The Formation and Development Process of Smart Green Industrial Complexes in South Korea
TS. Tống Thùy Linh
Viện Nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương
Email: tongthuylinh@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Khu công nghiệp xanh – thông minh (Smart Green Industrial Complex – SGIC) là một mô hình chuyển đổi công nghiệp đặc thù của Hàn Quốc, kết hợp ba trục: số hóa sản xuất và hạ tầng; chuyển đổi năng lượng theo hướng hiệu quả, tự chủ và tái tạo; cải thiện môi trường, không gian lao động. Thuật ngữ này được Chính phủ Hàn Quốc sử dụng chính thức trong “Smart Green Industrial Complex Implementation Strategy” công bố ngày 17/9/2020. Đến tháng 12/2020, khái niệm, cơ chế chỉ định, cơ chế thúc đẩy và tổ chức thực hiện được luật hóa. Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: các yếu tố thúc đẩy Hàn Quốc triển khai SGIC; một số khái niệm và khung pháp lý liên quan; các giai đoạn phát triển của SGIC. Trên cơ sở đó, đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Từ khóa: Khu công nghiệp; xanh – thông minh; chuyển đổi công nghiệp; Hàn Quốc; Việt Nam.
Abstract: The Smart Green Industrial Complex (SGIC) is a distinct South Korean model of industrial transformation that integrates three key pillars: the digitalization of production and infrastructure; an energy transition focused on efficiency, autonomy, and renewable sources; and the improvement of the working environment and spatial layout. The South Korean government officially adopted this term in the “Smart Green Industrial Complex Implementation Strategy,” announced on September 17, 2020. By December 2020, the concept, designation criteria, promotion mechanisms, and implementation framework had been codified into law. This article focuses on three main areas: the drivers behind South Korea’s implementation of SGICs; relevant concepts and the legal framework; and the stages of SGIC development. Based on this analysis, the article proposes policy implications for Vietnam.
Keywords: Industrial park; green and smart; industrial transformation; South Korea; Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Ngày 14/7/2020, Chính phủ Hàn Quốc công bố “Kế hoạch tổng thể về chính sách kinh tế mới” (hay còn gọi là Thỏa thuận mới của Hàn Quốc/Chính sách mới của Hàn Quốc –한국판뉴딜– Korean New Deal). Với triết lý khủng hoảng bắt nguồn từ đại dịch Covid-19 vừa tạo ra nguy cơ, vừa tạo ra cơ hội cải cách thể chế, Hàn Quốc mong muốn thực hiện phát triển quốc gia đối phó với những thay đổi và tương lai bất định (Deal) theo cách thức mới, chiến lược mới (New) thông qua phát huy sức mạnh và tiềm năng của Hàn Quốc (Korean). Chính phủ nước này xác định 10 nhiệm vụ tiêu biểu, trong đó, xây dựng và phát triển khu công nghiệp xanh-thông minh (Khu công nghiệp xanh-thông minh ) (스마트그린산업단지– Smart Green Industrial Complex – SGIC) là một nhiệm vụ thuộc nhóm hội tụ kỹ thuật số và xanh (Các bộ liên hợp, 14/7/2020).
Hàn Quốc đẩy mạnh xây dựng SGIC bắt nguồn từ một số yếu tố sau:
(1) Sự xuống cấp về hạ tầng và cấu trúc của các khu công nghiệp Hàn Quốc là quốc gia có hệ thống khu công nghiệp (산업단지) tương đối đa dạng theo mục đích, quy mô, chủ thể chỉ định và vị trí. Lịch sử các khu công nghiệp ở nước này bắt đầu từ năm 1962 khi khu công nghiệp Ulsan được thành lập để phục vụ các nhà máy thép, lọc dầu và phân bón giai đoạn đầu và các ngành công nghiệp chế tạo máy móc như đóng tàu, ô tô ở giai đoạn sau (Cục Lưu trữ Quốc gia Hàn Quốc, Bộ An toàn Hành chính, n.d). Với chính sách phát triển công nghiệp thay đổi cho từng thời kỳ: công nghiệp nhẹ (những năm 1960), công nghiệp nặng và hóa chất (những năm 1970-1980), công nghệ cao và tri thức (những năm 1990), số lượng khu công nghiệp ở Hàn Quốc năm 2024 đã mở rộng hơn 1.300 trên cả nước (Lee, Seul-gi, 12/9/2024). Tuy nhiên, nhiều khu công nghiệp đã trở nên lỗi thời về cơ sở hạ tầng, năng suất thấp nên yêu cầu chuyển đổi thành khu công nghiệp tiên tiến ngày càng trở nên cấp bách.
