “nguồn lực khan hiếm” của mọi nền quản trị; điều đó càng khẳng định giá trị của nền tảng chính trị – xã hội ổn định ở Việt Nam, đồng thời đòi hỏi chủ động củng cố nền tảng ấy bằng năng lực mới.

3.4. Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo

Mỗi mô hình quốc tế tiêu biểu nổi trội ở một trụ cột năng lực (Bảng 2). Singapore thể chế hóa chức năng lắng nghe từ rất sớm: Đơn vị Phản hồi (Feedback Unit) thành lập năm 1985, được tái cấu trúc thành REACH năm 2006, giữ vai trò đầu mối của toàn Chính phủ trong gắn kết công dân (REACH, n.d.); chương trình Forward Singapore gắn kết hơn 200.000 người dân qua 275 hoạt động đối thoại, hợp tác trong 16 tháng trước khi công bố lộ trình chính sách ngày 27/10/2023 (Forward Singapore, 2023). Estonia nổi bật ở trụ cột đối thoại – giải trình: cổng sáng kiến công dân Rahvaalgatus.ee vận hành từ năm 2016, đề xuất đạt ít nhất 1.000 chữ ký sẽ được chuyển tới Quốc hội xem xét (Raal, 2024) – cơ chế biến góp ý đơn phương thành quan hệ có nghĩa vụ phản hồi. Phần Lan đầu tư dài hạn cho giáo dục năng lực truyền thông, dẫn đầu Chỉ số năng lực truyền thông năm 2023 với 74/100 điểm, năm thứ sáu liên tiếp đứng đầu (Lessenski, 2023). Liên minh châu Âu tiếp cận bằng công cụ pháp lý: gói Lá chắn Dân chủ châu Âu công bố ngày 12/11/2025 thiết lập Trung tâm châu Âu về khả năng chống chịu dân chủ, mạng lưới kiểm chứng thông tin độc lập và giao thức ứng phó sự cố, khủng hoảng theo Đạo luật Dịch vụ số (European Commission, 2025); Khuyến nghị của OECD về liêm chính thông tin (thông qua ngày 17/12/2024) nhấn mạnh mọi biện pháp can thiệp phải hợp pháp, tương xứng và tôn trọng quyền con người (OECD, 2024).

Bảng 2. Một số mô hình quốc tế tiêu biểu theo trụ cột năng lực

Mô hìnhThiết chế, công cụ tiêu biểuTrụ cột được củng cốGiá trị tham khảo cho Việt Nam
SingaporeREACH (tiền thân từ năm 1985); Forward Singapore (2022 – 2023)Lắng nghe xã hộiThiết chế hóa đầu mối lắng nghe; gắn tham vấn với sản phẩm chính sách
EstoniaCổng Rahvaalgatus.ee (từ năm 2016); ngưỡng 1.000 chữ kýĐối thoại – giải trìnhCơ chế ngưỡng bắt buộc xem xét và trả lời công khai
Phần LanGiáo dục năng lực truyền thông dài hạnLiêm chính thông tin (phía người dân)Đưa năng lực thông tin vào giáo dục và học tập suốt đời
Liên minh châu ÂuĐạo luật Dịch vụ số; Lá chắn Dân chủ châu Âu (2025)Liêm chính thông tin (phía nền tảng)Đồng quản trị nền tảng; giao thức ứng phó khủng hoảng

Kinh nghiệm có thể rút ra: (1) lắng nghe phải được thiết chế hóa thành chức năng thường xuyên với đầu mối rõ ràng; (2) tham vấn chỉ tạo ra niềm tin khi nghĩa vụ phản hồi được bảo đảm bằng cơ chế; (3) năng lực chống chịu trước thông tin sai lệch phải được xây dựng từ phía người dân qua giáo dục lâu dài; (4) quản trị nền tảng cần chuyển từ “yêu cầu gỡ bỏ” sang “đồng quản trị” dựa trên pháp luật. Việc vận dụng cần có chọn lọc, phù hợp với thể chế chính trị và điều kiện của Việt Nam, phát huy những lợi thế riêng: hệ thống chính trị thống nhất, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nền tảng định danh số quốc gia.

