Hợp tác quốc tế trong phát triển năng lực của Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh

International cooperation in capacity development at the Ho Chi Minh City campus of the Academy of Public Administration and Governance

ThS. Phạm Thị Quỳnh Hoa
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: hoaptq@apag.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích thực tiễn hợp tác quốc tế tại Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ phát triển năng lực; đồng thời, tập trung làm rõ những cách thức cơ hội tiếp cận tri thức, phương pháp và mạng lưới quốc tế được sử dụng để phát triển đội ngũ và nâng cao khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của Phân hiệu. Trên cơ sở đó, bài viết rút ra một số bài học nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế gắn với phát triển đội ngũ và nâng cao năng lực của tổ chức trong giai đoạn tiếp theo.

Từ khóa: Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công TP. Hồ Chí Minh; hợp tác quốc tế; phát triển năng lực; phát triển giảng viên.

Abstract: This article analyzes international cooperation practices at the Ho Chi Minh City Campus of the Academy of Public Administration and Governance from a capacity development perspective. It focuses on clarifying how opportunities to access international knowledge, methodologies, and networks are leveraged to develop human resources and enhance the Campus’s capacity to carry out its professional functions. On this basis, the article draws several lessons for improving the effectiveness of international cooperation in conjunction with staff development and organizational capacity enhancement in the next phase.

Keywords: Ho Chi Minh City Campus of the Academy of Public Administration and Governance; international cooperation; capacity development; faculty development.

1. Đặt vấn đề

Thực tế đã minh chứng, giá trị lâu dài của hợp tác quốc tế không chỉ nằm ở những hoạt động đã thực hiện mà ở năng lực được hình thành, được sử dụng và tiếp tục phát triển qua thực tiễn công việc. Khi những năng lực của cá nhân được huy động vào xây dựng chương trình, nghiên cứu, giảng dạy và hợp tác chuyên môn, kết quả hợp tác từng bước trở thành nguồn lực phát triển của Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công (viết tắt là Phân hiệu).

Qua một số hoạt động tiêu biểu của Học viện Hành chính và Quản trị công (viết tắt là Học viện), đặc biệt là Phân hiệu, bài viết cho thấy quá trình này diễn ra ở nhiều cấp độ: từ nâng cao năng lực tổ chức và phối hợp các chương trình quốc tế; bồi dưỡng tiếng Anh và tư duy thiết kế cho giảng viên; cùng đối tác quốc tế xây dựng chương trình, trực tiếp giảng dạy bằng tiếng Anh cho khoảng 120 giảng viên và chia sẻ chuyên môn trong Mạng lưới các cơ sở đào tạo công vụ ASEAN (PSTI); đến việc giảng viên Phân hiệu phối hợp với mạng lưới nghiên cứu của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu tham gia Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xây dựng nền công vụ ưu tú, phục vụ người dân và doanh nghiệp, qua đó, nâng cao năng lực nghiên cứu, tiếp cận phương pháp mới và xây dựng 20 tình huống nghiên cứu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng của Học viện nói chung và của Phân hiệu nói riêng (HCC, 18/5/2026). Trên cơ sở phân tích thực tiễn hợp tác quốc tế của Phân hiệu, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tổ chức và phối hợp chương trình quốc tế, trong đó chú trọng phát triển năng lực giảng viên; phát triển năng lực nghiên cứu và hợp tác chuyên gia để tham gia các mạng lưới, diễn đàn khu vực và quốc tế.

2. Hợp tác quốc tế trong quá trình phát triển Phân hiệu

Năm 2026, đánh dấu 50 năm hình thành và phát triển của Phân hiệu. Từ tiền thân là Phân hiệu Trường Hành chính Trung ương tại miền Nam được thành lập năm 1976, qua nhiều giai đoạn thay đổi về tổ chức và chức năng của Học viện, Phân hiệu đã trở thành cơ sở quan trọng của Học viện tại khu vực phía Nam. Cùng với đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế từng bước được mở rộng và ngày càng gắn với yêu cầu phát triển đội ngũ, nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn.

Một kết quả đáng chú ý trong những năm gần đây là mức độ tham gia của Phân hiệu vào các hoạt động hợp tác quốc tế đã từng bước đi vào chiều sâu. Từ phối hợp tổ chức, đón tiếp chuyên gia và cử viên chức, giảng viên tham gia các chương trình quốc tế, Phân hiệu ngày càng tham gia trực tiếp hơn vào những công việc chuyên môn: làm việc với chuyên gia và đối tác; tiếp cận, thử nghiệm phương pháp mới; cùng xây dựng chương trình; giảng dạy và trao đổi chuyên môn bằng tiếng Anh; trình bày tại các diễn đàn quốc tế và tham gia mạng lưới chuyên môn của Học viện.