(2) Nâng cao vai trò kinh tế của các khu công nghiệp
Số liệu của năm 2016, các khu công nghiệp chiếm 69,6% tổng giá trị sản xuất ngành chế tạo, 74,7% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành chế tạo và 49,2% tổng việc làm trong ngành chế tạo của Hàn Quốc (Korea Industrial Complex Corporation, 7/11/2018). Tuy nhiên, từ cuối thập niên 2010, nhiều khu công nghiệp đối mặt với tình trạng hiệu suất năng lượng thấp, nguy cơ ô nhiễm lớn, phát thải carbon lớn… Ví dụ, số liệu năm 2019, tổng lượng phát thải khí nhà kính của các khu công nghiệp chiếm tới 76,6% tổng lượng phát thải của toàn bộ ngành công nghiệp Hàn Quốc (Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc, 6/1/2022). Các khu công nghiệp tiêu thụ khoảng 40% năng lượng quốc gia nên là đối tượng ưu tiên chuyển đổi xanh (Ministry of Culture, Sports and Tourism, 17/9/2020).
(3) Tác động của đại dịch Covid-19
Đại dịch Covid-19 làm gia tăng nhu cầu về dịch vụ từ xa, giám sát từ xa, hội nghị trực tuyến và quản trị sản xuất không tiếp xúc. Những yêu cầu như khắc phục gián đoạn sản xuất, tái cơ cấu doanh nghiệp, phục hồi kinh tế theo hướng bền vững, củng cố mạng lưới an toàn việc làm dần xuất hiện sau đại dịch. Trong bối cảnh đó, khu công nghiệp xanh – thông minh vừa là chiến lược nhằm vực dậy nền kinh tế khu vực hậu đại dịch, vừa giúp thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia công bằng (Yonhap News Agency, 17/9/2020).
(4) Tác động từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cuộc cách mạnh công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất dự trên dự liệu AI, IoT, nền tảng điện toán và giám sát thời gian thực. Để thích ứng tốt và duy trì sức cạnh tranh của nền kinh tế, Hàn Quốc dự định xây dựng 15 khu công nghiệp xanh – thông minh vào năm 2025 (IEA, 26/5/2026) với các trung tâm mô phỏng quy trình sản xuất, áp dụng hệ thống giám sát từ xa với việc phát thải các chất hóa học độc hại, sử dụng trí tuệ nhân tạo và máy bay không người lái.
(5) Biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn thương mại xanh
Trước tình trạng biến đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu, các khu công nghiệp xanh – thông minh đại diện cho một lợi thế cạnh tranh mới. Không những giúp giảm tiêu thụ năng lượng và ô nhiễm môi trường qua công nghệ số, các khu công nghiệp trên có thể dẫn tới sự phát triển năng lượng tái tạo và các ngành công nghiệp khác. Đồng thời, các tiêu chuẩn thương mại xanh, đặc biệt cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (Carbon Border Adjustmen Mechanism – CBAM) (European Commission, n.d) của EU, làm tăng yêu cầu đo lường, xác minh và báo cáo phát thải carbon hàm chứa trong hàng hóa nhập khẩu, sẽ gây sức ép lên các ngành xuất khẩu carbon cao của Hàn Quốc. Vì vậy, khu công nghiệp xanh – thông minh có thể là cơ chế hỗ trợ tập thể giúp các doanh nghiệp trong nước thích ứng với các tiêu chuẩn xuất khẩu mới.
2. Một số khái niệm và khung pháp lý
2.1. Định nghĩa SGIC trong luật Hàn Quốc
Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy (산업집적활성화및공장설립에관한법률 – Industrial Cluster Development and Factory Establishment Act). Điều 2, khoản 14-2 của Luật quy định: khu công nghiệp xanh – thông minh là khu công nghiệp được chỉ định theo Điều 45-11 để thúc đẩy số hóa (digitalization), tự chủ về năng lượng và thân thiện môi trường đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng tập trung công nghiệp, hạ tầng công nghiệp, cơ sở công cộng (Viện Nghiên cứu Pháp chế Hàn Quốc, 10/3/2026). Luật hiện hành có nguồn gốc từ Luật về bố trí công nghiệp và thành lập nhà máy (Industrial Placement and Factory Establishment Act), được ban hành năm 1990. Tháng 12/2002, Luật được đổi tên thành Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy, phản ánh sự chuyển hướng từ “bố trí công nghiệp” sang “thúc đẩy tập trung công nghiệp”. Sau đó, luật tiếp tục được sửa đổi nhiều lần.
Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên (산업통상부-Ministry of Trade, Industry and Resources of South Korea – MOTIE) là cơ quan trung ương chịu trách nhiệm chính đối với luật này, đặc biệt về chính sách tập trung công nghiệp, quản lý cụm công nghiệp, thành lập nhà máy và cơ chế xúc tiến SGIC. Tuy nhiên, việc triển khai SGIC có sự phối hợp với Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và Giao thông vận tải (국토교통부-Ministry of Land, Infrastructure and Transport – MOLIT), chính quyền địa phương, Tập đoàn Phát triển các khu công nghiệp Hàn Quốc (Korea Industrial Complex Corporation – KICOX) và các cơ quan chuyên ngành khác.
Luật về địa điểm và phát triển công nghiệp (산업입지및개발에관한법률- Industrial Sites and Development Act). Theo Điều 2, khoản 8-2, khu công nghiệp xanh – thông minh là khu công nghiệp thúc đẩy số hóa, tự chủ năng lượng và thân thiện với môi trường của các doanh nghiệp hoạt động trong khu, cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng, khu nhà ở, cơ sở hỗ trợ, công trình công cộng… (Viện Nghiên cứu Pháp chế Hàn Quốc, 01/10/2025). Luật trên được sửa đổi một phần, được ban hành ngày 05/8/1993 và có hiệu lực ngày 06/11/1993. MOLIT là cơ quan trung ương chịu trách nhiệm chính với luật này, cũng như về việc cung ứng địa điểm công nghiệp, quy hoạch, chỉ định, phát triển và hỗ trợ khu công nghiệp. Mặc dù vậy, các chính sách về doanh nghiệp, cụm công nghiệp, nhà máy, SGIC, môi trường và triển khai địa phương còn liên quan đến MOTIE, các cơ quan môi trường, chính quyền địa phương và KICOX.
Dựa trên hai định nghĩa theo hai luật, khu công nghiệp xanh – thông minh cần bảo đảm đủ 3 yếu tố:
(1) Số hóa (digitalization): dữ liệu sản xuất, IoT, AI, logistics, trung tâm điều hành; (2) Năng lượng (energy): hiệu quả năng lượng, tự sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, áp dụng hệ thống quản lý năng lượng nhà máy theo thời gian thực (Factory Energy Management System – FEMS); (3) Chuyển đổi thân thiện với môi trường (chuyển đổi xanh – environmental transformation): giảm phát thải, tuần hoàn tài nguyên, nhà máy sạch và môi trường làm việc an toàn.
Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì chưa phải khu công nghiệp xanh – thông minh. Một khu tập trung nhiều nhà máy thông minh song chưa tự chủ năng lượng, chưa chuyển đổi xanh thì chưa phải là SGIC.
2.2. Các loại hình SGIC ở Hàn Quốc
Thứ nhất, theo khu công nghiệp nền.
Theo Điều 2, khoản 14 của Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy, khu công nghiệp nói chung bao gồm 4 loại: khu công nghiệp quốc gia, khu công nghiệp thông thường, khu công nghiệp công nghệ cao đô thị, khu công nghiệp công nghiệp – nông nghiệp.
SGIC không phải một loại khu công nghiệp độc lập, song song với 4 loại hình khu công nghiệp theo quy định mà là một chế độ chỉ định và chuyển đổi được áp dụng trên nền 4 loại hình khu công nghiệp trên, nhấn mạnh: số hóa doanh nghiệp và hạ tầng; tự chủ năng lượng; thân thiện môi trường, được gắn vào khu công nghiệp hiện hữu hoặc khu được chỉ định mới.
SGIC trên nền khu công nghiệp quốc gia. Khu công nghiệp quốc gia được chỉ định nhằm mục đích phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm quốc gia; phát triển công nghiệp khoa học-công nghệ cao; phát triển cân bằng giữa các vùng… Việc chỉ định khu công nghiệp quốc gia thuộc thẩm quyền trung ương, khu thường có ý nghĩa đối với ngành công nghiệp chiến lược, an ninh kinh tế, phát triển vùng hoặc hạ tầng quốc gia. Bộ trưởng MOLIT chỉ định các khu công nghiệp quốc gia (Điều 6 Luật về địa điểm và phát triển công nghiệp).
