Chuyển đổi số trong công tác tôn giáo ở tỉnh Sơn La

Digital transformation in religious affairs in Son La Province

TS. Phan Thị Mỹ Bình
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Email: phanthimybinh@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo hợp pháp của người dân. Chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo tại tỉnh Sơn La, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn hạn chế: hạ tầng không đồng đều, cơ sở dữ liệu chưa hoàn thiện, năng lực số chưa cao, kinh phí hạn chế và rủi ro an ninh mạng. Bài viết đề xuất một số giải pháp trọng tâm, như: hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nâng cấp hạ tầng số vùng sâu, vùng xa, nâng cao năng lực số cho cán bộ và chức sắc, tăng cường bảo đảm an ninh mạng, góp phần xây dựng nền quản trị tôn giáo hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Từ khóa: Chuyển đổi số; công tác tôn giáo; tín ngưỡng, tôn giáo; quản lý nhà nước về tôn giáo; tỉnh Sơn La.

Abstract: Digital transformation is an inevitable requirement to enhance the effectiveness and efficiency of state management of belief and religion, while simultaneously meeting the people’s legitimate needs for religious activities. In the field of religion in Son La Province, alongside the results achieved, digital transformation still faces several limitations, including uneven infrastructure, incomplete databases, limited digital competencies, constrained funding, and cybersecurity risks. This article proposes several key solutions, such as completing specialized databases, upgrading digital infrastructure in remote and isolated areas, enhancing the digital capacity of officials and religious dignitaries, and strengthening cybersecurity, thereby contributing to the construction of a modern, transparent, and effective system of religious governance.

Keywords: Digital transformation; religious affairs; belief and religion; state management of religion; Son La Province.

1. Đặt vấn đề

Sơn La là tỉnh miền núi, biên giới, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; đồng thời, cũng là tỉnh có nhiều tôn giáo, như: Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Cơ đốc giáo. Các tôn giáo này có số lượng tín đồ tập trung ở người dân tộc thiểu số, phân bố ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Đặc điểm này đặt ra không ít khó khăn đối với công tác quản lý nhà nước (QLNN) về tôn giáo theo phương thức truyền thống. Vì vậy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý tôn giáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành, tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý với các tổ chức tôn giáo, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính; đồng thời, hỗ trợ nắm bắt tình hình và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực tôn giáo. Bài viết tập trung đánh giá thực trạng chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo tại tỉnh Sơn La, phân tích những kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương chuyển đổi số tại địa phương.

2. Khái quát tôn giáo ở tỉnh Sơn La

Tỉnh Sơn La nằm ở vùng Tây Bắc, có diện tích tự nhiên khoảng 14.109 km², với 75 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 8 phường, 67 xã theo Nghị quyết số 1681/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Sơn La năm 2025. Tỉnh có dân số khoảng 1,4 triệu người, với 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Thái đông nhất (khoảng hơn 50%), tiếp theo là Kinh, Mông, Mường, Dao, Khơ Mú, Xinh Mun và một số dân tộc khác (Báo Sơn La, 15/11/2024). Đặc điểm địa lý phức tạp, giao thông khó khăn ở vùng sâu, vùng xa đã tạo nên sự đa dạng văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống tinh thần của cư dân.

Trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện diện chủ yếu 4 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cơ đốc giáo, với tổng số 38.900 tín đồ (Thúy Hà, 26/02/2026). So với mặt bằng chung cả nước, quy mô tín đồ tôn giáo ở Sơn La không lớn, song lại có tốc độ phát triển khá nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt là đạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phật giáo chủ yếu gắn với cộng đồng người Kinh sinh sống tại các đô thị, thị trấn; Công giáo và Tin Lành có xu hướng phát triển mạnh ở khu vực nông thôn, vùng cao, vùng biên giới – nơi tập trung đông đồng bào dân tộc Mông, Dao, Thái.

Về đặc điểm phân bố, tôn giáo ở Sơn La không tập trung mà trải rộng, đan xen với địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số, đặc biệt đáng chú ý là một bộ phận đồng bào dân tộc Mông theo đạo Tin Lành thông qua hình thức truyền đạo trái phép, không theo tổ chức, chưa được cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung, diễn ra chủ yếu ở các bản, làng vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới giáp Lào. Đây là điểm khác biệt căn bản so với sự phân bố tôn giáo ở vùng đồng bằng, đô thị, đòi hỏi cách tiếp cận quản lý phù hợp với đặc thù văn hóa, phong tục, tâm lý tộc người, tránh rập khuôn, máy móc theo mô hình quản lý tôn giáo ở các vùng, miền khác.

