Implication policies to promote household businesses accepting digital transformation in their business operations in vietnam mekong delta region
NCS.ThS. Huỳnh Minh Phúc
Trường Đại học Trà Vinh,
Email: phuc30@gmail.com
PGS.TS. Phước Minh Hiệp
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Email: hieppm@hiu.vn
TS. Nguyễn Tấn Đạt
Trường Kinh tế Luật, Đại học Trà Vinh,
Email: nguyentandat@tvu.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết đề xuất các hàm ý chính sách nhằm làm đòn bẩy thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh tại vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dựa trên cơ sở khung lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ TAM mở rộng và 400 mẫu quan sát dữ liệu được thu thập, mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 20 và Amos 24. Kết quả nghiên cứu tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ TAM trong nghiên cứu chấp nhận công nghệ, đồng thời có hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Từ khóa: Hộ kinh doanh cá thể; chuyển đổi số; hoạt động kinh doanh; vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Abstract: This study examines policy implications as a lever to promote the adoption of digital transformation in business operations by individual business households in the Mekong Delta region. Based on the extended Technology Adoption Model (TAM) theoretical framework and 400 observed data samples collected, coded, and analyzed using SPSS 20 and Amos 24 software, the research results further affirm the important role of the Technology Adoption Model (TAM) in technology adoption research and simultaneously provide policy implications to promote the adoption of digital transformation in business operations by individual business households in the Mekong Delta region.
Keywords: household business; digital transformation; business activities; Vietnam Mekong Delta region.
1. Đặt vấn đề
Bối cảnh kinh tế – xã hội trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang có nhiều biến đổi theo chiều hướng phát triển tích cực với những tình huống phát triển mới, chuyển đổi số, hợp nhất các tỉnh với không gian phát triển mới, lớn hơn trước, nhưng cũng đan xen những thách thức do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, môi trường khắc nghiệt và nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Bên cạnh đó, sự phân chia và hợp tác kinh tế giữa các quốc gia lớn và các tổ chức kinh tế toàn cầu cũng đang phát triển theo những điều kiện và tiêu chuẩn mới và tình hình chính trị – xã hội ở một số nước cũng bất ổn, với chiến tranh, dịch bệnh và các thách thức khác đang diễn ra, tất cả đều tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam và cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 40.922,6 km², dân số 17.622,6 nghìn người. Cơ quan hành chính nhà nước gồm 01 thành phố trực thuộc trung ương (TP. Cần Thơ) và 4 tỉnh An Giang, Cà Mau, Đồng Tháp và Vĩnh Long (Tổng cục Thống kê, 2022). Được đánh giá là vùng có vị trí chiến lược quan trọng, cả về kinh tế, văn hóa, chính trị; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, có 700 km bờ biển, tạo lợi thế cho phát triển kinh tế biển, thuận tiện cho giao thương với các nước ASEAN và các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mê Kông (Phú). Kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 đạt mức tăng trưởng 7,3%, đóng góp 8,39% vào GDP cả nước. Thu nhập bình quân đầu người đạt 55,2 triệu đồng/người/năm. Số hộ kinh doanh cá thể năm 2025 là 1.006.987 cơ sở (Tổng cục Thống kê, 2022).
Với chính sách phát triển kinh tế phù hợp, đúng hướng của Đảng và Nhà nước, cụ thể là Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 02/4/2022 về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 đã tạo đòn bẩy để kinh tế vùng từng bước phát triển, thích ứng với biến đổi khí hậu, làm cho GDP của vùng có sự tăng trưởng hàng năm. Tuy kinh tế vùng có sự tăng trưởng chậm lại do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu,… nhưng nhờ vào sự phát triển của nền công nghiệp lần thứ 4 và quá trình chuyển đổi số đã tạo nên những công cụ đột phá và sự ứng dụng, chấp nhận sử dụng những công cụ đó của các thành phần kinh tế, đặc biệt là hộ kinh doanh cá thể đã tác động tích cực làm kinh tế tăng trưởng trở lại.
