Preserving and promoting the values of cultural heritage in association with sustainable tourism development in the new era
PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Hương
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: nguyenvanhuong279279@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong kỷ nguyên phát triển mới, di sản văn hóa không chỉ là những giá trị cần được bảo tồn, gìn giữ và trao truyền mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội và du lịch. Gắn bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch bền vững tạo điều kiện đưa di sản vào đời sống đương đại, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn. Bài viết làm rõ cơ sở pháp lý, một số vấn đề lý luận và mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch bền vững; phân tích vai trò của Nhà nước và sự tham gia của các chủ thể. Trên cơ sở đó, đề xuất cách tiếp cận theo hướng kết nối bảo tồn – phát huy giá trị – phát triển du lịch – tái tạo nguồn lực cho bảo tồn, góp phần hài hòa các mục tiêu văn hóa, kinh tế – xã hội và môi trường.
Từ khóa: Di sản văn hóa; bảo tồn; phát huy giá trị; du lịch bền vững; quản trị đa chủ thể.
Abstract: In the new era of development, cultural heritage is not only a set of values that needs to be preserved, safeguarded, and passed down across generations, but also an important resource for socio-economic and tourism development. Linking heritage preservation and the promotion of its values with sustainable tourism development creates opportunities to integrate heritage into contemporary life while generating additional resources for its preservation.This article clarifies the legal foundations, several theoretical issues, and the relationship between heritage preservation and the promotion of heritage values and sustainable tourism development. It analyzes the role of the State and the participation of relevant stakeholders. On that basis, the article proposes an approach centered on connecting heritage preservation, value promotion, tourism development, and the regeneration of resources for preservation, thereby contributing to a balance among cultural, economic, social, and environmental objectives.
Keywords: Cultural heritage; preservation; value promotion; sustainable tourism; multi-stakeholder governance.
1. Đặt vấn đề
Di sản văn hóa là bộ phận quan trọng của bản sắc dân tộc, chứa đựng những giá trị lịch sử, văn hóa, tri thức và tinh thần được cộng đồng gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ. Trong kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu bảo tồn không chỉ dừng ở việc gìn giữ mà cần gắn với phát huy giá trị, đưa di sản vào đời sống đương đại và trở thành nguồn lực cho phát triển.
Du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa, tạo điều kiện kết nối di sản với cộng đồng và thị trường, hình thành sản phẩm, trải nghiệm, việc làm và thu nhập. Ngược lại, phát triển du lịch hợp lý có thể góp phần quảng bá, bảo tồn và phát huy di sản. Tuy nhiên, khai thác thiếu kiểm soát có thể dẫn đến thương mại hóa, quá tải, tác động đến cảnh quan, môi trường và làm suy giảm tính xác thực. Vì vậy, bảo tồn, phát huy giá trị di sản và phát triển du lịch cần được đặt trong quan hệ hài hòa, hướng tới phát triển bền vững.
Thực hiện mục tiêu đó, đòi hỏi có sự tham gia của nhiều chủ thể: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, định hướng, điều phối và giám sát; cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở nghiên cứu – giáo dục cùng tham gia bảo tồn, phát huy và tạo lập giá trị mới. Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số mở thêm phương thức bảo tồn, quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch. Chính vì vậy, bài viết tập trung làm rõ cơ sở pháp lý, cơ sở lý luận và mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch bền vững; phân tích vai trò của Nhà nước và các chủ thể, qua đó đề xuất định hướng kết nối bảo tồn – phát huy giá trị – phát triển du lịch – tái tạo nguồn lực cho bảo tồn.
2. Cơ sở chính trị pháp lý về kết nối bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch
Nhận thức và định hướng chính sách của Việt Nam về văn hóa, di sản và du lịch đang chuyển theo hướng coi văn hóa là nguồn lực nội sinh của phát triển, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Đây là nền tảng để kết nối bảo tồn, phát huy giá trị di sản với phát triển du lịch bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực cho phát triển nhanh, bền vững; nhấn mạnh xử lý hài hòa quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa đời sống thực và không gian số; phát triển công nghiệp văn hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động nguồn lực xã hội. Quan điểm Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, cùng vai trò của doanh nhân, trí thức và các lực lượng xã hội, tạo cơ sở cho quản trị đa chủ thể.
Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 và Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa giai đoạn 2025 – 2035 tiếp tục cụ thể hóa yêu cầu huy động nguồn lực nhà nước và xã hội, phát triển công nghiệp văn hóa, hạ tầng và nền tảng số, bảo tồn, phát huy di sản và phát triển nguồn nhân lực.
Ở cấp độ pháp luật chuyên ngành, Luật Di sản văn hóa năm 2024 tạo khung pháp lý cho bảo vệ và phát huy giá trị di sản, trong đó có ứng dụng khoa học, công nghệ và sự tham gia của cộng đồng. Luật Du lịch năm 2017 xác lập yêu cầu phát triển du lịch bền vững, gắn du lịch với bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát huy giá trị văn hóa. Tiếp đến, ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 147/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tiếp tục định hướng phát triển du lịch văn hóa gắn với bảo tồn, phát huy di sản, ứng dụng công nghệ và huy động nguồn lực xã hội.
Như vậy, khung thể chế đang từng bước hình thành mối liên kết văn hóa – di sản – du lịch – phát triển bền vững. Tuy nhiên, thể chế mới là điều kiện cần; hiệu quả còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện, phối hợp liên ngành, sự tham gia thực chất của cộng đồng, trách nhiệm của doanh nghiệp và khả năng kiểm soát tác động tiêu cực của du lịch.
3. Nội dung kết nối bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch bền vững
3.1. Khái quát về bảo tồn, phát huy giá trị di sản và du lịch bền vững
(1) Bảo tồn di sản văn hóa. Là quá trình bảo vệ, gìn giữ và duy trì những giá trị cốt lõi, bảo đảm di sản được lưu giữ, trao truyền và tiếp tục tồn tại trong đời sống cộng đồng. Bảo tồn không đồng nghĩa giữ nguyên mọi yếu tố ở trạng thái bất biến mà phải bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và những giá trị cốt lõi trong quá trình thích ứng với thay đổi. Vì vậy, bảo tồn là nền tảng của phát huy giá trị.
(2) Phát huy giá trị di sản văn hóa. Là quá trình đưa những giá trị được bảo tồn vào đời sống đương đại thông qua nghiên cứu, giáo dục, thực hành, truyền thông, sáng tạo, trải nghiệm và khai thác phù hợp. Phát huy không chỉ là giới thiệu hay quảng bá mà làm cho di sản tiếp tục có ý nghĩa đối với cộng đồng và tạo ra giá trị mới trên cơ sở tôn trọng giá trị cốt lõi. Nếu bảo tồn trả lời “giữ gìn cái gì và bằng cách nào?” thì phát huy trả lời “làm thế nào để giá trị được gìn giữ tiếp tục sống và tạo giá trị?”. Do đó, bảo tồn tạo nền tảng cho phát huy, còn phát huy tạo động lực và nguồn lực cho bảo tồn.
(3) Du lịch bền vững. Bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm suy giảm khả năng đáp ứng của các thế hệ tương lai. Với du lịch dựa trên di sản, tính bền vững còn đòi hỏi tôn trọng giá trị, tính xác thực, tính toàn vẹn và sức chịu tải. Vì vậy, hiệu quả không chỉ đo bằng số lượng khách hay doanh thu mà còn bằng khả năng bảo tồn tài nguyên, mức độ tham gia và hưởng lợi của cộng đồng, chất lượng trải nghiệm và tác động lâu dài đến môi trường, văn hóa.
(4) Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản và phát triển du lịch bền vững. Được xem như một chuỗi liên kết, đồng thời là vòng tuần hoàn tạo giá trị: bảo tồn tạo nền tảng về giá trị và tính xác thực; phát huy chuyển hóa các giá trị thành hình thức tiếp cận, trải nghiệm và sáng tạo; du lịch tạo không gian lan tỏa và chuyển hóa thành giá trị kinh tế – xã hội; nguồn lực và động lực từ du lịch có thể được tái đầu tư cho bảo tồn và phát huy. Quan hệ chỉ tích cực khi du lịch được kiểm soát theo sức chịu tải, bảo đảm lợi ích cộng đồng và không làm tổn hại giá trị cốt lõi.