Từ đặc điểm nêu trên, công tác QLNN về tôn giáo tại Sơn La đặt ra nhiều yêu cầu cấp thiết, trong đó chuyển đổi số được xem là một giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả công tác QLNN về tôn giáo trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay.

3. Thực trạng chuyển đổi số trong lĩnh vực tôn giáo

3.1. Xây dựng hạ tầng và dữ liệu số về tôn giáo

Theo chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Thông tư số 02/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Sở Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ; xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về dân tộc thiểu số, tôn giáo phục vụ công tác QLNN và chuyên môn nghiệp vụ. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tỉnh từng bước hình thành hạ tầng dữ liệu số về tôn giáo trên địa bàn tỉnh.

Tỉnh Sơn La đã bước đầu triển khai xây dựng hạ tầng số và cơ sở dữ liệu chuyên ngành về tôn giáo theo Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 31/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chuyển đổi số tỉnh Sơn La giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 2665/QĐ-UBND ngày 28/10/2025 của UBND tỉnh phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số tỉnh Sơn La đến năm 2035, định hướng đến năm 2045; Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 phê duyệt Chiến lược dữ liệu tỉnh Sơn La đến năm 2030; Quyết định số 597/QĐ-UBND ngày 02/3/2026 ban hành kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Sơn La giai đoạn 2026 – 2030; Kế hoạch số 95/KH-UBND ngày 14/4/2025 về triển khai đề án tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030.

Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 78/KH-SDTTG ngày 25/11/2025 về chuyển đổi số năm 2026. Sở đã phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và vận hành cổng thông tin điện tử của Sở, đăng tải thông tin về chính sách, hoạt động tôn giáo, thủ tục hành chính và một số dữ liệu cơ bản về các tổ chức tôn giáo, tín đồ trên địa bàn. Cơ sở dữ liệu tôn giáo của tỉnh đang trong quá trình xây dựng, chuẩn hóa, hoàn thiện, tích hợp, cập nhật lên Cổng dữ liệu mở của tỉnh và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua VNeID theo định hướng của Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Tuy nhiên, dữ liệu còn phân tán, cập nhật thủ công dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ và khó khai thác. Hạ tầng trung tâm dữ liệu của tỉnh hỗ trợ một phần, nhưng đầu tư chuyên sâu cho lĩnh vực tôn giáo còn hạn chế so với nhu cầu quản lý trên địa bàn rộng lớn với 12 dân tộc anh em.

Về hạ tầng viễn thông được quan tâm chỉ đạo phát triển thông qua Quyết định số 1959/QĐ-UBND ngày 05/8/2025 của UBND tỉnh ban hành kế hoạch phát triển hạ tầng số trên địa bàn tỉnh Sơn La thời kỳ 2025 – 2030. Đến tháng 6/2026, tỷ lệ dân số phủ sóng di động 4G đạt 98,4%; phủ sóng di động 5G đạt 67,1%; mạng internet cáp quang đến 100% xã, phường và 80,03% bản (Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, 2026a). Trên 680 nghìn người dân Sơn La đã được kích hoạt thành công tài khoản định danh điện tử VNeID mức 1, mức 2, dần trở thành những nhân tố tích cực tham gia vào quá trình chuyển đổi số của tỉnh (Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La, 10/10/2025). Tuy nhiên, ở vùng sâu, vùng xa vẫn tồn tại khoảng trống về băng thông và thiết bị số.

3.2. Về cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực tôn giáo

Toàn bộ thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia (từ ngày 01/7/2025), cho phép người dân, tổ chức tôn giáo thực hiện thủ tục hành chính, tra cứu tình trạng hồ sơ trực tuyến thông qua mã số hồ sơ được cấp. Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Sơn La đã chủ động rà soát và đề xuất danh mục thủ tục hành chính mới, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp, hướng dẫn quy trình thủ tục thực hiện các dịch vụ này thuộc phạm vi quản lý của sở và cấp xã trên trang thông tin của sở. Tính đến tháng 6/2026, tổng số hồ sơ thủ tục hành chính do các sở, ngành tiếp nhận đã giải quyết đúng hạn đạt tỷ lệ 99,84%, cấp xã tiếp nhận giải quyết đúng hạn đạt 99,22%, trong đó có thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo (Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, 2026b).