SGIC trên nền khu công nghiệp thông thường. Khu công nghiệp thông thường được chỉ định nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển công nghiệp và kinh tế ở cấp địa phương hoặc vùng, gồm: phân bố hợp lý công nghiệp giữa các địa phương, phát triển công nghiệp địa phương, nâng cấp công nghệ… Việc chỉ định khu công nghiệp thông thường chủ yếu do Thị trưởng thành phố, người đứng đầu đô thị lớn theo quy định… chỉ định (Điều 7 Luật về địa điểm và phát triển công nghiệp).
Về quản trị, SGIC vẫn thuộc thẩm quyền chỉ định của Bộ trưởng MOTIE theo Điều 45-11. Tuy nhiên, Điều 45-13 (1) của Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy cho phép, theo đề nghị của Thị trưởng/Tỉnh trưởng cấp tỉnh và được Bộ trưởng phê duyệt. Cơ chế này là cơ sở pháp lý cho việc tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý và triển khai SGIC, đặc biệt đối với các SGIC trên nền khu công nghiệp thông thường.
Theo đó, một khu công nghiệp nền có thể được chỉ định là SGIC nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền chỉ định. Trong một số trường hợp, cơ chế SGIC cũng có thể liên quan tới khu công nghiệp công nghệ cao đô thị theo Luật về địa điểm và phát triển công nghiệp. Đây là cách phân loại theo loại khu công nghiệp nền, không phải hai cấp chứng nhận SGIC độc lập.
Thứ hai, trên cơ chế triển khai.
Bên cạnh các SGIC được triển khai theo chương trình xúc tiến của MOTIE, pháp luật Hàn Quốc quy định riêng khu công nghiệp xanh – thông minh thí điểm quốc gia tại Điều 7-7 của Luật về địa điểm và phát triển công nghiệp(스마트그린국가시범산업단지-Smart Green National Pilot Industrial Complex). Khu công nghiệp xanh – thông minh thí điểm quốc gia (National Pilot) là mô hình thí điểm do MOLIT chủ trì, áp dụng các giải pháp xanh-thông minh ngay từ giai đoạn quy hoạch và phát triển khu công nghiệp. Saemangeum được giới thiệu là khu công nghiệp quốc gia thí điểm xanh – thông minh đầu tiên của Hàn Quốc.
Ngược lại, chương trình SGIC do MOTIE chủ trì theo Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy. Đặc biệt các Điều 45-9 đến Điều 45-15, trong giai đoạn đầu chủ yếu tập trung vào chuyển đổi và nâng cấp các khu công nghiệp hiện hữu thông qua số hóa, giảm carbon, tự chủ năng lượng và đổi mới sản xuất.
3. Các giai đoạn phát triển SGICs
3.1. Giai đoạn 1 (2018-2019): Giai đoạn tiền đề và chuyển đổi ban đầu
Ngày 13/12/2018, Bộ Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Khởi nghiệp (Ministry of SMEs and Startups – MSS) cùng MOTIE và 7 bộ khác đã công bố Chiến lược đổi mới sản xuất thông minh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung 3 hướng: đổi mới nhà máy (공장혁신) – đổi mới khu công nghiệp (산단혁신) – đổi mới nơi làm việc (일터혁신). Đồng thời, MOTIE công bố Dự án các khu công nghiệp thông minh dẫn đầu (Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc, 13/12/2018).
Ngày 19/2/2019, Hàn Quốc lựa chọn hai khu công nghiệp quốc gia là Changwon và Banwol-Sihwa làm hai khu công nghiệp thông minh dẫn đầu (스마트선도산업단지 – Smart Leading Industrial Complexes), với mục tiêu xây dựng các mô hình thí điểm về khu công nghiệp thông minh và sau đó mở rộng trên phạm vi quốc gia (Trung tâm Thông tin và Giáo dục Kinh tế (thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc – KDI), 20/2/2019). Đây chưa phải SGIC theo nghĩa pháp lý hiện nay, nhưng tạo nền tảng dữ liệu, nhà máy thông minh (smart factory), đổi mới chế tạo và mô hình “Khu công nghiệp như một nền tảng”.
Ngày 19/6/2019, chính quyền Tổng thống Moon Jae-in công bố “Tầm nhìn và Chiến lược Chấn hưng ngành chế tạo” với mục tiêu đưa Hàn Quốc trở thành một trong bốn cường quốc sản xuất và chế tạo hàng đầu thế giới vào năm 2030, chuyển từ mô hình “đi sau và bắt kịp” (fast follower) sang “dẫn dắt” (pace-setting). Chiến lược tiếp tục duy trì mục tiêu 30.000 nhà máy thông minh vào năm 2022, phát triển thêm 2.000 nhà máy dựa trên AI đến năm 2030, chuyển đổi 20 khu công nghiệp quốc gia thành khu công nghiệp sản xuất sạch (청정제조산단 – clean manufacturing complexes) (Ministry of Culture, Sports and Tourism, 19/6/2019).