4. Kết luận và khuyến nghị

Trong môi trường truyền thông số, năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội cần được nhận thức như một cấu phần của năng lực quản trị quốc gia, gồm bốn trụ cột gắn kết thành chu trình. Việt Nam có lợi thế lớn về nền tảng chính trị – xã hội, khung pháp lý được hoàn thiện nhanh trong giai đoạn 2025 – 2026 và hạ tầng định danh số đã chứng minh hiệu quả; song năng lực này đang bị giới hạn bởi trụ cột yếu nhất là đối thoại – giải trình, cùng với độ trễ của thông tin chính thống, sự ô nhiễm hệ sinh thái thông tin và khoảng cách số. Chuyển từ đồng thuận dựa chủ yếu vào huy động sang đồng thuận phản tư bền vững là yêu cầu cốt lõi của quản trị phát triển trong giai đoạn mới.

Một là, luật hóa “chu trình phản hồi chính sách”. Trong quá trình hướng dẫn thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cần bổ sung nghĩa vụ công bố báo cáo tiếp thu, giải trình theo mẫu thống nhất trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì và trên VNeID, nêu rõ nhóm ý kiến được tiếp thu, không tiếp thu và lý do; xác lập nguyên tắc “mỗi ý kiến có địa chỉ phản hồi”. Đây là giải pháp chi phí thấp nhưng tác động trực tiếp tới trụ cột yếu nhất.

Hai là, chuyển tham vấn số từ “sự kiện” thành “thiết chế”. Trên cơ sở kinh nghiệm năm 2025, cần xây dựng Nền tảng tham vấn chính sách quốc gia tích hợp với VNeID, vận hành thường xuyên đối với các dự án luật, chính sách có tác động lớn. Có thể thí điểm ở cấp tỉnh, cấp xã cơ chế “ngưỡng kiến nghị”: kiến nghị thuộc thẩm quyền địa phương đạt số người ủng hộ được xác thực theo quy định thì cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, trả lời công khai, phù hợp tinh thần Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở. Việc dùng trí tuệ nhân tạo tổng hợp ý kiến phải bảo đảm sự kiểm soát của con người và tuân thủ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Ba là, xây dựng Bộ chỉ số đồng thuận xã hội. Kết hợp điều tra xã hội học định kỳ (tương tự khảo sát về niềm tin vào thể chế công của OECD) với phân tích dữ liệu lớn về dư luận trên không gian mạng để đo các chiều cạnh: mức độ hiểu biết chính sách, niềm tin vào thông tin chính thống, cảm nhận được lắng nghe và mức độ ủng hộ. Bộ chỉ số là đầu vào cho đánh giá tác động chính sách và là một căn cứ đánh giá trách nhiệm người đứng đầu.

Bốn là, chuẩn hóa truyền thông chính sách và truyền thông khủng hoảng “thời gian thực”. Trong khuôn khổ mốc 24 giờ của Nghị định số 244/2026/NĐ-CP, cần hướng dẫn về “giờ vàng” thông tin: với sự việc lan truyền mạnh trên mạng xã hội, cơ quan có trách nhiệm phát đi thông tin ban đầu sớm nhất có thể và cập nhật liên tục. Việc tổng kết Đề án theo Quyết định số 407/QĐ-TTg cần hướng tới nâng truyền thông chính sách thành nghĩa vụ thường xuyên ngay từ khi hình thành chính sách; đồng thời phát huy báo chí chủ lực đa phương tiện làm điểm tựa thông tin, bởi “khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy” (Tô Lâm, 2026).