Phân hiệu đã phối hợp triển khai Chương trình “Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả” hợp tác với Học viện Quản trị Chandler (Hoàng Thị Hậu, 2023); chủ động tiếp nhận và làm việc với chuyên gia quốc tế; đầu tư phát triển năng lực tiếng Anh và tư duy thiết kế cho một nhóm giảng viên trong sáu tháng; tạo điều kiện để nhóm giảng viên này tiếp tục cùng Trung tâm Conoscope, Đại học Leipzig xây dựng chương trình phát triển năng lực dạy và học đổi mới sáng tạo, sau đó trực tiếp triển khai chương trình bằng tiếng Anh cho khoảng 120 giảng viên Việt Nam và quốc tế và chia sẻ chuyên môn trong mạng lưới các cơ sở đào tạo công vụ ASEAN. Viên chức, giảng viên Phân hiệu tham gia trình bày, trao đổi tại Hội nghị EROPA, Diễn đàn Quản trị công quốc tế thường niên và các hoạt động học thuật quốc tế khác của Học viện.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở số lượng hoạt động mà tính liên tục và kết nối của các hoạt động. Kiến thức và kỹ năng được hình thành trong một chương trình được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo; kinh nghiệm làm việc với chuyên gia tạo nền tảng để giảng viên đảm nhận những công việc có yêu cầu cao hơn; người được bồi dưỡng từng bước trở thành người cùng xây dựng chương trình và trực tiếp chia sẻ tri thức cho người khác.

Nhìn từ dấu mốc 50 năm, đây là một kết quả có ý nghĩa, cho thấy hợp tác quốc tế của Phân hiệu đang từng bước chuyển từ mở rộng cơ hội tiếp xúc và học hỏi sang sử dụng các cơ hội quốc tế để bổ sung năng lực cho đội ngũ và nâng cao khả năng thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

3. Hợp tác quốc tế và sự hình thành năng lực tổ chức: Cách tiếp cận từ thực tiễn Phân hiệu

Theo Jane Knight (2004, 2008), quốc tế hóa giáo dục không đơn thuần là sự gia tăng các hoạt động có yếu tố quốc tế mà là quá trình đưa chiều cạnh quốc tế và liên văn hóa vào mục tiêu, chức năng và hoạt động của cơ sở giáo dục. Cách tiếp cận này gợi mở một cách nhìn phù hợp đối với hợp tác quốc tế của Phân hiệu: giá trị của hợp tác không chỉ thể hiện ở số lượng chương trình, đối tác hay cơ hội giao lưu mà quan trọng là ở những thay đổi trong quá trình để con người có khả năng thực hiện nhiệm vụ của tổ chức. Chẳng hạn: một chương trình bồi dưỡng có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng; một chuyến nghiên cứu, trao đổi có thể mở rộng hiểu biết; quá trình làm việc với chuyên gia có thể giúp tiếp cận phương pháp và kinh nghiệm mới. Những kết quả đó chỉ thực sự có giá trị lâu dài khi được đưa trở lại công việc và giúp viên chức, giảng viên thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ đang đảm nhận hoặc có khả năng đảm nhận những công việc mới.

Điều này đặc biệt quan trọng khi xem xét phát triển năng lực. Năng lực không thể hoàn tất sau một chương trình bồi dưỡng, mà được hình thành và phát triển qua quá trình sử dụng. Kiến thức về một phương pháp mới khác với khả năng vận dụng phương pháp đó để giải quyết một vấn đề cụ thể; được bồi dưỡng ngoại ngữ cũng khác với khả năng sử dụng ngoại ngữ để làm việc với chuyên gia, xây dựng chương trình hay trực tiếp giảng dạy. Khoảng cách giữa “đã được học” và “có thể làm được” chỉ được thu hẹp thông qua thực hành.

Vì vậy, một dấu hiệu thiết thực của phát triển năng lực là sự thay đổi trong phạm vi, mức độ và chất lượng công việc mà người tham gia có thể đảm nhận. Người ban đầu tham gia với tư cách người học có thể tiếp tục cùng chuyên gia xây dựng chương trình; người được bồi dưỡng về phương pháp có thể vận dụng phương pháp đó trong nghiên cứu và giảng dạy; người từng cần hỗ trợ khi tham gia hoạt động quốc tế có thể dần trực tiếp trình bày, trao đổi và làm việc chuyên môn với đối tác. Chính những thay đổi như vậy cho thấy, tri thức và kinh nghiệm tiếp nhận qua hợp tác đã đi vào năng lực thực hành.

Tuy nhiên, phát triển năng lực của cá nhân chưa đồng nghĩa với phát triển năng lực của tổ chức. Một cơ sở đào tạo có thể có nhiều viên chức, giảng viên được tham gia các chương trình quốc tế nhưng năng lực chung của tổ chức chưa chắc đã thay đổi tương ứng. Vấn đề nằm ở chỗ những năng lực hình thành ở từng cá nhân có được tiếp tục huy động, kết nối và sử dụng cho công việc chung hay không.