Giai đoạn 2018-2019 là giai đoạn tiền đề của SGIC, trong đó Hàn Quốc hình thành và triển khai mô hình khu công nghiệp thông minh sơ khai (스마트산단- Smart Industrial Complex), đặt nền móng cho sự chuyển đổi sau này sang khu công nghiệp xanh – thông minh (스마트그린산업단지- Smart Green Industrial Complex) giai đoạn sau.
3.2. Giai đoạn 2 (2020-2021): Hình thành SGIC và thể chế hóa mô hình
Ngày 14/7/2020, Chính phủ Hàn Quốc công bố Korean New Deal (한국판뉴딜) và xác định Smart Green Industrial Complex (스마트그린산업단지) là một trong 10 nhiệm vụ tiêu biểu thuộc trụ cột Green New Deal. Chính sách này đánh dấu bước phát triển từ mô hình khu công nghiệp thông minh (Smart Industrial Complex) tập trung vào số hóa và đổi mới sản xuất sang mô hình tích hợp digital + green, trong đó số hóa, nâng cao hiệu quả năng lượng, mở rộng năng lượng tái tạo và chuyển đổi thân thiện với môi trường được triển khai đồng thời (Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc, 17/4/2020).
Ngày 17/9/2020, MOTIE công bố Chiến lược triển khai khu công nghiệp xanh – thông minh tại Changwon. Theo chiến lược này, 7 khu công nghiệp thông minh (Smart Industrial Complex) đã được lựa chọn trước đó, gồm: Changwon, Banwol-Sihwa, Namdong, Gumi, Daegu Seongseo, Gwangju Advanced và Yeosu, sẽ được chuyển đổi thành SGIC. Chính phủ đặt mục tiêu mở rộng mô hình lên 15 khu vào năm 2025 (Yoon, Boram, 17/9/2020).
Ngày 8/12/2020, mô hình SGIC được thể chế hóa trong Luật thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy, thông qua việc bổ sung Điều 45-11 về chỉ định SGIC. Thuật ngữ SGIC được đưa vào Điều 2 của Luật với tư cách một khái niệm pháp lý, gắn với ba định hướng cốt lõi là số hóa, tự chủ năng lượng và thân thiện với môi trường.
Năm 2021, chính phủ Hàn Quốc tiếp tục chỉ định thêm ba khu, gồm: Ulsan-Mipo, Myeongji-Noksan và Gunsan (Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc, 24/3/2021), đưa tổng số SGIC lên 10 khu công nghiệp.
3.3. Giai đoạn 3 (2022 – 2024): Mở rộng SGIC thành mạng lưới quốc gia
Năm 2022, Chính phủ Hàn Quốc mở rộng mạng lưới SGIC từ 10 lên 15 khu công nghiệp, bổ sung: Cheongju, Cheonan, Daebul, Daejeon và Pohang. Đây là các khu công nghiệp được lựa chọn trong chương trình tái thiết các khu công nghiệp cũ, với định hướng đồng thời thúc đẩy số hóa và chuyển đổi thân thiện với môi trường (Park, Mi-young, 27/4/2022).
Năm 2023, tiếp tục bổ sung Gwangyang, Bupyeong-Juan và Sinpyeong-Jangnim, nâng tổng số lên 18 khu (Bộ Pháp chế chính phủ Hàn Quốc, Trung tâm Thông tin Pháp luật quốc gia, 06/7/2023).
Năm 2024, ba khu Hupyeong, Sacheon và Jeonju được bổ sung (Kim, Yoo-jin, 29/4/2024), đưa tổng số SGIC được chỉ định lên 21 khu.
Đây là giai đoạn SGIC chuyển từ mô hình triển khai tại một số khu tiên phong sang mạng lưới SGIC có phạm vi quốc gia. Trọng tâm chính sách không còn chỉ là số hóa doanh nghiệp và hạ tầng công nghiệp mà mở rộng sang các nội dung như chuyển đổi số (Digital Transformation – DX), tự chủ năng lượng, chuyển đổi không carbon, quản lý năng lượng và nâng cao hiệu quả môi trường. Vì vậy, có thể xem giai đoạn 2022-2024 là giai đoạn mở rộng quy mô và hoàn thiện hệ sinh thái SGIC.