Bảo tồn → Phát huy giá trị → Tạo sản phẩm/Trải nghiệm du lịch → Tạo giá trị kinh tế – xã hội → Tái đầu tư cho bảo tồn.
(5) Quản trị đa chủ thể trong bảo tồn và phát huy di sản. Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy di sản và du lịch không thể duy trì chỉ bằng một cơ quan hay một ngành. Nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở nghiên cứu – giáo dục và các chủ thể khác cần cùng tham gia. Nhà nước kiến tạo thể chế, định hướng, điều phối và giám sát; cộng đồng gìn giữ, thực hành và trao truyền; doanh nghiệp đầu tư, sáng tạo sản phẩm và kết nối thị trường; các tổ chức nghiên cứu, giáo dục cung cấp tri thức và nhân lực. Quản trị đa chủ thể giúp cân bằng lợi ích, kiểm soát tác động tiêu cực và chuyển từ khai thác đơn chiều sang đồng tạo lập, tái tạo giá trị.
3.2. Sự kết nối bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch bền vững
Việt Nam có nguồn tài nguyên di sản phong phú, tạo nền tảng cho bảo tồn, phát huy và phát triển du lịch. Theo số liệu cập nhật tháng 8/2026, cả nước có hơn 40.000 di tích và gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê, trong đó có 149 di tích quốc gia đặc biệt, 3.688 di tích quốc gia, gần 12.000 di tích cấp tỉnh, thành phố, 735 di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia và 357 hiện vật, nhóm hiện vật là Bảo vật quốc gia (Thanh Thảo, 2026). Việt Nam có 37 di sản được UNESCO ghi danh, gồm 9 Di sản thế giới, 17 di sản văn hóa phi vật thể và 11 di sản tư liệu (Việt Cường, 2026).
Các di tích, lễ hội, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công, ẩm thực, tri thức dân gian và thực hành văn hóa cộng đồng đều có thể trở thành thành tố của sản phẩm du lịch nếu được lựa chọn và phát huy phù hợp. Du lịch tạo không gian giới thiệu, trải nghiệm và lan tỏa di sản, đồng thời tạo việc làm, thu nhập và cơ hội cải thiện sinh kế.
Một là, phát triển sản phẩm và trải nghiệm du lịch dựa trên giá trị di sản.
Cần chuyển từ sử dụng di sản như địa điểm tham quan sang chuyển hóa những giá trị đặc trưng thành sản phẩm và trải nghiệm có chiều sâu. Thực tiễn tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) cho thấy, một hướng phát huy giá trị di sản theo cách tiếp cận này. Thay vì chỉ tổ chức tham quan di tích vào ban ngày, Hà Nội đã phát triển sản phẩm trải nghiệm đêm, trong đó sử dụng công nghệ trình chiếu 3D Mapping để kể lại câu chuyện về đạo học, khoa cử và truyền thống trọng học, trọng tài của dân tộc. Các bộ phim, như: Tinh hoa đạo học, Sử đá lưu danh và Vun đắp hiền tài giúp chuyển những giá trị lịch sử, giáo dục và tri thức vốn khó quan sát trực tiếp thành trải nghiệm văn hóa – nghệ thuật đương đại.
Điểm đáng chú ý là giá trị mới không được tạo ra bằng cách thay đổi bản thân di sản, mà bằng cách đổi mới phương thức diễn giải và trải nghiệm di sản. Từ một không gian di tích lịch sử, Văn Miếu – Quốc Tử Giám được mở rộng thành không gian trải nghiệm văn hóa ban đêm, trong đó công nghệ ánh sáng, âm thanh và 3D Mapping được sử dụng để kết nối ký ức về khoa cử, đạo học và truyền thống trọng hiền tài với nhu cầu trải nghiệm của công chúng đương đại. Đây là một ví dụ cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản có thể đi xa hơn việc số hóa tư liệu, hướng tới tạo lập những phương thức tiếp cận và giá trị mới trên nền tảng di sản gốc (Tuệ Vy, 18/9/2026). Vì vậy, giá trị của di sản còn nằm ở câu chuyện lịch sử, tri thức, ký ức cộng đồng, nghi lễ, nghề truyền thống và lối sống. Du khách có thể tìm hiểu lịch sử, tham gia hoạt động văn hóa, trải nghiệm nghề, ẩm thực và tương tác với cộng đồng. Tuy nhiên, không phải mọi di sản đều cần khai thác trực tiếp cho du lịch; việc lựa chọn phải căn cứ vào tính xác thực, toàn vẹn, sức chịu tải và khả năng tiếp nhận của cộng đồng.