Khi người được bồi dưỡng tiếp tục tham gia xây dựng chương trình, nghiên cứu, giảng dạy hoặc làm việc với đối tác; khi phương pháp và kinh nghiệm có được qua hợp tác được đưa vào hoạt động chuyên môn; khi sản phẩm nghiên cứu trở thành học liệu hoặc cơ sở cho những nhiệm vụ tiếp theo, kết quả phát triển cá nhân bắt đầu bổ sung vào khả năng thực hiện nhiệm vụ của Phân hiệu. Theo nghĩa đó, năng lực của tổ chức không đơn giản là tổng hợp năng lực của các cá nhân, mà còn thể hiện ở khả năng huy động những năng lực ấy để thực hiện công việc chung và tạo ra kết quả mà tổ chức cần.

Từ thực tiễn của Phân hiệu, có thể nhận diện một quá trình có tính kế tiếp và tích lũy. Hợp tác mở ra cơ hội tiếp cận tri thức, phương pháp, công nghệ và mạng lưới chuyên môn; những nguồn lực này tạo điều kiện phát triển năng lực của người tham gia; năng lực được đưa vào thực hiện nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm; sản phẩm, phương pháp và kinh nghiệm tiếp tục được sử dụng, chia sẻ và phát triển trong những hoạt động sau. Qua mỗi lần như vậy, những năng lực đã có được kiểm nghiệm và củng cố, đồng thời mở ra khả năng đảm nhận những nhiệm vụ có yêu cầu cao hơn.

Tác giả đề xuất, 2026

Hình 1 không mô tả một quy trình cố định cho mọi hoạt động hợp tác quốc tế. Điều cần nhấn mạnh là tính liên tục giữa cơ hội hợp tác, phát triển con người và thực hiện nhiệm vụ. Nếu sự liên tục này bị đứt đoạn, kết quả hợp tác dễ dừng lại ở một khóa học, một chuyến công tác hoặc kinh nghiệm của một số cá nhân. Ngược lại, khi kiến thức và kỹ năng tiếp tục được sử dụng, sản phẩm được đưa vào hoạt động chuyên môn và người tham gia được giao những nhiệm vụ mới, kết quả của hoạt động trước có thể trở thành nguồn lực cho hoạt động tiếp theo.

Ở đây, lan tỏa không nên chỉ được hiểu là phổ biến những điều đã học cho nhiều người hơn. Quan trọng hơn là đưa những gì có giá trị từ hợp tác vào hoạt động của tổ chức. Một phương pháp tiếp cận từ chuyên gia có thể được điều chỉnh để sử dụng trong chương trình đào tạo; kinh nghiệm đồng thiết kế có thể được vận dụng khi xây dựng chương trình mới; một nghiên cứu có thể phát triển thành học liệu; người đã được phát triển năng lực có thể tiếp tục tham gia nhóm chuyên môn hoặc hỗ trợ đồng nghiệp thực hiện những nhiệm vụ tương tự. Theo cách đó, tri thức và kinh nghiệm không dừng ở người trực tiếp tham gia mà tiếp tục tạo ra giá trị trong những công việc khác.

Quá trình tích lũy này không diễn ra tự động. Thực tiễn của Phân hiệu cho thấy, kết quả phụ thuộc vào sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Học viện; sự ủng hộ và chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Phân hiệu; vai trò tham mưu, kết nối và điều phối của Ban Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế; cùng sự chủ động và nỗ lực của viên chức, giảng viên trực tiếp tham gia. Đặc biệt, việc lựa chọn người phù hợp, tạo điều kiện tham gia, giao nhiệm vụ sau bồi dưỡng và tiếp tục tạo cơ hội để sử dụng năng lực có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì kết quả hợp tác.

Nhìn theo cách này, hợp tác quốc tế không chỉ bổ sung nguồn lực từ bên ngoài, mà còn có thể tạo ra một quá trình học tập của chính tổ chức. Mỗi chương trình, nghiên cứu hay quan hệ chuyên môn, nếu được tiếp nối bằng thực hành và sử dụng kết quả, vừa giải quyết một nhiệm vụ trước mắt, vừa làm tăng khả năng thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo. Khi quá trình đó được lặp lại và tích lũy, Phân hiệu không chỉ có thêm những người đã từng tham gia hoạt động quốc tế mà có thêm những công việc có thể chủ động thực hiện bằng chính đội ngũ của mình.

Vì vậy, đánh giá giá trị của một hoạt động hợp tác cần đi xa hơn câu hỏi chương trình đã tổ chức được bao nhiêu hoạt động hay có bao nhiêu người tham gia. Câu hỏi có ý nghĩa hơn là sau hoạt động đó, viên chức, giảng viên và Phân hiệu có thể làm tốt hơn hoặc chủ động thực hiện thêm những công việc gì.