Hộ kinh doanh, xét về bản chất, được xem là một loại hình kinh doanh trong nền kinh tế. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, nhưng hình thức kinh doanh hộ vẫn chỉ tồn tại và vận hành theo Nghị định của Chính phủ. Chính vì thế, hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế Việt Nam đang được xem là thành phần kinh tế yếu thế hơn so với các thành phần kinh tế khác (Flannelly, Flannelly, & Jankowski, 2014), và trong quá trình chuyển đổi số, hộ kinh doanh có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố mới trong hoạt động kinh doanh. Do đó, thực tiễn cần có một nghiên cứu hàm ý chính sách làm đòn bẩy thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chấp nhận chuyển đổi số trong động kinh doanh góp phần cho các tỉnh hoạch định, xây dựng và cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ngày càng hiệu quả hơn, hướng đến phát triển kinh tế xanh, bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
Chuyển đổi số là sự hội tụ của các công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra sự đổi mới toàn diện, qua đó giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, thích ứng nhanh nhạy với thị trường, củng cố lợi thế cạnh tranh cốt lõi và hướng tới phát triển bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Chuyển đổi số đã trở thành chủ đề trung tâm trong nghiên cứu và thực tiễn quản lý, phản ánh tác động sâu rộng của công nghệ số đối với các tổ chức và xã hội. Chấp nhận chuyển đổi số là một quá trình chiến lược, tái định nghĩa mô hình kinh doanh, cấu trúc tổ chức và cơ chế tạo giá trị, được thúc đẩy mạnh mẽ bởi tiến bộ công nghệ và toàn cầu hóa (Koo & Yang, 2025). Trong doanh nghiệp, việc chấp nhận chuyển đổi số là việc ứng dụng công nghệ số nhằm thay đổi phương thức vận hành, quy trình và trải nghiệm khách hàng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả, giảm chi phí và tăng cường quan hệ với khách hàng (Paldam, 2021).
Trong bối cảnh này, việc lý giải sự chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh trở thành vấn đề trọng tâm và mô hình lý thuyết TAM (Technology Acceptance Model – Davis, 1989) được xem là khung lý thuyết trọng tâm cho nghiên cứu về ứng dụng hệ thống thông tin hay chấp nhận chuyển đổi số (Marangunić & Granić, 2015). Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã đề ra mục tiêu đến năm 2030, nền kinh tế số của Việt Nam chiếm 30% GDP và tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt từ 17% đến 17% (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Đồng bằng sông Cửu Long – khu vực có vai trò kinh tế – xã hội quan trọng và số lượng hộ kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn (Quốc hội, 2025) – đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, thúc đẩy sự chuyển dịch từ mô hình kinh doanh truyền thống sang chấp nhận số.
2.2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu: Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) tập trung vào 3 yếu tố chính, như: (1) Nhận thức tính hữu ích (Perceived Usefulness – PU) là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của mình; (2) Nhận thức tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use – PEOU) là mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực; (3) Yếu tố PU và PEOU định hình thái độ (Attitude) của người dùng đối với công nghệ, từ đó ảnh hưởng đến ý định sử dụng và hành vi sử dụng thực tế của họ (Wei et al., 2025).
Giả thuyết nghiên cứu:
H1: Thái độ chấp nhận chuyển đổi số (AU) ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh (AC) của hộ kinh doanh cá thể.
H2a: Tính hữu ích của chuyển đổi số (PU) ảnh hưởng tích cực đến thái độ chấp nhận chuyển đổi số (AU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H2b: Tính hữu ích của chuyển đổi số (PU) ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận chuyển đổi số (AC) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H3a: Tính dễ sử dụng của chuyển đổi số (PEOU) ảnh hưởng tích cực đến thái độ chấp nhận chuyển đổi số (AU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H3b: Tính dễ sử dụng của chuyển đổi số (PEOU) ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tính hữu ích của việc sử dụng chuyển đổi số (PU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
Trong quá trình áp dụng mô hình TAM, các nhà nghiên cứu đã tinh chỉnh và mở rộng mô hình để khắc phục những hạn chế của nó và phù hợp với các bối cảnh cụ thể (Zhang, 2024). Với bối cảnh và đặc điểm hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, 3 yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu ích, tính dễ sử dụng và khả năng chấp nhận chuyển đổi số được đề xuất gồm: chính sách của chính phủ, nền tảng chuyển đổi số và học tập từ cộng đồng.
Chính sách của Chính phủ (GP) đề cập đến các điều kiện và hỗ trợ thuận lợi do chính sách của Chính phủ quy định cho hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh, như chính sách tài trợ và luật pháp, nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, trật tự và nhanh chóng của hoạt động này (Chen, Zhang, & Chen, 2024).