Hai là, gắn phát huy di sản với cộng đồng và sinh kế địa phương.
Cộng đồng, nhất là với di sản phi vật thể, là chủ thể thực hành, trao truyền và sáng tạo. Vì vậy, cần chuyển từ “đối tượng thụ hưởng” sang “chủ thể tham gia và đồng tạo lập giá trị”. Người dân có thể tham gia cung ứng dịch vụ, giới thiệu văn hóa, phát triển sản phẩm, tổ chức trải nghiệm, sản xuất hàng thủ công và ẩm thực. Lợi ích kinh tế hợp lý trở thành động lực gìn giữ di sản; ngược lại, nếu cộng đồng bị đứng ngoài hoặc lợi ích phân bổ không hợp lý, liên kết giữa cộng đồng và di sản có thể suy giảm.
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một ví dụ tiêu biểu cho vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể (Cục Di sản văn hóa, 20/9/2026). Giá trị của Quan họ không chỉ nằm ở làn điệu dân ca mà còn được duy trì thông qua không gian sinh hoạt, thực hành, giao lưu và trao truyền giữa các thế hệ. Việc đưa Quan họ vào các hoạt động văn hóa và du lịch vì vậy cần được đặt trong mối quan hệ với chính cộng đồng đang thực hành di sản, thay vì chỉ xem Quan họ như một tiết mục biểu diễn phục vụ du khách. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm rằng hoạt động du lịch vừa tạo cơ hội quảng bá và tạo sinh kế, vừa góp phần duy trì môi trường thực hành, trao truyền và tiếp tục sáng tạo của cộng đồng.
Điểm cốt lõi là lợi ích từ phát triển du lịch cần được gắn với trách nhiệm và quyền tham gia của cộng đồng. Khi người dân có cơ hội tham gia vào quá trình nhận diện giá trị, xây dựng sản phẩm, tổ chức trải nghiệm và hưởng lợi từ di sản, họ không chỉ là người cung cấp dịch vụ mà trở thành một chủ thể của quá trình bảo tồn và phát triển. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành mối liên kết lâu dài giữa bảo tồn di sản, phát triển du lịch và sinh kế địa phương.
Ba là, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong kết nối di sản – du lịch.
Số hóa tư liệu, cơ sở dữ liệu, bản đồ số, thuyết minh đa phương tiện, thực tế ảo, thực tế tăng cường và kể chuyện số mở ra phương thức mới để bảo tồn, quảng bá và trải nghiệm di sản. Tuy nhiên, chuyển đổi số không nên chỉ dừng ở lưu trữ mà cần hướng tới kết nối, sáng tạo và tạo giá trị. Dữ liệu di sản có thể hỗ trợ thiết kế sản phẩm, kể chuyện điểm đến, cá nhân hóa trải nghiệm và quảng bá; đồng thời, bảo đảm tính chính xác, quyền sở hữu trí tuệ, quyền của cộng đồng và bảo vệ các giá trị văn hóa nhạy cảm theo Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030.
Bốn là, vai trò của Nhà nước và quản trị đa chủ thể.
Kết nối di sản với du lịch là quá trình liên ngành, liên cấp. Nhà nước cần kiến tạo thể chế, định hướng, điều phối, hỗ trợ và giám sát; cơ quan văn hóa bảo vệ giá trị cốt lõi, tính xác thực và toàn vẹn; cơ quan du lịch định hướng sản phẩm, thị trường và chất lượng dịch vụ; chính quyền địa phương điều phối nguồn lực, lợi ích và không gian phát triển. Cần tăng cường phối hợp giữa văn hóa, du lịch, quy hoạch, môi trường, tài chính, khoa học và công nghệ thay vì quản lý theo các “không gian ngành” tách biệt.