4. Thực tiễn kết quả hợp tác quốc tế của Phân hiệu

Một là, nâng cao năng lực tổ chức và phối hợp chương trình quốc tế.

Một kết quả nổi bật là việc Phân hiệu phối hợp triển khai Chương trình “Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả” (MENGPEL) do Học viện hợp tác với Học viện Quản trị Chandler thực hiện. Đến năm 2026, chương trình đã tổ chức bốn khóa với khoảng 80 học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức các tỉnh, thành phố phía Nam tham gia chương trình, khóa 3 đã được tổ chức tại Phân hiệu Học viện tại TP. Hồ Chí Minh.

Dưới sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Học viện, Ban Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế làm đầu mối tham mưu, xây dựng chương trình, kết nối và điều phối với đối tác; Phân hiệu trực tiếp phối hợp quản lý chương trình, chuẩn bị các điều kiện tổ chức, quản lý lớp, tổ chức hoạt động học tập và khảo sát thực tế, làm việc với chuyên gia và xử lý các yêu cầu phát sinh trong quá trình triển khai.

Giá trị của MENGPEL 3 không chỉ nằm ở việc tổ chức thành công một khóa bồi dưỡng quốc tế. Quan trọng hơn, quá trình trực tiếp thực hiện đã giúp đội ngũ Phân hiệu tích lũy kinh nghiệm về quản lý chương trình, phối hợp với đối tác nước ngoài, hỗ trợ hoạt động chuyên môn và xử lý các yêu cầu của một chương trình quốc tế. Ở góc độ phát triển tổ chức, đây là một kết quả cần được ghi nhận: thông qua việc trực tiếp thực hiện, kinh nghiệm tổ chức chương trình quốc tế từng bước trở thành năng lực của Phân hiệu.

Hai là, phát triển năng lực giảng viên thông qua học tập và thực hành chuyên môn.

Một kết quả đáng ghi nhận từ hoạt động hợp tác quốc tế của Phân hiệu là sự phát triển năng lực chuyên môn của một bộ phận giảng viên thông qua quá trình học tập gắn với thực hành. Điểm đáng chú ý ở đây không chỉ là giảng viên được tham gia các chương trình bồi dưỡng mà những kiến thức và kỹ năng được trang bị sau đó đã được sử dụng để thực hiện những công việc có yêu cầu ngày càng cao hơn.

Trong sáu tháng liên tục, 12 giảng viên của Phân hiệu được bồi dưỡng tiếng Anh phục vụ chuyên môn và tư duy thiết kế. Đây là bước chuẩn bị cần thiết, nhưng chưa phải kết quả cuối cùng của quá trình phát triển năng lực. Sau thời gian bồi dưỡng, các giảng viên tiếp tục tham gia cùng Trung tâm Conoscope, Đại học Leipzig xây dựng chương trình phát triển năng lực dạy và học đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ Dự án “Kỹ năng số để thành công” do GIZ tài trợ.

Việc trực tiếp tham gia xây dựng chương trình đặt giảng viên vào những yêu cầu khác hẳn với quá trình học tập trước đó. Tiếng Anh phải được sử dụng để trao đổi và làm việc chuyên môn với chuyên gia; tư duy thiết kế phải được vận dụng để xác định nhu cầu, phát triển nội dung và điều chỉnh chương trình cho phù hợp với đối tượng và bối cảnh triển khai. Những gì được học vì thế không còn tồn tại dưới dạng kiến thức hay kỹ năng riêng lẻ, mà được sử dụng để cùng đối tác giải quyết một nhiệm vụ và tạo ra một sản phẩm chuyên môn cụ thể.

Bước phát triển tiếp theo diễn ra khi chương trình được triển khai bằng tiếng Anh cho khoảng 120 giảng viên Việt Nam và quốc tế, với người tham gia đến từ Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh và Cộng hòa Liên bang Đức. Giảng viên Phân hiệu lúc này không còn ở vị trí người tham gia bồi dưỡng hay người hỗ trợ chuyên gia, mà trực tiếp đảm nhận hoạt động giảng dạy và trao đổi chuyên môn. Kinh nghiệm này sau đó tiếp tục được mở rộng khi giảng viên Phân hiệu tham gia giảng dạy, chia sẻ bằng tiếng Anh trong Mạng lưới các cơ sở đào tạo công vụ ASEAN (PSTI).

Nhìn xuyên suốt quá trình, thay đổi đáng kể nhất nằm ở khả năng đảm nhận công việc và mức độ chủ động của giảng viên. Sáu tháng bồi dưỡng tạo nền tảng ban đầu; làm việc cùng chuyên gia buộc những kiến thức và kỹ năng đó phải được đưa vào thực tế; còn trực tiếp xây dựng chương trình và giảng dạy trong môi trường quốc tế đòi hỏi giảng viên phải tự mình làm chủ một phần công việc và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm chuyên môn.