Mặc dù tỷ lệ giải quyết các thủ tục hành chính đạt cao, tuy nhiên, thực tiễn triển khai dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực tôn giáo ở tỉnh Sơn La vẫn còn không ít rào cản mang tính đặc thù: phần lớn chức sắc, chức việc, người đại diện các điểm nhóm tôn giáo tại các xã vùng cao là người dân tộc thiểu số, tuổi cao, hạn chế về kỹ năng sử dụng máy tính, điện thoại thông minh và chữ viết phổ thông, dẫn đến việc nộp hồ sơ trực tuyến trên thực tế vẫn chủ yếu do cán bộ xã, phường hỗ trợ thực hiện, hoặc người dân vẫn lựa chọn nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa thay vì tự thao tác trên môi trường điện tử. Từ năm 2025 – 2026, tỉnh ghi nhận một số tiến bộ khi tích hợp với hệ thống quốc gia, nhưng số lượng hồ sơ được giải quyết hoàn toàn trực tuyến chưa cao, đặc biệt ở các xã vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới. Việc này cho thấy, dịch vụ công trực tuyến đã mang lại tiện ích ban đầu nhưng chưa thực sự phổ biến và hiệu quả toàn diện.

3.3. Kết nối liên thông dữ liệu số giữa các cơ quan

Sở Dân tộc và Tôn giáo và UBND cấp xã là đầu mối trực tiếp thu thập, cập nhật, chuẩn hóa thông tin chuyên ngành về các tổ chức tôn giáo, cơ sở thờ tự, chức sắc, chức việc, tín đồ… trên địa bàn để đưa vào hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu tôn giáo của tỉnh. Việc kết nối, khai thác dữ liệu được thực hiện thông qua nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu của tỉnh với hệ thống thông tin quốc gia, các bộ, ngành, sở, ban, ngành trong tỉnh và UBND cấp xã.

Việc kết nối liên thông dữ liệu giúp xác thực thông tin liên quan đến tôn giáo được nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, mức độ liên thông còn hạn chế ở cấp xã do hạ tầng yếu và thiếu đồng bộ phần mềm chuyên dụng. Một số dữ liệu riêng tư đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Công an và Sở để bảo đảm an ninh, nhưng quá trình trao đổi vẫn chủ yếu qua văn bản hoặc họp trực tiếp. Về tổng thể, liên thông dữ liệu đã có nền tảng nhưng chưa sâu, ảnh hưởng đến hiệu quả giám sát và xử lý tình huống phát sinh ở vùng sâu, vùng xa.

3.4. Ứng dụng nền tảng số trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo

Ứng dụng nền tảng số trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tôn giáo đã được triển khai nhưng chưa hình thành một nền tảng chuyên biệt về tôn giáo. Hoạt động tuyên truyền chủ yếu được lồng ghép trên các nền tảng số, như: cổng thông tin điện tử của tỉnh, trang thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật của tỉnh, trang thông tin của Sở Dân tộc và Tôn giáo, các sở, ban, ngành và UBND cấp xã. Các nội dung thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật tập trung: thông tin pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn; công tác QLNN về tín ngưỡng, tôn giáo; thông tin về các tổ chức tôn giáo… được đăng tải thường xuyên dưới dạng tin bài, infographic và video ngắn. Toàn tỉnh có hơn 2.990 tổ công nghệ số, đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa thông tin đến cơ sở, đặc biệt các xã vùng dân tộc thiểu số và khu vực biên giới (Chuyên trang chuyển đổi số tỉnh Sơn La). Đây là bước chuyển từ phương thức tuyên truyền trực tiếp sang kết hợp trực tuyến, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật cho cán bộ, chức sắc, chức việc và người dân ở địa bàn miền núi.