Cộng đồng là chủ thể gìn giữ và trao truyền; doanh nghiệp đầu tư, sáng tạo và kết nối thị trường; cơ sở nghiên cứu, giáo dục và tổ chức xã hội cung cấp tri thức, nhân lực; du khách vừa là người trải nghiệm vừa góp phần lan tỏa giá trị.
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp văn hóa tại Hà Nội cho thấy, vai trò của sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm và giá trị mới. Nhà nước tạo môi trường và định hướng; doanh nghiệp cung cấp nguồn lực, năng lực tổ chức và kết nối thị trường; cộng đồng, nghệ nhân và những người thực hành di sản cung cấp tri thức, kỹ năng và bảo đảm tính xác thực của di sản. Trường hợp phường rối Đào Thục là một minh họa cho hướng tiếp cận này, khi giá trị và tri thức văn hóa của cộng đồng được kết nối với các nguồn lực và năng lực sáng tạo, tổ chức để hình thành những sản phẩm văn hóa phù hợp với đời sống đương đại (Giang Nam, 2026). Điều này chứng minh rằng, quản trị di sản không nên được tiếp cận theo mô hình Nhà nước quản lý – các chủ thể khác thực hiện, mà cần chuyển sang cơ chế cùng tham gia và đồng tạo lập giá trị. Đây cũng là cơ sở hình thành hệ sinh thái văn hóa – du lịch, trong đó Nhà nước kiến tạo “luật chơi”, doanh nghiệp đầu tư và sáng tạo, còn cộng đồng giữ vai trò chủ thể văn hóa và đồng thời được hưởng lợi từ quá trình phát triển. Các bên cần cùng tham gia xác định giá trị cần bảo tồn, giới hạn khai thác, phân bổ lợi ích và trách nhiệm. Nhà nước tạo “luật chơi”, điều phối xung đột và bảo đảm công bằng lợi ích.
Năm là, hình thành vòng tuần hoàn giá trị giữa di sản và du lịch.
Mối quan hệ trên có thể hình dung như một vòng tuần hoàn giá trị. Du lịch không phải đích đến cuối cùng của bảo tồn mà là một phương thức phát huy giá trị và tạo nguồn lực cho bảo tồn; ngược lại, bảo tồn tốt và phát huy đúng giá trị là điều kiện duy trì sức hấp dẫn của điểm đến trong dài hạn. Thực tiễn tại Hội An cho thấy, mối quan hệ này có thể được cụ thể hóa thông qua việc gắn nguồn lực từ hoạt động tham quan, du lịch với công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản. Giá trị của đô thị cổ được bảo tồn và phát huy tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến; hoạt động du lịch trên nền tảng đó tạo ra nguồn lực kinh tế – xã hội, qua đó góp phần duy trì và tái tạo những giá trị làm nên sức hấp dẫn của di sản (Lưu Hương, 2023). Qua trường hợp Hội An có thể thấy, du lịch không chỉ là hoạt động khai thác giá trị di sản mà còn có thể trở thành nguồn lực hỗ trợ trở lại cho bảo tồn và phát huy di sản. Vì vậy, thước đo thành công bao gồm cả bảo vệ di sản, sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng, khả năng trao truyền giá trị và bảo vệ môi trường .
Hình 1: Vòng tuần hoàn giá trị di sản – du lịch

Tác giả đề xuất, 2026
4. Một số giải pháp
Thứ nhất, thực tế đã chỉ ra mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị và phát triển du lịch ở một số nơi chưa thật sự hài hòa; khai thác còn thiên về tăng khách và doanh thu, trong khi sức chịu tải, tính xác thực và toàn vẹn của di sản chưa được quan tâm đầy đủ. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “khai thác di sản” sang “phát triển dựa trên bảo tồn và phát huy giá trị di sản”. Giá trị cốt lõi, tính xác thực, tính toàn vẹn và sức chịu tải phải là giới hạn của khai thác; cần đánh giá tác động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trước khi phát triển sản phẩm.