Điều này cho thấy, một giới hạn của cách đánh giá phát triển đội ngũ chủ yếu bằng số người được cử đi học hoặc số chương trình đã hoàn thành. Được đào tạo và có khả năng thực hiện công việc là hai việc khác nhau. Khả năng sử dụng tiếng Anh cho công việc chuyên môn chỉ thực sự được xác lập khi giảng viên có thể trao đổi, cùng làm việc và giảng dạy bằng tiếng Anh; tư duy thiết kế chỉ thực sự có giá trị khi được sử dụng để xây dựng và điều chỉnh một chương trình cụ thể. Phần quan trọng của quá trình phát triển năng lực diễn ra sau khóa học, khi người được bồi dưỡng có cơ hội sử dụng những gì đã học trong những nhiệm vụ thực tế.

Kết quả của quá trình này không chỉ thuộc về 12 giảng viên trực tiếp tham gia. Khi Phân hiệu có một nhóm giảng viên có thể làm việc với chuyên gia nước ngoài, cùng xây dựng chương trình, sử dụng tiếng Anh trong hoạt động chuyên môn và trực tiếp giảng dạy trong môi trường quốc tế, Phân hiệu có thêm nguồn lực để chủ động tham gia và triển khai những hoạt động hợp tác có yêu cầu chuyên môn cao hơn. Những năng lực được hình thành ở từng giảng viên, khi tiếp tục được sử dụng cho nhiệm vụ chung, đã trở thành một phần năng lực chuyên môn mà Phân hiệu có thể huy động.

Điều đáng ghi nhận không chỉ là một chương trình bồi dưỡng đã được hoàn thành mà là phạm vi công việc đội ngũ có thể đảm nhận sau chương trình đã được mở rộng. Đây cũng là giá trị lâu dài hơn của đầu tư phát triển giảng viên thông qua hợp tác quốc tế: tạo điều kiện để người được bồi dưỡng có thể tiếp tục tham gia, thực hành và từng bước đảm nhận những công việc mà trước đó họ chưa có đủ điều kiện hoặc năng lực để thực hiện.

Ba là, phát triển năng lực nghiên cứu và khai thác tri thức quốc tế với sự hỗ trợ của AI.

Một hướng phát triển khác được hình thành khi giảng viên Phân hiệu tham gia cùng nhóm nghiên cứu của Học viện và mạng lưới chuyên gia, cựu học viên Trường Chính sách công Lý Quang Diệu trong Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo để học hỏi kinh nghiệm quốc tế, phục vụ xây dựng nền công vụ ưu tú, hướng tới người dân và doanh nghiệp. Khác với những chương trình bồi dưỡng theo cách thông thường, hoạt động này đặt giảng viên vào ngay quá trình nghiên cứu: lựa chọn vấn đề từ thực tiễn Việt Nam, tìm kiếm và phân tích kinh nghiệm quốc tế, sử dụng AI hỗ trợ xử lý thông tin, kiểm chứng kết quả và phát triển thành các tình huống có thể sử dụng cho nghiên cứu và giảng dạy.

Giảng viên Phân hiệu đã xây dựng 20 tình huống nghiên cứu, trong đó chú trọng đến kết quả để hiểu rõ vấn đề của Việt Nam, tìm kiếm tri thức quốc tế, đặt câu hỏi cho AI, đánh giá độ tin cậy của thông tin, so sánh kinh nghiệm giữa các bối cảnh và lựa chọn những nội dung có khả năng gợi mở cho thực tiễn. Cách làm này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chuyên môn của giảng viên (bởi AI có thể giúp mở rộng khả năng tiếp cận và xử lý thông tin nhưng việc xác định vấn đề nào đáng nghiên cứu, kinh nghiệm nào thực sự có giá trị và bài học nào có thể vận dụng vẫn phụ thuộc vào hiểu biết và năng lực phán đoán của con người). Đây cũng là nguyên tắc được thể hiện khá rõ trong quá trình Học viện xây dựng và thẩm định các bài học kinh nghiệm.

Điều đáng chú ý là sản phẩm nghiên cứu đồng thời trở thành phương tiện phát triển người nghiên cứu. Việc viết một tình huống, tổng hợp một kinh nghiệm không chỉ tạo thêm tài liệu cho Học viện; chính quá trình tìm hiểu một vấn đề đến cùng, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và trao đổi với các thành viên trong nhóm giúp giảng viên mở rộng kiến thức, rèn luyện tư duy phân tích và từng bước hình thành cách làm việc mới với AI. Theo nghĩa đó, phát triển năng lực không được tổ chức thành một hoạt động đứng trước nghiên cứu, mà diễn ra ngay trong quá trình nghiên cứu và tạo ra sản phẩm.