Ngoài các cổng thông tin điện tử, nhiều cơ quan trong tỉnh đã sử dụng mạng xã hội, như: zalo facebook, hệ thống truyền thanh thông minh và các nhóm zalo cộng đồng để phổ biến nhanh các quy định mới về thủ tục hành chính, chính sách dân tộc, tôn giáo và các văn bản pháp luật liên quan. Hình thức này đặc biệt phù hợp với điều kiện địa bàn rộng, giao thông khó khăn của tỉnh Sơn La, giúp giảm chi phí tổ chức hội nghị và tăng khả năng tiếp cận thông tin của cán bộ cơ sở. Tuy nhiên, việc khai thác các nền tảng mạng xã hội hiện nay vẫn chủ yếu phục vụ tuyên truyền văn bản, chưa khai thác mạnh các hình thức đa phương tiện, như: infographic, video ngắn, podcast, hỏi – đáp trực tuyến để tăng tính tương tác với chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo. Điều này làm giảm hiệu quả của chuyển đổi số trong công tác phổ biến pháp luật về tôn giáo, nhất là trong bối cảnh các hoạt động tôn giáo trên không gian mạng ngày càng phát triển.

3.5. Đào tạo, tập huấn kỹ năng số cho cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo

Những năm gần đây, cùng với quá trình triển khai Chương trình chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06 của Chính phủ, tỉnh Sơn La từng bước quan tâm nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có lực lượng làm công tác dân tộc, tôn giáo. Việc bồi dưỡng chủ yếu được lồng ghép trong các chương trình đào tạo về chuyển đổi số, cải cách hành chính, phổ biến pháp luật, bảo đảm an toàn thông tin và bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo.

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, việc đào tạo kỹ năng số được thực hiện theo các kế hoạch chuyển đổi số của tỉnh. Năm 2025 – 2026, UBND tỉnh Sơn La triển khai Kế hoạch thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số”, Kế hoạch bồi dưỡng tập huấn phát triển nguồn nhân lực số, trong đó yêu cầu các sở, ngành thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức chuyển đổi số; rà soát, kiện toàn tổ công nghệ số; cử cán bộ, công chức, viên chức tham gia các lớp bồi dưỡng kỹ năng số theo từng nhóm đối tượng; xây dựng chuyên mục “Bình dân học vụ số” trên Chuyên trang Chuyển đổi số tỉnh Sơn La. Đến nay, 100% sở, ban, ngành và cấp xã đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện, 99,4% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số (Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, 2025a). Đây là nền tảng quan trọng giúp đội ngũ công chức làm công tác tôn giáo từng bước nâng cao kỹ năng sử dụng các hệ thống quản lý văn bản điện tử, chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu và các nền tảng họp trực tuyến trong thực thi nhiệm vụ.

Trên cơ sở định hướng của tỉnh, năm 2025, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Sơn La đã tổ chức tập huấn về chuyển đổi số và an toàn an ninh mạng nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho đội ngũ công chức, hướng tới việc ứng dụng hiệu quả công nghệ vào công tác chuyên môn, hành chính và phục vụ người dân. Hiện nay, Sở đã sử dụng chữ ký số, phần mềm quản lý văn bản điều hành, hồ sơ công việc điện tử; 100% văn bản trao đổi nội bộ được thực hiện trên môi trường điện tử (Nguyễn Xuân Hoàng, 04/5/2026).

Bên cạnh việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, Sở Dân tộc và Tôn giáo đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các buổi tập huấn bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ cơ sở, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng nhằm phát huy vai trò của lực lượng này trong quá trình chuyển đổi số ở địa phương. Đồng thời, các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn người dân được đẩy mạnh, tập trung vào việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, khai thác và tiếp cận thông tin trên môi trường mạng một cách an toàn, hiệu quả. Những hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức và kỹ năng số của người dân, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước thu hẹp khoảng cách số giữa khu vực miền núi và đô thị, hướng tới phát triển kinh tế – xã hội bền vững và xây dựng chính quyền số, xã hội số trên địa bàn tỉnh.

4. Những thách thức đặt ra

Thứ nhất, hạ tầng số chưa đồng đều giữa các vùng.

Là tỉnh miền núi biên giới với địa hình bị chia cắt mạnh, hạ tầng viễn thông và công nghệ thông tin tại tỉnh Sơn La vẫn đang tồn tại sự chênh lệch rõ rệt giữa trung tâm đô thị và các vùng sâu, vùng xa. Mặc dù tỉnh đã đạt được những tiến bộ lớn với 100% số xã, phường được kết nối cáp quang và 98,4% tỷ lệ dân số phủ sóng 4G, nhưng thực tế toàn tỉnh vẫn còn khoảng 36 bản trắng sóng (chưa phủ sóng băng rộng di động 4G), 286 bản chưa có internet băng rộng cố định (Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, 2026b). Bên cạnh đó, việc tín hiệu Internet không ổn định tại các xã biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi tập trung đông đảo tín đồ, chức sắc và các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo đã trở thành điểm nghẽn kỹ thuật trực tiếp, cản trở việc triển khai các nền tảng quản lý tôn giáo trực tuyến cũng như việc truy cập dịch vụ công của tín đồ.