H4a: Chính sách chuyển đổi số của chính phủ (GP) ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tính hữu ích của việc sử dụng chuyển đổi số (PU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H4b: Chính sách chuyển đổi số của chính phủ (GP) ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tính dễ sử dụng của chuyển đổi số (PEOU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H4c: Chính sách chuyển đổi số của chính phủ (GP) ảnh hưởng tích cực đến việc chấp nhận chuyển đổi số (AC) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
Nền tảng chuyển đổi số (PS) đề cập đến nền tảng vận hành chuyển đổi số quốc gia do chính phủ cung cấp, bao gồm như băng thông internet, các thiết bị mạng viễn thông, internet, các phần mềm,… vận hành hệ thống chuyển đổi số mà hộ kinh doanh có thể xem nó là nền tảng cốt lõi cho việc chấp nhận chuyển đổi số cho việc kinh doanh của mình (Chen et al., 2024).
H5a: Nền tảng chuyển đổi số (PS) có ảnh hưởng đến nhận thức về tính hữu ích (PU) của việc chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H5b: Nền tảng chuyển đổi số (PS) ảnh hưởng đến nhận thức về tính dễ sử dụng (PEOU) trong việc chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
Học tập cộng đồng (SL) tập trung vào sự tương tác giữa hành vi của con người và môi trường xung quanh, đồng thời quan tâm đến cách mọi người học thông qua việc quan sát và bắt chước hành vi của người khác (Chen et al., 2024).
H6a: Học tập cộng đồng (SL) ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tính hữu ích của việc sử dụng chuyển đổi số (PU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
H6b: Học tập cộng đồng (SL) ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về mức độ dễ sử dụng chuyển đổi số (PEOU) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả lược khảo, tổng hợp, 2026)
2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu và công cụ phân tích
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling – SEM), sử dụng phần mềm SPSS 20 và Amos 24. Dữ liệu được mã hóa và đưa vào phân tích gồm 400 mẫu quan sát là chủ hộ kinh doanh cá thể đã từng và đang sử dụng chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian thực hiện thu thập và mã hóa dữ liệu là 02 tháng, từ tháng 4/2026 đến tháng 5/2026.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có 83% hộ kinh doanh cá thể sử dụng mạng xã hội Facebook hoặc Zalo trong hoạt động kinh doanh; trong khi đó, có 41,8% sử dụng máy Pos/QR để giao dịch thanh toán, chủ yếu là các hộ kinh doanh cá thể ở khu vực trung tâm chợ. Bên cạnh đó, có 13% sử dụng hóa đơn điện tử và 9,5% sử dụng phần mềm kế toán, chủ yếu là các xí nghiệp vật liệu xây dựng và quán karaoke. Còn lại, có 4,5% sử dụng sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada, … chủ yếu kinh doanh quần áo và thiết bị điện tử.
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equatuon Modeling – SEM) 7 yếu tố, với 25 biến độc lập cụ thể chính sách của Chính phủ (GP), 5 biến quan sát; nền tảng số (PS), với 4 biến quan sát; học tập cộng đồng (SL), với 4 biến quan sát; nhận thức tính hữu ích (PU), với 4 biến quan sát; nhận thức tính dễ sử dụng (PEOU), 4 biến quan sát; thái độ (AU), với 4 biến quan sát và 4 biến quan sát phụ thuộc chấp nhận chuyển đổi số (AC) đạt chất lượng kiểm định độ tin cậy (Cronbach’s Alpha). Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) của mô hình bằng 0,797 > 0,5, cho thấy dữ liệu phân tích nhân tố khám phá (EFA) phù hợp; kiểm định Bartlett với mức ý nghĩa Sig. = 0,000 < 0,05 cho thấy, các biến quan sát có mối quan hệ với nhau trong tổng thể các yếu tố và 56,352% biến thiên của các yếu tố được giải thích bởi các biến quan sát đó. Kiểm định mô hình lý thuyết, trong 12 giả thuyết đề xuất, có 11 giả thuyết có mối quan hệ có giá trị P (P-value) < 0,05 cho thấy rằng các mối quan hệ nhân quả này đều có ý nghĩa thống kê với giả thuyết ban đầu; chỉ 01 giả thuyết có giá trị P (P-value) > 0,05 cho thấy, mối quan hệ nhân quả này bị loại hay có thể có kết quả ngược lại so với giả thuyết đề xuất ban đầu.