Sự tham gia của giảng viên Phân hiệu trong hoạt động này còn có một ý nghĩa khác. Nếu ở chương trình hợp tác với Trường Đại học Leipzig (CHLB Đức), năng lực được thể hiện qua khả năng cùng chuyên gia thiết kế chương trình và trực tiếp giảng dạy bằng tiếng Anh sang khả năng chủ động tiếp cận nguồn tri thức quốc tế, làm việc trong một nhóm nghiên cứu có mạng lưới quốc tế và sử dụng công nghệ mới để phục vụ những vấn đề cụ thể của nền công vụ Việt Nam. Hai quá trình khác nhau nhưng cùng cho thấy một điểm: cơ hội hợp tác có giá trị nhất khi nó đặt giảng viên vào những công việc thực sự, có sản phẩm và có yêu cầu cao hơn năng lực ban đầu của họ.

Đặc biệt, 20 tình huống do giảng viên Phân hiệu xây dựng nếu tiếp tục được thẩm định, cập nhật và đưa vào giảng dạy có thể trở thành nguồn học liệu của chính Phân hiệu. Khi đó, một quá trình bắt đầu bằng việc giảng viên học cách khai thác AI và kinh nghiệm quốc tế có thể tạo ra đồng thời năng lực của người giảng viên, sản phẩm nghiên cứu và nguồn học liệu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng. Đây là cách hợp tác và nghiên cứu tạo thêm nguồn lực mà tổ chức có thể tiếp tục sử dụng sau khi một hoạt động cụ thể đã kết thúc.

Bốn là, hợp tác chuyên gia: mở rộng năng lực nghiên cứu và không gian học thuật.

Phân hiệu đã phối hợp tiếp nhận và làm việc với các chuyên gia quốc tế đến từ Hoa Kỳ, Pháp, Australia, Singapore, Thái Lan và một số quốc gia khác. Hoạt động này tạo điều kiện cho giảng viên tiếp cận thêm thông tin, kinh nghiệm quốc tế. Việc giảng viên trực tiếp trao đổi với chuyên gia tạo ra một không gian học thuật trong đó các cách tiếp cận, phương pháp và kinh nghiệm khác nhau có thể được đối chiếu với những vấn đề của quản trị công, đào tạo và nghiên cứu tại Việt Nam.

Đây cũng là lĩnh vực Phân hiệu còn nhiều dư địa để phát triển. Bước tiếp theo cần chuyển mạnh hơn từ “nghe chuyên gia giảng” sang “làm việc cùng chuyên gia”: cùng xác định vấn đề, phát triển nội dung, xây dựng nghiên cứu, chương trình, bài viết hoặc sản phẩm chuyên môn. Khi đó, kết quả của một chuyến công tác chuyên gia được đánh giá trên cơ sở những quan hệ học thuật và sản phẩm tiếp tục được hình thành sau đó.

Năm là, tham gia các mạng lưới, diễn đàn khu vực và quốc tế.

Một kết quả khác là sự hiện diện ngày càng rõ hơn của viên chức, giảng viên Phân hiệu trong các hoạt động quốc tế chung của Học viện. Việc trình bày tham luận tại Hội nghị EROPA, Diễn đàn Quản trị công quốc tế thường niên và tham gia các hội nghị, tọa đàm quốc tế cho thấy đội ngũ đang từng bước chuyển từ tiếp cận và học hỏi sang tham gia và đóng góp chuyên môn. Sự phát triển này tạo ra quan hệ hai chiều. Mạng lưới và quan hệ đối tác của Học viện mở thêm không gian phát triển cho viên chức, giảng viên Phân hiệu; ngược lại, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của Phân hiệu bổ sung nguồn lực cho hoạt động hợp tác quốc tế chung của Học viện.

Điều này cho thấy, phát triển năng lực quốc tế của Phân hiệu không phải xây dựng một không gian hợp tác riêng biệt, mà là nâng cao khả năng của Phân hiệu trong việc tham gia và đóng góp ngày càng thực chất vào năng lực hợp tác quốc tế chung của Học viện.

5. Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn hợp tác quốc tế của Phân hiệu

Thứ nhất, hợp tác cần gắn với nhu cầu phát triển của Phân hiệu.

Một cơ hội hợp tác chỉ thực sự có giá trị khi đáp ứng những nhu cầu cụ thể về đội ngũ, đào tạo, nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Vì vậy, thay vì bắt đầu từ việc đối tác có thể cung cấp gì, cần xác định trước Phân hiệu đang cần phát triển năng lực nào, cho ai và để thực hiện công việc gì. Thực tiễn cho thấy, khi bồi dưỡng ngoại ngữ, tư duy thiết kế, nghiên cứu hay ứng dụng AI được gắn với những nhiệm vụ cụ thể như làm việc với chuyên gia, xây dựng chương trình, giảng dạy hoặc phát triển tình huống nghiên cứu, nguồn lực hợp tác được sử dụng có mục tiêu hơn và khả năng tạo ra kết quả lâu dài cũng cao hơn. Đây cũng là cơ sở để lựa chọn đối tác, người tham gia và sản phẩm đầu ra phù hợp.