3.4. Giai đoạn 4 (2025 – 2026): Mở rộng vượt mục tiêu ban đầu và tích hợp M.AX với GX
Năm 2025, Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục bổ sung ba khu SGIC, gồm: Asan Bugo, Chungju First General Industrial Complex và Masan Free Trade Zone, nâng tổng số khu SGIC được chỉ định lên 24 khu (Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên Hàn Quốc, 17/6/2025).
Từ năm 2026, chương trình SGIC được định hướng lại theo hướng tích hợp chuyển đổi AI trong sản xuất (Manufacturing AI Transformation-M.AX), gắn với chuyển đổi không carbon (Carbon-free Transformation – Green Transformation – GX). Ngày 28/4/2026, MOTIE công bố chương trình hỗ trợ SGIC năm 2026 gồm 9 chương trình, trong đó có 5 chương trình M.AX và 4 chương trình GX, với 39 nhiệm vụ mới. Tổng ngân sách năm 2026 là 900 tỷ won; ngoài ra, khoảng 3.000 tỷ won ngân sách trung ương dự kiến được huy động trong 3-4 năm tiếp theo (Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên Hàn Quốc, 28/4/2026).
Xu hướng này không phải sự thay thế hoàn toàn DX bằng M.AX và GX, mà là bước nâng cấp và mở rộng chiều sâu của hệ sinh thái SGIC trên nền tảng số hóa, dữ liệu, 5G, tự động hóa và hạ tầng năng lượng đã được xây dựng trong các giai đoạn trước. Vì vậy, giai đoạn 2025-2026 có thể được khái quát là giai đoạn mở rộng mạng lưới SGIC lên 24 khu, đồng thời chuyển trọng tâm từ mô hình Smart/Digital Green theo nghĩa truyền thống sang mô hình kết hợp giữa sản xuất dựa trên AI và chuyển đổi không carbon.
4. Kết luận và hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển SGIC của Hàn Quốc cho thấy một lộ trình rõ ràng, có tính hệ thống từ mô hình thí điểm “Smart Industrial Complex” (2018-2019) đến thể chế hóa pháp lý (2020), mở rộng mạng lưới quốc gia (2022-2024) và nâng cấp tích hợp AI – chuyển đổi không carbon (2025-2026). Những bước tiến của Hàn Quốc được thể hiện ở khung pháp lý chuyên biệt, cơ chế chỉ định minh bạch, phân công trách nhiệm rõ giữa trung ương – địa phương – đơn vị vận hành, gắn SGIC với mục tiêu quốc gia về cạnh tranh công nghiệp, trung hòa carbon và phục hồi kinh tế sau khủng hoảng. Tính tới năm 2025, Hàn Quốc đã chỉ định được 24 khu, vượt 9 khu (tương đương 60%) so với mục tiêu ban đầu là 15 khu vào năm 2025 của Korean New Deal. Ngoài ra, mô hình SGIC liên tục được “nâng cấp”, kết hợp sản xuất dựa trên AI và chuyển đổi không carbon trong năm 2025 – 2026.
Tính đến tháng 8/2026, Việt Nam chưa có một loại hình pháp lý mang tên “Khu công nghiệp xanh – thông minh” tương đương với SGIC. Mô hình gần giống nhất ở Việt Nam là khu công nghiệp sinh thái. Cơ sở pháp lý liên quan bao gồm Nghị định 35/2022/NĐ-CP của chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, Thông tư 05/2025/TT-BKHĐT về hướng dẫn xây dựng khu công nghiệp sinh thái. Theo đó, khu công nghiệp sinh thái tập trung vào sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và cộng sinh công nghiệp; khu đáp ứng tiêu chí có thể được UBND cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận khu công nghiệp sinh thái (Chính phủ, 28/5/2022).
Đối với Việt Nam, việc học hỏi kinh nghiệm Hàn Quốc trong xây dựng thể chế liên quan đến khu công nghiệp xanh – thông minh có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thu hút FDI chất lượng cao. Theo nội dung Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 27/8/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2035 cần hình thành mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 06/8/2026). Mô hình SGIC Hàn Quốc có giá trị tham khảo đối với Việt Nam vì xử lý đồng thời ba vấn đề: năng lực cạnh tranh công nghiệp, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Các hàm ý chính sách rút ra đối với Việt Nam, như sau:
Thứ nhất, cần học hỏi và xây dựng khung pháp lý riêng cho khu công nghiệp xanh – thông minh.