Thứ hai, nâng cao vai trò kiến tạo và điều phối của Nhà nước. Thời gian qua, việc phối hợp giữa các chủ thể, về cơ chế phối hợp chưa thực sự đồng bộ; sự tham gia của cộng đồng và nguồn lực xã hội chưa được phát huy đầy đủ. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và cơ chế phối hợp giữa văn hóa, du lịch, quy hoạch, môi trường, khoa học và công nghệ; tăng cường điều phối lợi ích, kiểm tra, giám sát và xử lý hoạt động gây tổn hại di sản.
Thứ ba, đặt cộng đồng vào vị trí chủ thể. Hiện nay, các giá trị di sản không phải lúc nào cũng được chuyển hóa thành sản phẩm, trải nghiệm có chiều sâu; việc khai thác còn thiên về tham quan và giá trị bề nổi, chưa khai thác tốt câu chuyện, tri thức, ký ức và không gian văn hóa. Do đó, cần tạo cơ chế để người dân tham gia nhận diện giá trị, xây dựng sản phẩm, tổ chức hoạt động du lịch, giám sát khai thác và phân phối lợi ích; khuyến khích du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm, làng nghề và sản phẩm dựa trên tri thức, kỹ năng và thực hành văn hóa. Thực tiễn bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ Bắc Ninh cho thấy vai trò của cộng đồng và không gian thực hành có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì sức sống của di sản văn hóa phi vật thể. Vì vậy, chính sách phát triển du lịch cần tạo điều kiện để cộng đồng không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn tham gia vào quá trình nhận diện, khai thác, giám sát và phát huy giá trị di sản, đồng thời được hưởng lợi phù hợp từ quá trình phát triển.
Thứ tư, phát triển sản phẩm du lịch có chiều sâu văn hóa. Do đó, cần tăng cường liên kết di sản với cảnh quan, ẩm thực, lễ hội, làng nghề truyền thống, nghệ thuật văn hóa dân tộc và đời sống cộng đồng; chú trọng đến các hoạt động kể chuyện, trải nghiệm trực tiếp và sáng tạo sản phẩm phù hợp từng nhóm du khách trong nước và nước ngoài, thay vì phụ thuộc vào số lượng du khách.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với phát huy giá trị. Trong bối cảnh chuyển đổi số còn đứng trước yêu cầu từ số hóa dữ liệu sang tạo lập giá trị từ dữ liệu; việc kết nối dữ liệu, nền tảng dùng chung và nội dung số còn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Chính vì vậy, cần xây dựng và liên thông cơ sở dữ liệu di sản, chuẩn hóa số hóa, ứng dụng công nghệ trong bảo tồn, quản lý, quảng bá và thuyết minh; phát triển trải nghiệm số, bản đồ số, thực tế tăng cường và thực tế ảo, đồng thời bảo đảm quyền cộng đồng, sở hữu trí tuệ, bảo mật và tính chính xác. Việc ứng dụng công nghệ số tại Hoàng thành Thăng Long cho thấy, công nghệ có thể được sử dụng không chỉ để lưu trữ và cung cấp thông tin mà còn để diễn giải lịch sử, tái hiện các lớp không gian và tạo ra những hình thức trải nghiệm mới cho công chúng. Điều này nhấn mạnh việc chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản cần được tiếp cận theo hướng tạo lập giá trị từ dữ liệu, giúp công chúng tiếp cận những giá trị lịch sử và văn hóa vốn khó quan sát trực tiếp, đồng thời mở rộng khả năng quảng bá và phát huy di sản trong đời sống đương đại (Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội, 30/12/2025).
Thứ sáu, theo đó, cơ chế tạo lập và phân phối lợi ích từ du lịch cho bảo tồn và cộng đồng cần được quan tâm hơn. Nếu nguồn lực tạo ra từ hoạt động du lịch không quay trở lại tương xứng cho bảo tồn, cộng đồng và môi trường thì vòng tuần hoàn giữa di sản và du lịch khó bền vững. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu phân bổ một phần nguồn thu cho tu bổ, bảo vệ di sản, duy trì hoạt động văn hóa và hỗ trợ cộng đồng; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào bảo tồn theo nguyên tắc trách nhiệm xã hội và cùng tạo lập giá trị. Việc phân phối lợi ích cần bảo đảm hài hòa giữa các chủ thể, tạo động lực để cộng đồng tiếp tục gìn giữ, thực hành và trao truyền di sản, đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp tham gia có trách nhiệm vào quá trình bảo tồn và phát triển bền vững.