Thứ hai, thiếu cơ sở dữ liệu số và khả năng liên thông dữ liệu còn hạn chế. Công tác QLNN về tôn giáo tại tỉnh Sơn La đòi hỏi sự lưu trữ, xử lý thông tin liên tục về tín đồ, chức sắc, chức việc và điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành tôn giáo trên địa bàn tỉnh hiện vẫn đang trong giai đoạn xây dựng ban đầu, chưa hoàn thiện và đồng bộ. Việc thu thập, lưu trữ thông tin tại nhiều cơ sở chủ yếu vẫn dựa trên hồ sơ, giấy tờ truyền thống hoặc lưu trữ phân tán, dẫn đến việc thiếu tính liên thông giữa các cơ quan quản lý chuyên trách. Bên cạnh đó, chỉ mới có 6,86% dân số trưởng thành tại Sơn La đăng ký và áp dụng chữ ký số cá nhân, gây khó khăn lớn cho việc xác thực thông tin, liên thông dữ liệu tôn giáo với Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cổng dịch vụ công của tỉnh (Quàng Hưởng, 2025).

Thứ ba, năng lực số của cán bộ và chức sắc tôn giáo chưa đồng đều. Chất lượng nguồn nhân lực ứng dụng công nghệ thông tin là rào cản lớn đối với cả chủ thể quản lý lẫn đối tượng thụ hưởng trong công tác tôn giáo. Đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo ở cấp xã, kỹ năng số chuyên sâu và khả năng vận hành các phần mềm quản lý chuyên ngành còn hạn chế, đòi hỏi phải liên tục tổ chức các khóa tập huấn bổ sung. Đối với các chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo, khoảng cách kỹ thuật số lại càng thể hiện rõ nét khi phần lớn đồng bào sinh hoạt tôn giáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí không đồng đều. Nhiều người vẫn sử dụng thiết bị di động đời cũ, gặp rào cản về ngôn ngữ khi thao tác trên các giao diện nền tảng số hoặc thiếu kỹ năng an toàn thông tin, khiến việc triển khai hướng dẫn thủ tục hành chính tôn giáo qua môi trường mạng gặp nhiều trở ngại.

Thứ tư, kinh phí đầu tư cho chuyển đổi số còn hạn chế. Sơn La là tỉnh miền núi còn nhận trợ cấp ngân sách lớn, nguồn thu tại chỗ khiêm tốn nên việc phân bổ ngân sách cho chuyển đổi số nói chung và công tác tôn giáo nói riêng gặp nhiều hạn chế. Phần lớn ngân sách đầu tư công của tỉnh phải ưu tiên cho các dự án hạ tầng giao thông, xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục và phát triển kinh tế thiết yếu. Do đó, nguồn vốn dành riêng cho việc số hóa tài liệu tôn giáo, trang bị máy móc, máy chủ lưu trữ, nâng cấp phần mềm chuyên dụng hay thuê dịch vụ an ninh mạng cho cơ quan quản lý tôn giáo địa phương vẫn rất mỏng. Sự thiếu hụt kinh phí này khiến việc triển khai các đề án ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Tôn giáo thường rơi vào tình trạng cuốn chiếu, manh mún, thiếu tính đồng bộ và lâu dài.

Thứ năm, thách thức về an ninh mạng và thông tin xấu độc. Hoạt động tôn giáo trên không gian mạng ngày càng phổ biến cũng đặt ra yêu cầu quản lý mới. Việc truyền đạo, tổ chức sinh hoạt, quyên góp và chia sẻ thông tin qua mạng xã hội, nền tảng trực tuyến diễn ra nhanh và khó kiểm soát hoàn toàn. Sơn La là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, nơi các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok…) để phát tán các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Việc thiếu hụt các công cụ công nghệ tự động để rà quét, phát hiện, cảnh báo sớm và xử lý các thông tin xấu độc trên không gian mạng liên quan đến tôn giáo là thách thức lớn đối với lực lượng chức năng. Sự cố mất an toàn thông tin hoặc lộ dữ liệu riêng tư của cá nhân, tổ chức tôn giáo nếu xảy ra cũng có nguy cơ bị các đối tượng xấu lợi dụng để thêu dệt, gây phức tạp tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

5. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về tôn giáo. Tỉnh Sơn La cần tiến hành rà soát, kiểm kê, số hóa toàn bộ hồ sơ, tài liệu lưu trữ về tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, tín đồ, cơ sở thờ tự, đất đai tôn giáo và các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; đầu tư, nâng cấp phần mềm quản lý chuyên ngành thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp xã, bảo đảm cập nhật dữ liệu theo thời gian thực và hỗ trợ thống kê, phân tích, dự báo tình hình tôn giáo. Đồng thời, cần ban hành quy chế về quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu giữa Sở Nội vụ, Công an tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp, giảm trùng lặp thông tin và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Hai là, nâng cấp hạ tầng và tăng cường kết nối số cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với đặc điểm là tỉnh miền núi có địa bàn rộng, dân cư phân tán và nhiều xã vùng cao, vùng biên giới, phát triển hạ tầng số là điều kiện tiên quyết để triển khai hiệu quả chuyển đổi số trong công tác tôn giáo. Các ngành chức năng tỉnh Sơn La cần phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp viễn thông triển khai biện pháp mở rộng mạng cáp quang, phủ sóng 4G và 5G đến các bản vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo; đồng thời, nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông tại các trung tâm hành chính và địa bàn trọng điểm. Do đó, cần ưu tiên đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin, hệ thống hội nghị trực tuyến và thiết bị phục vụ xử lý hồ sơ điện tử cho cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp; phát triển các nền tảng số phục vụ tuyên truyền pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo bằng tiếng phổ thông kết hợp với ngôn ngữ dân tộc khi cần thiết; đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp viễn thông tham gia mở rộng hạ tầng số tại các khu vực khó khăn thông qua cơ chế xã hội hóa. Việc đồng bộ giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng dữ liệu sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách số, tạo điều kiện cho người dân và các tổ chức tôn giáo tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ số.

Ba là, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và chức sắc, chức việc tôn giáo. Theo định hướng của Nghị quyết số 17-NQ/TU, Sơn La cần phát triển nguồn nhân lực số đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền số và xã hội số. Biện pháp thực hiện bao gồm: xây dựng chương trình đào tạo thường xuyên về quản trị dữ liệu, khai thác cơ sở dữ liệu số, sử dụng phần mềm quản lý chuyên ngành, ứng dụng AI trong xử lý công việc, kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin và truyền thông số đối với đội ngũ cán bộ nội vụ các cấp. Đồng thời, cần tổ chức các lớp tập huấn cho chức sắc, chức việc và người đại diện các tổ chức tôn giáo về sử dụng dịch vụ công trực tuyến, tài khoản định danh điện tử, chữ ký số, kỹ năng khai thác thông tin chính thống và nhận diện thông tin sai lệch trên không gian mạng. Bên cạnh đó, cần lồng ghép hướng dẫn kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh, tra cứu văn bản pháp luật liên quan đến tôn giáo và thao tác nộp hồ sơ trực tuyến thông qua lực lượng Tổ công nghệ số cộng đồng tại địa phương.

Bốn là, tăng cường bảo đảm an ninh mạng và quản trị thông tin tôn giáo trên không gian số. Cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Sở Nội vụ, Công an tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng không gian mạng để truyền bá tôn giáo trái pháp luật, phát tán thông tin sai sự thật hoặc kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo. Đồng thời, cần đầu tư các giải pháp kỹ thuật nhằm bảo đảm an toàn hệ thống cơ sở dữ liệu tôn giáo, xây dựng cơ chế phân quyền truy cập, sao lưu và phục hồi dữ liệu, kiểm tra an toàn thông tin định kỳ. Mặt khác, cần phát triển các kênh thông tin chính thống của cơ quan QLNN trên môi trường số để chủ động cung cấp thông tin, giải đáp chính sách và định hướng dư luận xã hội, qua đó, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin chính xác của các tổ chức tôn giáo và người dân, góp phần xây dựng môi trường số an toàn, lành mạnh và phục vụ hiệu quả công tác QLNN về tôn giáo.