Hàn Quốc đã sửa đổi Luật thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy (2020) để đưa SGIC thành khái niệm pháp lý với ba trụ cột bắt buộc: số hóa, tự chủ năng lượng và thân thiện môi trường. Việt Nam hiện vẫn chủ yếu điều chỉnh khu công nghiệp qua Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định về khu công nghiệp – khu kinh tế. Việc khảo cứu, bổ sung quy định riêng về “Khu công nghiệp xanh – thông minh” trong hệ thống pháp luật hiện hành, xác định rõ tiêu chí chỉ định, cơ quan có thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư, doanh nghiệp và chính quyền địa phương ở Việt Nam thực sự có ý nghĩa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các chính sách hỗ trợ trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Thứ hai, xây dựng lộ trình chỉ định và mở rộng từng bước, gắn với chương trình tái thiết khu công nghiệp hiện hữu.
Hàn Quốc không xây dựng SGIC hoàn toàn mới ngay từ đầu mà ưu tiên chuyển đổi các KCN cũ, bắt đầu từ 2 khu dẫn đầu, rồi mở rộng thành 10, 15, 18, 21 và hiện 24 khu. Việt Nam có hơn 400 khu công nghiệp đang hoạt động (Thời báo VTV, 29/5/2025), nhiều khu đã xuống cấp về hạ tầng và hiệu quả môi trường. Vì vậy, lựa chọn một số khu thí điểm (ưu tiên các khu có tỷ lệ lấp đầy cao, ngành chế tạo trọng điểm và gần trung tâm logistics), triển khai mô hình chuyển đổi số – xanh, sau đó nhân rộng theo lộ trình 5-10 năm.
Thứ ba, cần gắn khu công nghiệp xanh – thông minh với các mục tiêu quốc gia về Net Zero, CBAM và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Hàn Quốc xây dựng SGIC không chỉ vì môi trường mà vì bảo vệ vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu trước các tiêu chuẩn xanh. Việt Nam đang là đối tác xuất khẩu lớn sang EU và các thị trường có yêu cầu carbon ngày càng cao. Khu công nghiệp xanh – thông minh có thể trở thành “hạ tầng tập thể” hỗ trợ doanh nghiệp đo lường, báo cáo và giảm phát thải carbon, đồng thời thu hút FDI xanh và công nghệ cao. Bên cạnh đó, cần tích hợp mục tiêu giảm phát thải, tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo và chuyển đổi số vào tiêu chí đánh giá hiệu quả khu công nghiệp.
Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, khu công nghiệp xanh – thông minh không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là công cụ chính sách công nghiệp – môi trường – vùng miền đồng bộ. Việt Nam có thể học hỏi cách tiếp cận từng bước, thể chế hóa rõ ràng và gắn kết chặt chẽ với mục tiêu cạnh tranh quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
Bài viết là sản phẩm của đề tài cấp Bộ “Chính sách phát triển các cụm công nghiệp xanh ở một số nước Đông Á”. Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương chủ trì. Mã số nhiệm vụ: KHXH/NV/2025-88.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (06/08/2026). Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-19-nq-tw-ve-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-viet-nam-119260729153206017.htm.
Bộ Pháp chế Chính phủ Hàn Quốc, Trung tâm Thông tin Pháp luật Quốc gia (6/7/2023), đã chỉ định khu công nghiệp xanh – thông minh và phê duyệt kế hoạch dự án nhằm thúc đẩy khu công nghiệp xanh – thông minh. https://law.go.kr/LSW/admRulInfoP.do?
Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên Hàn Quốc (28/4/2026). Đầu tư 300 tỷ won vào các khu công nghiệp: Tích cực thúc đẩy AX và GX. https://www.motir.go.kr/kor/article/ATCL8764a1224/155119135/view.
Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên Hàn Quốc (17/6/2025). Bước chuyển đổi lớn của KCN Hàn Quốc thông qua trí tuệ nhân tạo (AI). https://eiec.kdi.re.kr/policy/callDownload.do?num=267689&filenum=1&dtime=20250617161822.
Các bộ liên hợp (14/7/2020). Kế hoạch tổng thể về chính sách mới của Hàn Quốc: Bước chuyển mình vĩ đại của Đại Hàn Dân Quốc nhằm vươn lên trở thành một quốc gia dẫn đầu. https://dl.nanet.go.kr/detail/NONB12022000010515.
Chính phủ (28/5/2022). Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-dinh-35-2022-ND-CP-quan-ly-khu-cong-nghiep-kinh-te-482305.aspx.
Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc (13/12/2018). Biến doanh nghiệp vừa và nhỏ thành cường quốc sản xuất bằng cách xây dựng 30.000 nhà máy thông minh vào năm 2022. https://m.korea.kr/briefing/pressReleaseView.do?newsId=156308622.
Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc (17/4/2020). Điểm nhấn của những thay đổi hữu hình: 10 nhiệm vụ trọng tâm trong Chính sách mới của Hàn Quốc. https://www.korea.kr/briefing/policyBriefingView.do?newsId=148874682.
Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc (6/1/2022). Khu công nghiệp xanh-thông minh. https://www.korea.kr/news/policyNewsView.do?newsId=148897703.
Cổng thông tin Briefing Chính sách Chính phủ Hàn Quốc (24/3/2021). Lựa chọn sơ bộ các khu vực tái thiết khu công nghiệp: tạo 55.000 việc làm. https://www.korea.kr/briefing/pressReleaseView.do?n.
Cục Lưu trữ Quốc gia Hàn Quốc, Bộ An toàn Hành chính (n.d.). Khu công nghiệp Ulsan vào những năm 1960. https://theme.archives.go.kr/next/industry/delegate1960A.do.
European Commission (n.d.). Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM). Taxation and Customs Union. https://taxation-customs.ec.europa.eu/carbon-border-adjustment-mechanism_en.
International Energy Agency (26/5/2026). Korean New Deal 10 key projects – Smart and green industrial complexes. https://www.iea.org/policies/13205-korean-new-deal-10-key-projects-smart-and-green-industrial-complexes.
Kim, Yoo-jin. (29/4/2024). Chuyển đổi các khu công nghiệp cũ thành trung tâm đổi mới công nghiệp công nghệ cao: Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên lựa chọn các khu công nghiệp xanh – thông minh mới. Kinh tế Aju. https://www.ajunews.com/view/20240429145151783.
Korea Industrial Complex Corporation (7/11/2018). Cluster development in Korea with the national industrial complexes. https://www.clustercollaboration.eu/sites/default/files/event_calendar/9._kicox_koreas_cluster_development_with_the_national_industrial_complexes_110518_0.pdf.
Lee, Seul-gi. (12/9/2024). Từ nước xuất khẩu tóc giả đến cường quốc sản xuất công nghệ cao: 60 năm phát triển các khu công nghiệp. Tin tức Yonhap. https://www.yna.co.kr/view/AKR20240912066100003.
Ministry of Culture, Sports and Tourism (19/6/2019). Remarks by President Moon Jae-in at the Manufacturing Renaissance Vision Declaration Ceremony. https://www.korea.net/Government/Briefing-Room/Presidential-Speeches/view?articleId=172021.
Ministry of Culture, Sports and Tourism (17/9/2020). Remarks by President Moon Jae-in at Smart Green Industrial Complex. https://www.korea.net/Government/Briefing-Room/Presidential-Speeches/view?articleId=190097.
Park, Mi-young. (27/4/2022). Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và Giao thông cùng Bộ Thương mại, Công nghiệp và Tài nguyên đã lựa chọn 5 khu vực trọng điểm để tái thiết khu công nghiệp vào năm 2022. Tin tức an ninh. https://www.boannews.com/news/articleView.html?
Thời báo VTV (29/5/2025). Việt Nam cần nâng cấp hệ sinh thái khu công nghiệp. https://vtv.vn/kinh-te/viet-nam-phai-co-su-nang-cap-he-sinh-thai-khu-cong-nghiep-20250529155520848.htm.
Trung tâm Thông tin và Giáo dục Kinh tế (thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc – KDI) (20/2/2019). Lựa chọn 2 khu công nghiệp thông minh hàng đầu: Changwon và Banwol-Sihwa. https://eiec.kdi.re.kr/policy/materialView.do?num=185542&topic=.
Viện Nghiên cứu Pháp chế Hàn Quốc (10/3/2026). Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập nhà máy. https://elaw.klri.re.kr/kor_service/lawView.do?
Viện Nghiên cứu Pháp chế Hàn Quốc (1/10/2025). Luật về địa điểm và phát triển công nghiệp. https://elaw.klri.re.kr/kor_service/lawView.do?hseq=71541&lang=KOR.
Yonhap News Agency (17/9/2020). (LEAD) Moon says promoting ‘smart, green’ industrial sites essential for post-coronavirus economy. https://en.yna.co.kr/view/AEN20200917008451315.
Yoon, Boram. (17/9/2020). Chuyển đổi các khu công nghiệp thành trung tâm công nghệ cao thân thiện với môi trường: Phát triển “khu công nghiệp xanh – thông minh” được đẩy mạnh. Tin tức Yonhap. https://www.yna.co.kr/view/AKR20200917105300003.