Năm là, chuyển từ “chặn gỡ” sang “đồng quản trị” nền tảng. Trên cơ sở pháp luật hiện hành, cần có cơ chế yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới quy mô lớn minh bạch nguyên tắc đề xuất nội dung, ưu tiên phân phối thông tin chính thống trong tình huống khẩn cấp theo giao thức ứng phó khủng hoảng, thực thi nghiêm việc gắn nhãn nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra; đồng thời phát triển nền tảng số trong nước để giảm phụ thuộc vào nền tảng nước ngoài.

Sáu là, đầu tư cho năng lực số và năng lực thông tin của người dân và đội ngũ cán bộ. Gắn phong trào “Bình dân học vụ số” với nội dung nhận diện thông tin sai lệch; từng bước đưa giáo dục năng lực truyền thông vào chương trình giáo dục phổ thông; ưu tiên nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số và người cao tuổi theo tinh thần Điều 42 Luật Chuyển đổi số; duy trì song song các kênh tham vấn trực tiếp. Đối với cán bộ, công chức, cần ban hành chuẩn năng lực truyền thông số, coi kỹ năng đối thoại trên môi trường số là yêu cầu bắt buộc đối với người đứng đầu.

Đồng thuận xã hội là tài sản được tích lũy qua từng chính sách được giải thích thấu đáo, từng ý kiến được phản hồi nghiêm túc và từng thông tin sai lệch được làm rõ kịp thời. Nâng cao năng lực kiến tạo đồng thuận xã hội trong kỷ nguyên số chính là hiện thực hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, góp phần đưa các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống.