6. Kết luận

Chuyển đổi số đã và đang trở thành yêu cầu khách quan, là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình đổi mới hoạt động QLNN, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, tăng cường tính công khai, minh bạch và chất lượng phục vụ người dân, các tổ chức tôn giáo. Thực tiễn tại tỉnh Sơn La cho thấy, việc triển khai các chủ trương, chính sách về chuyển đổi số đã bước đầu đạt được những kết quả tích cực như từng bước phát triển hạ tầng số, mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ QLNN. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng chính quyền số và quản trị hiện đại, tỉnh vẫn cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng số, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành về tôn giáo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng nền quản trị nhà nước về tôn giáo hiện đại, minh bạch, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và chuyển đổi số quốc gia trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La (2021). Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 31/8/2021 về chuyển đổi số tỉnh Sơn La giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.
Báo Sơn La (15/11/2024). Các dân tộc đoàn kết, chung sức xây dựng tỉnh Sơn La phát triển xanh, nhanh, bền vững. https://baosonla.vn/xa-hoi/cac-dan-toc-doan-ket-chung-suc-xay-dung-tinh-son-la-phat-trien-xanh-nhanh-ben-vung-0lQ9tQGHg.html
Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BDTTG ngày 24/6/2025 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Dân tộc và Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo của phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/06/2020 phê duyệt chương trình Chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Chuyên trang chuyển đổi số tỉnh Sơn La. Danh sách Tổ chuyển đổi số cộng đồng tỉnh Sơn La. https://chuyendoiso.sonla.gov.vn/danh-sach-to-cong-nghe-cong-dong/danh-sach-to-chuyen-doi-so-cong-dong-tinh-son-la-725684
Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La (10/10/2025). Sơn La chuyển đổi số nhanh hơn, hiệu quả hơn, gần dân hơn. https://sodantoctongiao.sonla.gov.vn/chuyen-doi-so/son-la-chuyen-doi-so-nhanh-hon-hieu-qua-hon-gan-dan-hon-961901
Nguyễn Xuân Hoàng (04/5/2026). Sở Dân tộc và Tôn giáo đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc trong thời kỳ mới. https://sodantoctongiao.sonla.gov.vn/chuyen-doi-so/so-dan-toc-va-ton-giao-day-manh-chuyen-doi-so-nang-cao-hieu-qua-cong-tac-dan-toc-trong-thoi-ky-m-997458
Quàng Hưởng (2025). Đẩy mạnh học tập trên các nền tảng số. Báo Sơn La. https://baosonla.vn/chuyen-doi-so-tinh-son-la-giai-doan-2021-2025-dinh-huong-den-nam-2030/day-manh-hoc-tap-tren-cac-nen-tang-so-fyOerGgvg.html
Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Sơn La (2025). Kế hoạch số 78/KH-SDTTG ngày 25/11/2025 về chuyển đổi số 2026.
Thúy Hà (26/02/2026). Sơn La tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo và tháo gỡ khó khăn về thủ tục cấp đất cho các cơ sở tôn giáo. https://sonla.gov.vn/tin-chinh-tri/son-la-tang-cuong-quan-ly-nha-nuoc-ve-ton-giao-va-thao-go-kho-khan-ve-thu-tuc-cap-dat-cho-cac-co-986314
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2025). Kế hoạch số 95/KH-UBND ngày 14/4/2025 về triển khai Đề án “Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2025). Quyết định số 1959/QĐ-UBND ngày 05/8/2025 ban hành kế hoạch phát triển hạ tầng số trên địa bàn tỉnh Sơn La thời kỳ 2025 – 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2025). Quyết định số 2649/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 h phê duyệt Chiến lược dữ liệu tỉnh Sơn La đến năm 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2025). Quyết định số 2665/QĐ-UBND ngày 28/10/2025 phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số tỉnh Sơn La đến năm 2035, định hướng đến năm 2045.
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2026). Quyết định số 597/QĐ-UBND ngày 02/3/2026 ban hành kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Sơn La giai đoạn 2026 – 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2026a). Báo cáo số 389/BC-UBND ngày 19/6/2026 kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác cải cách hành chính 6 tháng đầu năm; nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2026b). Báo cáo số 406/BC-UBND ngày 22/6/2026 tình hình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị sau 01 năm 6 tháng triển khai.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1681/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Sơn La năm 2025.