Bảng 1. Kết quả kiểm định giả thuyết của mô hình
| STT | Yếu tố | Mối quan hệ | Yếu tố | Beta chuẩn hóa (β) | Sai số chuẩn S.E. | Giá trị C.R. | P | Kết luận |
| 1 | PEOU | <— | GP | 0,196 | 0,057 | 3,433 | *** | Chấp nhận |
| 2 | PEOU | <— | PS | 0,181 | 0,065 | 2,788 | 0,005 | Chấp nhận |
| 3 | PEOU | <— | SL | 0,263 | 0,071 | 3,717 | *** | Chấp nhận |
| 4 | PU | <— | GP | 0,102 | 0,047 | 2,18 | 0,029 | Chấp nhận |
| 5 | PU | <— | PS | -0,048 | 0,053 | -0,921 | 0,357 | Không chấp nhận |
| 6 | PU | <— | SL | 0,296 | 0,06 | 4,912 | *** | Chấp nhận |
| 7 | PU | <— | PEOU | 0,105 | 0,051 | 2,058 | 0,04 | Chấp nhận |
| 8 | AU | <— | PU | 0,223 | 0,06 | 3,713 | *** | Chấp nhận |
| 9 | AU | <— | PEOU | 0,157 | 0,047 | 3,31 | *** | Chấp nhận |
| 10 | AC | <— | GP | 0,226 | 0,059 | 3,821 | *** | Chấp nhận |
| 11 | AC | <— | PU | 0,256 | 0,08 | 3,185 | 0,001 | Chấp nhận |
| 12 | AC | <— | AU | 0,413 | 0,082 | 5,021 | *** | Chấp nhận |
Bên cạnh đó, qua phân tích mức độ ảnh hưởng tích cực gián tiếp, cùng chiều của các nhân tố đến chấp nhận chuyển đổi số (AC) trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể vùng Đồng bằng sông Cửu Long có kết quả như sau:
Bảng 2. Kết quả kiểm định ảnh hưởng tích cực gián tiếp
| STT | Indirect Path | Giá trị P-Value | β chuẩn hóa | Loại trung gian | Kết quả |
| 1 | GP –> PEOU –> PU –> AU –> AC | 0,013 | 0,026* | Một phần | Chấp nhận |
| 2 | GP –> PEOU –> PU –> AC | 0,019 | 0,026* | Một phần | Chấp nhận |
| 3 | GP –> PEOU –> AU –> AC | 0,002 | 0,040** | Một phần | Chấp nhận |
| 4 | GP –> PU –> AU –> AC | 0,008 | 0,030** | Một phần | Chấp nhận |
| 5 | GP –> PU –> AC | 0,013 | 0,024* | Một phần | Chấp nhận |
| 6 | SL –> PEOU –> PU –> AU –> AC | 0,012 | 0,028* | Toàn phần | Chấp nhận |
| 7 | SL –> PEOU –> PU –> AC | 0,019 | 0,028* | Toàn phần | Chấp nhận |
| 8 | SL –> PEOU –> AU –> AC | 0,001 | 0,044** | Toàn phần | Chấp nhận |
| 9 | SL –> PU –> AU –> AC | 0,001 | 0,070*** | Toàn phần | Chấp nhận |
| 10 | SL –> PU –> AC | 0,002 | 0,057** | Toàn phần | Chấp nhận |
| 11 | PS –> PEOU –> PU –> AU –> AC | 0,013 | 0,021* | Toàn phần | Chấp nhận |
| 12 | PS –> PEOU –> PU –> AC | 0,019 | 0,021* | Toàn phần | Chấp nhận |
| 13 | PS –> PEOU –> AU –> AC | 0,004 | 0,033** | Toàn phần | Chấp nhận |
| 14 | PS –> PU –> AU –> AC | 0,183 | -0,012 | Toàn phần | Loại |
| 15 | PS –> PU –> AC | 0,212 | -0,01 | Toàn phần | Loại |
Kết quả (Bảng 2) cho thấy, có 15 mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận chuyển đổi số trong kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 13 mối quan hệ được chấp nhận (P-value < 0,05); ngược lại, có 2 mối quan hệ gián tiếp toàn phần bị loại bỏ.