Thứ bảy, hình thành cơ chế quản trị đa chủ thể và tăng cường liên kết. Nhà nước tạo lập “luật chơi” và điều phối lợi ích; cộng đồng tham gia đồng quản trị; doanh nghiệp đầu tư và sáng tạo; các tổ chức nghiên cứu, giáo dục cung cấp tri thức và nhân lực. Đây là cơ sở chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị hệ sinh thái văn hóa – du lịch. Từ đó, yêu cầu đối với Việt Nam trong thời gian tới là: bảo tồn có trách nhiệm, phát huy có chọn lọc, khai thác có kiểm soát, chia sẻ lợi ích công bằng và quản trị có sự tham gia.
5. Kết luận
Trong kỷ nguyên phát triển mới, di sản văn hóa không chỉ là những giá trị cần bảo tồn mà còn là nguồn lực quan trọng của phát triển. Gắn bảo tồn và phát huy giá trị di sản với du lịch bền vững giúp đưa di sản vào đời sống đương đại, mở rộng không gian trải nghiệm và lan tỏa giá trị văn hóa, đồng thời tạo thêm nguồn lực cho cộng đồng và bảo tồn. Mối quan hệ này chỉ bền vững khi tôn trọng giá trị cốt lõi, tính xác thực, tính toàn vẹn và sức chịu tải của di sản; bảo đảm lợi ích cộng đồng và kiểm soát tác động tiêu cực. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và điều phối; cộng đồng, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở nghiên cứu – giáo dục và các chủ thể khác cùng tham gia tạo lập và phân phối giá trị.
Vì vậy, cần chuyển từ “khai thác di sản cho du lịch” sang “phát triển du lịch dựa trên bảo tồn và phát huy giá trị di sản”: bảo tồn tạo nền tảng, phát huy tạo giá trị, du lịch tạo nguồn lực và động lực, còn nguồn lực từ phát triển được tái đầu tư cho bảo tồn và cộng đồng. Đây là cơ sở hình thành vòng tuần hoàn giá trị di sản – du lịch, góp phần hài hòa bảo tồn văn hóa, phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Cục Di sản văn hóa (20/9/2026). Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. https://dsvh.gov.vn/danh-muc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-1789
Giang Nam (23/4/2026). Đồng hành sáng tạo sản phẩm công nghiệp văn hóa. Báo Nhân dân.https://nhandan.vn/dong-hanh-sang-tao-san-pham-cong-nghiep-van-hoa-post957716.html
Lưu Hương (04/4/2023). Nhiều ý kiến xung quanh phương án thu vé tham quan khu phố cổ Hội An. Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/nhieu-y-kien-xung-quanh-phuong-an-thu-ve-tham-quan-khu-pho-co-hoi-an-102230404172114483.htm
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Quốc hội (2024). Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 – 2035.
Quốc hội (2017). Luật Du lịch năm 2017.
Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Thanh Thảo (26/8/2026). Cục trưởng Cục Di sản văn hóa: Thiết lập cơ chế phản ứng nhanh, đưa cổ vật quý về nước. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/cuc-truong-cuc-di-san-van-hoa-thiet-lap-co-che-phan-ung-nhanh-dua-co-vat-quy-ve-nuoc-post984349.html
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030.
Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội (30/12/2025). Kinh đô Thăng Long” – Khi di sản nghìn năm được đánh thức bằng công nghệ 3D Mapping và trải nghiệm số. https://hoangthanhthanglong.vn/kinh-do-thang-long-khi-di-san-nghin-nam-duoc-danh-thuc-bang-cong-nghe-3d-mapping-va-trai-nghiem-so/
Tuệ Vy (18/9/2026). “Vun đắp hiền tài” – Kể chuyện Quốc Tử Giám bằng công nghệ 3D Mapping.https://sovhtt.hanoi.gov.vn/vun-dap-hien-tai-ke-chuyen-quoc-tu-giam-bang-cong-nghe-3d-mapping/
Việt Cường (19/8/2026). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phải kiến tạo di sản cho tương lai. VOV. https://vov.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-phai-kien-tao-di-san-cho-tuong-lai-post1325552.vov