Thứ hai, phát triển năng lực phải gắn với thực hành.

Bồi dưỡng tạo nền tảng, nhưng năng lực chỉ được củng cố khi được sử dụng trong công việc thực tế. Kinh nghiệm của Phân hiệu cho thấy, những bước tiến rõ nhất của đội ngũ diễn ra khi người học tiếp tục được giao những nhiệm vụ khó hơn: cùng chuyên gia xây dựng chương trình, giảng dạy bằng tiếng Anh, tham gia nghiên cứu, phát triển tình huống hoặc làm việc trong các nhóm chuyên môn quốc tế.

Vì vậy, sử dụng nhân sự sau bồi dưỡng cần được coi là một phần của chính quá trình phát triển năng lực. Việc lựa chọn người tham gia nên gắn với nhiệm vụ tiếp theo; đồng thời cần tạo cơ hội để họ tiếp tục làm việc, thử sức và nâng dần mức độ đảm nhận công việc. Nếu thiếu sự nối tiếp này, kết quả bồi dưỡng dễ dừng ở kiến thức và kinh nghiệm của từng cá nhân.

Thứ ba, gắn hợp tác với sản phẩm chuyên môn và khả năng tiếp nối.

Quan hệ hợp tác trở nên thực chất khi các bên cùng giải quyết một vấn đề, cùng xây dựng một chương trình, nghiên cứu, học liệu hoặc sản phẩm chuyên môn cụ thể. Chính quá trình cùng làm việc tạo điều kiện để tri thức được trao đổi sâu hơn, năng lực được kiểm nghiệm và quan hệ chuyên môn được duy trì sau khi một chương trình kết thúc. Vì vậy, khi thiết kế hoạt động hợp tác, cần tính đến sản phẩm chuyên môn và khả năng nối tiếp ngay từ đầu. Một chương trình đồng thiết kế, bộ tình huống, nghiên cứu, học liệu hay nhóm chuyên môn tiếp tục hoạt động có giá trị lâu dài hơn một hoạt động chỉ dừng ở tham dự và trao đổi. Khi có năng lực và sản phẩm để cùng đóng góp, Phân hiệu cũng có cơ sở để chủ động hơn trong quan hệ với đối tác, thay vì chủ yếu tiếp nhận các cơ hội từ bên ngoài.

Thứ tư, gắn phát triển cá nhân với năng lực thực hiện nhiệm vụ của Phân hiệu.

Hợp tác quốc tế thường tác động trước hết đến những người trực tiếp tham gia. Giá trị đối với tổ chức được tạo ra khi năng lực đó tiếp tục được huy động cho công việc chung: người được bồi dưỡng có thể tham gia xây dựng và triển khai chương trình; kinh nghiệm quốc tế được đưa vào giảng dạy, nghiên cứu; sản phẩm nghiên cứu được phát triển thành học liệu hoặc sử dụng cho những nhiệm vụ tiếp theo. Điều này đòi hỏi Phân hiệu nhận diện và sử dụng tốt hơn năng lực được hình thành sau hợp tác, thông qua giao nhiệm vụ phù hợp, hình thành các nhóm chuyên môn và tiếp tục khai thác những sản phẩm có giá trị. Khi đó, đầu tư cho một số cá nhân không chỉ tạo ra những người có năng lực hơn mà còn làm tăng khả năng thực hiện công việc của Phân hiệu.

Thứ năm, công nghệ chỉ phát huy giá trị trên nền tảng năng lực chuyên môn.

Việc sử dụng AI trong nghiên cứu mở ra khả năng tiếp cận, tổng hợp và xử lý lượng thông tin lớn hơn, nhưng đồng thời làm nổi bật vai trò của năng lực chuyên môn. Công nghệ có thể hỗ trợ tìm kiếm, hệ thống hóa và phát triển nội dung; còn việc xác định vấn đề, đánh giá nguồn, kiểm chứng kết quả, nhận diện khác biệt về bối cảnh và quyết định điều gì có thể sử dụng vẫn thuộc về người nghiên cứu. Kinh nghiệm xây dựng các tình huống nghiên cứu cho thấy yêu cầu đặt ra không đơn thuần là biết sử dụng AI, mà là biết sử dụng AI để làm tốt hơn một công việc chuyên môn. Vì vậy, phát triển năng lực số cho giảng viên cần đi cùng năng lực nghiên cứu, tư duy phản biện và khả năng vận dụng tri thức vào bối cảnh cụ thể. Công nghệ càng mở rộng khả năng tiếp cận tri thức thì yêu cầu về phán đoán chuyên môn và trách nhiệm của người sử dụng càng trở nên quan trọng.