3.2. Thảo luận và hàm ý chính sách
Dựa trên kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và các kiểm định thống kê, đã chỉ ra những tác động trực tiếp và gián tiếp có ý nghĩa của các biến số độc lập đối với biến phụ thuộc là hành vi chấp nhận chuyển đổi số (AC). Dưới đây là 3 nhóm hàm ý chính sách thiết thực được đề xuất nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chấp nhận chuyển đổi số trong hoạt động kinh doanh tại vùng đồng bằng sông Cửu Long như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện chính sách của chính quyền địa phương (GP) nhằm tối ưu hóa nhận thức “tính dễ sử dụng” (PEOU) để thúc đẩy thái độ chấp nhận (AU). Các tỉnh/thành phố cần ưu tiên nguồn lực để thiết kế các chính sách hỗ trợ chuyển đổi số mang tính “thân thiện với người dùng” như: (1) Đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính công trực tuyến và các nền tảng hỗ trợ thuế, hóa đơn điện tử. Việc giảm thiểu độ phức tạp trong thao tác sẽ tác động trực tiếp vào biến PEOU, từ đó tạo ra lực đẩy 40% gián tiếp lên hành vi chấp nhận cuối cùng của hộ kinh doanh; (2) Triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh số mới, tạo hành lang pháp lý an toàn để hộ kinh doanh không sợ rủi ro khi thao tác sai. Các chính sách tài trợ, miễn giảm thuế hoặc hỗ trợ chi phí thuê mặt bằng (biến quan sát GP4 mang trọng số hồi quy β=0,809) cần được gắn liền với điều kiện ứng dụng các nền tảng số cơ bản, có giao diện trực quan; (3) Việc hoạch định và cụ thể hóa các quyết định chiến lược, như: Quyết định số 479/QĐ-TTg ngày 07/4/2020 và Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, phải bám sát vào đặc thù quy mô nhỏ lẻ, vốn ưa chuộng tính dễ sử dụng và lợi nhuận trước mắt của hộ kinh doanh cá thể. Các tỉnh/thành phố không nên đầu tư dàn trải vào các công nghệ quá hàn lâm mà cần tập trung trợ cấp cho các giải pháp phần mềm “một chạm” (one-touch), qua đó tối ưu hóa hệ số Beta (β) của chuỗi quan hệ GP → PEOU → AU → AC.
Thứ hai, tăng cường đầu tư nâng cấp và đồng bộ hóa hạ tầng Nền tảng số (PS) nhằm giải quyết điểm nghẽn về mức độ cảm nhận tính hữu ích (PU) của chuyển đổi số. Kết quả thống kê bị bác bỏ của β =−0,048 là một chỉ báo khẩn cấp đòi hỏi chính quyền từ cấp Trung ương đến địa phương phải quy hoạch lại toàn bộ chiến lược đầu tư nền tảng số. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh tiến độ phát triển kết cấu hạ tầng mạng băng thông rộng và cáp quang tốc độ cao đến tận các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển. Không thể kỳ vọng hộ kinh doanh cá thể nhận thức được tính hữu ích của thương mại điện tử nếu kết nối Internet cốt lõi (biến quan sát PS2) liên tục bị gián đoạn. Ngoài ra, việc phát triển các nền tảng số phải mang tính đặc thù cao. Cụ thể, thay vì áp dụng các nền tảng quản trị doanh nghiệp phức tạp, các tỉnh/thành phố cần hợp tác công – tư để phát triển các nền tảng điện toán đám mây và lưu trữ dữ liệu chuyên biệt phục vụ chuỗi cung ứng nông nghiệp, thủy sản và logistics. Sự linh hoạt trong đầu tư và phát triển này sẽ đưa chỉ số p-value của mối quan hệ PS → PU về ngưỡng có ý nghĩa thống kê trong tương lai. Mặt khác, cần cung cấp các gói hỗ trợ nhằm giảm chi phí duy trì nền tảng số (biến quan sát PS4 đạt hệ số tải β = 0,747). Khi hạ tầng viễn thông ổn định, cước phí rẻ và thiết kế giao diện thân thiện (PEOU được đảm bảo), các rào cản kỹ thuật sẽ được loại bỏ. Chỉ khi nút thắt về sự thiếu đồng bộ của hạ tầng được giải quyết, nền tảng số mới thực sự chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và tác động tích cực trở lại kỳ vọng hữu ích (PU) của hàng triệu hộ kinh doanh trong khu vực này.
Thứ ba, phổ biến bình dân học vụ số, mạng lưới học tập cộng đồng (SL) và chiến lược tiếp nhận số hóa linh hoạt từ bên trong của hộ kinh doanh.