Tài liệu tham khảo:
Ansell, C., & Gash, A. (2008). Collaborative governance in theory and practice. Journal of Public Administration Research and Theory, 18(4), 543–571. https://doi.org/10.1093/jopart/mum032
Bertot, J. C., Jaeger, P. T., & Grimes, J. M. (2010). Using ICTs to create a culture of transparency: E-government and social media as openness and anti-corruption tools for societies. Government Information Quarterly, 27(3), 264–271. https://doi.org/10.1016/j.giq.2010.03.001
Bộ Chính trị (2026). Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 30/3/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, truyền thông trên không gian mạng trong tình hình mới.
Canel, M. J., & Luoma-aho, V. (2019). Public sector communication: Closing gaps between citizens and public organizations. Wiley Blackwell.
Castells, M. (2009). Communication power. Oxford University Press.
Chadwick, A. (2017). The hybrid media system: Politics and power (2nd ed.). Oxford University Press.
Chính phủ (2026). Nghị định số 142/2026/NĐ-CP ngày 30/4/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.
Chính phủ (2026). Nghị định số 244/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước.
DataReportal. (2025). Digital 2026: Viet Nam. https://datareportal.com/reports/digital-2026-vietnam
Dương Hoa Lê (07/5/2026). Truyền thông chính sách văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/05/07/truyen-thong-chinh-sach-van-hoa-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-hien-nay/
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I, II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đỗ Bình (08/6/2025). Sửa đổi Hiến pháp năm 2013: Đảng trách nhiệm, dân đồng lòng. Chính sách và Cuộc sống – Thông tấn xã Việt Nam. https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/sua-doi-hien-phap-nam-2013-dang-trach-nhiem-dan-dong-long/62480.html
Đỗ Trung (02/7/2026). Ứng dụng VNeID đạt hơn 102,1 triệu hồ sơ định danh, kích hoạt 71,5 triệu tài khoản. Báo Sài Gòn Giải Phóng. https://www.sggp.org.vn/ung-dung-vneid-dat-hon-1021-trieu-ho-so-dinh-danh-kich-hoat-715-trieu-tai-khoan-post860401.html
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lưu Thị Thu Phương (05/10/2023). Định hướng dư luận xã hội thông qua mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/10/05/dinh-huong-du-luan-xa-hoi-thong-qua-mang-xa-hoi-o-viet-nam-hien-nay/
Nguyễn Ngọc Thái (13/9/2026). Phát huy sức mạnh truyền thông chính sách – Bài 1: Nhân tố quyết định kiến tạo sự đồng thuận xã hội. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/phat-huy-suc-manh-truyen-thong-chinh-sach-bai-1-nhan-to-quyet-dinh-kien-tao-su-dong-thuan-xa-hoi-10430392.html
Phạm Thanh Tâm, & Nguyễn Bích Huệ (29/6/2026). Khoảng cách số tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số: Thực trạng và hàm ý chính sách. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/29/khoang-cach-so-tai-viet-nam-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-thuc-trang-va-ham-y-chinh-sach/
European Commission. (2025, November 12). Stronger measures to protect our democracy and civil society [News release]. https://commission.europa.eu/news-and-media/news/stronger-measures-protect-our-democracy-and-civil-society-2025-11-12_en
Evans, P. B. (1995). Embedded autonomy: States and industrial transformation. Princeton University Press.
Fishkin, J. S. (2009). When the people speak: Deliberative democracy and public consultation. Oxford University Press.
Forward Singapore. (2023, October 27). Release of Forward Singapore report: 4G unveils roadmap to build our shared future [Press release]. https://www.forwardsingapore.gov.sg/newsroom/release-of-forward-singapore-report–4g-unveils-roadmap-to-build-our-shared-future/
Grunig, J. E., & Hunt, T. (1984). Managing public relations. Holt, Rinehart and Winston.
Habermas, J. (1984). The theory of communicative action: Vol. 1. Reason and the rationalization of society (T. McCarthy, Trans.). Beacon Press.
Habermas, J. (1989). The structural transformation of the public sphere: An inquiry into a category of bourgeois society (T. Burger & F. Lawrence, Trans.). MIT Press.
Lessenski, M. (2023). Bye, bye, birdie: Meeting the challenges of disinformation. The Media Literacy Index 2023. Open Society Institute – Sofia. https://osis.bg/?p=4450&lang=en
Mann, M. (1984). The autonomous power of the state: Its origins, mechanisms and results. European Journal of Sociology, 25(2), 185–213. https://doi.org/10.1017/S0003975600004239
Noelle-Neumann, E. (1974). The spiral of silence: A theory of public opinion. Journal of Communication, 24(2), 43–51. https://doi.org/10.1111/j.1460-2466.1974.tb00367.x
Quang Nam (11/7/2026). Hơn 117.000 nội dung trên mạng xã hội bị chặn gỡ sau 6 tháng. Znews. https://znews.vn/hon-117000-noi-dung-tren-mang-xa-hoi-bi-chan-go-sau-6-thang-post1663043.html
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2026). Luật Tiếp cận thông tin năm 2026.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 – 2027”.
Tô Lâm (18/6/2026). Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số. Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/bao-chi-cach-mang-viet-nam-trong-thoi-dai-so-a174507.html
OECD (2024a). Facts not fakes: Tackling disinformation, strengthening information integrity. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/d909ff7a-en
OECD (2024b). Recommendation of the Council on Information Integrity (adopted on 17 December 2024). OECD Legal Instruments.
OECD (2026). OECD survey on drivers of trust in public institutions 2026 results. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9eb63fec-en
Raal, C. (2024, January 24). Citizen initiative portal empowering Estonians in digital age of democracy. e-Estonia. https://e-estonia.com/citizen-initiative-portal-empowering-estonians-in-digital-age-of-democracy/
Rawls, J. (1993). Political liberalism. Columbia University Press.
REACH. (n.d.). About us. Retrieved October 1, 2026, from https://www.reach.gov.sg/who-we-are/about-us/
United Nations. (2024). E-Government Survey 2024: Accelerating digital transformation for sustainable development. Department of Economic and Social Affairs.
Wardle, C., & Derakhshan, H. (2017). Information disorder: Toward an interdisciplinary framework for research and policy making (Council of Europe Report DGI(2017)09). Council of Europe.