6. Kết luận

50 năm xây dựng và phát triển của Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh là một quá trình tích lũy về con người, kinh nghiệm, truyền thống và năng lực thực hiện nhiệm vụ. Trong hành trình đó, hợp tác quốc tế cho thấy khá rõ khả năng thích ứng và phát triển của Phân hiệu trước những yêu cầu mới.

Điều đáng ghi nhận không nằm riêng ở số lượng chương trình, đối tác hay hoạt động quốc tế đã thực hiện. Qua MENGPEL 3, các chương trình làm việc với chuyên gia, quá trình phát triển giảng viên, đồng xây dựng chương trình với đối tác và tham gia các mạng lưới khu vực, có thể thấy một sự tích lũy dần dần: những cơ hội từ bên ngoài đã được sử dụng để phát triển con người, thử sức đội ngũ trong những nhiệm vụ mới và mở rộng phạm vi công việc mà Phân hiệu có thể chủ động đảm nhận. Đó mới là phần giá trị còn lại sau khi một chương trình hợp tác kết thúc.

Quá trình này cho thấy, năng lực của một cơ sở đào tạo không được tạo nên chỉ bằng việc có những cá nhân giỏi. Năng lực của tổ chức hình thành khi những gì mỗi người học được có cơ hội đi vào công việc chung, được tiếp tục sử dụng, chia sẻ và phát triển qua những nhiệm vụ mới. Bởi vậy, phía sau những kết quả hợp tác là vai trò chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Học viện, sự ủng hộ và quyết liệt của lãnh đạo Phân hiệu, công tác tham mưu, kết nối và điều phối của Ban Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, cùng với sự chủ động và nỗ lực của chính viên chức, giảng viên. Cơ hội có thể đến từ bên ngoài, nhưng khả năng biến cơ hội thành năng lực phải được tạo ra từ bên trong tổ chức.

Ở dấu mốc 50 năm, đây cũng là một gợi mở cho chặng đường tiếp theo. Phân hiệu cần quan tâm nhiều hơn đến chất lượng tham gia và khả năng làm chủ trong mỗi quan hệ hợp tác. Một chương trình có giá trị khi đội ngũ học được điều cần thiết và sử dụng được điều đã học; một quan hệ hợp tác có chiều sâu khi hai bên có thể cùng giải quyết vấn đề, cùng xây dựng sản phẩm và cùng tạo ra tri thức; một mạng lưới chỉ thực sự có ý nghĩa khi Phân hiệu không chỉ hiện diện mà có tiếng nói và đóng góp chuyên môn của mình.

Vì vậy, hướng phát triển cần thiết trong những năm tới là tiếp tục tạo điều kiện để ngày càng nhiều viên chức, giảng viên có khả năng làm việc trực tiếp trong môi trường quốc tế; đồng thời, đưa những kinh nghiệm, phương pháp và quan hệ có được từ hợp tác trở lại phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu và những nhiệm vụ phát triển chung của Học viện. Khi đó, hợp tác quốc tế không còn được nhìn như một tập hợp các hoạt động đối ngoại riêng lẻ, mà trở thành một cách để Phân hiệu học hỏi, phát triển đội ngũ, mở rộng năng lực chuyên môn và nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình.

50 năm tạo nên một nền tảng. Giá trị của nền tảng ấy trong giai đoạn mới sẽ được thể hiện không chỉ ở những gì Phân hiệu đã làm được mà ở khả năng tiếp tục học hỏi, làm chủ những năng lực mới và tạo ra những đóng góp có giá trị hơn cho Học viện, cho nền hành chính và quản trị công của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Knight, J. (2004). Internationalization Remodeled: Definition, Approaches, and Rationales. Journal of Studies in International Education, Vol. 8, No. 1, pp. 5-31.
Knight, J. (2008), Higher Education in Turmoil: The Changing World of Internationalization, Sense Publishers, Rotterdam.
HCC (18/5/2026). Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Lớp bồi dưỡng cập nhật quy định, kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho Hội đồng nhân dân cấp xã năm 2026. Cổng thông tin Học viện Hành chính và Quản trị công. https://apag.edu.vn/phan-hieu-hoc-vien-hanh-chinh-va-quan-tri-cong-tai-thanh-pho-ho-chi-minh-to-chuc-lop-boi-duong-cap-nhat-quy-dinh-kien-thuc-ky-nang-nghiep-vu-cho-hoi-dong-nhan-dan-cap-xa-nam-2026-8970.htm
Hoàng Thị Hậu (27/6/2023). Nâng cao năng lực công chức lãnh đạo tiềm năng cấp chiến lược, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/06/27/nang-cao-nang-luc-cong-chuc-lanh-dao-tiem-nang-cap-chien-luoc-dap-ung-yeu-cau-quan-tri-quoc-gia-hien-dai-hieu-qua/