Về phía chính quyền. Cần dồn trọng tâm triển khai chiến dịch “Bình dân học vụ số” – một mô hình học tập dựa vào cộng đồng với chi phí thấp, nhằm phổ cập kỹ năng thanh toán, sử dụng smartphone và giao dịch thương mại điện tử. Các chương trình đào tạo này không nên diễn ra ở hội trường lớn mà cần được tổ chức ngay tại các cụm dân cư, chợ truyền thống (nơi chiếm tỷ lệ lớn trong mẫu khảo sát sử dụng máy POS/QR), tận dụng các hộ kinh doanh đã chuyển đổi số thành công làm “nòng cốt” để hướng dẫn trực tiếp cho các hộ khác. Phương pháp lan tỏa từ dưới lên (bottom-up) này sẽ kích hoạt mạnh mẽ chuỗi tác động SL → PU.
Về phía hộ kinh doanh. Phân tích định lượng khẳng định rằng thái độ (AU) có ý nghĩa quyết định (β = 0,413). Do đó, các chủ hộ kinh doanh phải chủ động xây dựng chiến lược “chuyển tiếp thế hệ”. Thế hệ lớn tuổi nắm giữ kinh nghiệm thương trường và vốn xã hội, trong khi thế hệ trẻ (Gen Z, Millennials) trong gia đình sở hữu tư duy cởi mở và năng lực công nghệ. Sự kết hợp xuyên thế hệ này giúp triệt tiêu tâm lý e ngại (rào cản lớn nhất của PEOU) và nhanh chóng định hình văn hóa đổi mới. Bản thân các hộ kinh doanh cũng cần tích cực tham gia vào các hiệp hội, mạng lưới kinh doanh địa phương để học hỏi kinh nghiệm ứng dụng AI, IoT hay phân tích dữ liệu cơ bản, từ đó tối đa hóa các giá trị kinh tế mà công nghệ mang lại.
4. Kết luận
Với mô hình lý thuyết đề xuất với 12 giả thuyết, với 7 yếu tố, 29 biến quan sát hội tụ, trong đó, có 6 yếu tố, 25 biến quan sát độc lập tương ứng như Chính sách của Chính phủ (GP); nền tảng số (PS); học tập cộng đồng (SL); nhận thức tính hữu ích (PU); nhận thức tính dễ sử dụng (PEOU); thái độ (AU) có sự ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp một phần và gián tiếp toàn phần đến 4 biến quan sát phụ thuộc tương ứng yếu tố chấp nhận chuyển đổi số trong kinh doanh (AC) của hộ kinh doanh cá thể.
Từ kết quả phân tích, bài viết đã đề xuất 3 nhóm chính sách có ý nghĩa thực tiễn, hỗ trợ cho các tỉnh/thành phố khu vực và hộ kinh doanh cá thể vùng đồng bằng sông Cửu Long làm cơ sở để hoạch định, cập nhật, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện những chính sách chuyển đổi số gắn với hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể làm đòn bẩy thúc đẩy hộ kinh doanh cá thể chấp nhận chuyển đổi số trong kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tài liệu tham khảo:
A: Chen, X., Zhang, X.-e., & Chen, J. (2024). TAM-Based study of Farmers’ live streaming E-Commerce adoption intentions. Agriculture, 14(4), 518.
Flannelly, L. T., Flannelly, K. J., & Jankowski, K. R. (2014). Fundamentals of measurement in health care research. Journal of Health Care Chaplaincy, 20(2), 75-82.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2045.
Koo, M., & Yang, S.-W. (2025). Likert-type scale. Encyclopedia, 5(1), 18.
Marangunić, N., & Granić, A. (2015). Technology acceptance model: a literature review from 1986 to 2013. Universal access in the information society, 14(1), 81-95.
Paldam, M. (2021). Methods used in economic research: An empirical study of trends and levels. Economics, 15(1), 28-42.
Tổng cục Thống kê (2022). Niên Giám thống kê năm 2025.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 252/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 về quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Wei, W., Prasetyo, Y. T., Belmonte, Z. J. A., Cahigas, M. M. L., Nadlifatin, R., & Gumasing, M. J. J. (2025). Applying the technology acceptance model – Theory of planned behavior (TAM-TPB) model to study the acceptance of building information modeling (BIM) in green building in China. Acta Psychologica, 254, 104790. doi: https://doi.org/10.1016/j.actpsy.2025.10479
Zhang, Y. (2024). Impact of perceived privacy and security in the TAM model: The perceived trust as the mediated factors. International Journal of Information Management Data Insights, 4(2), 100270. doi: https://doi.org/10.1016/j.jjimei.2024.100270



