Vấn đề chức nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam

The question of women’s employment in Vietnam

ThS. Tô Thu Phương
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Email: tothuphuong2001@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Phụ nữ Việt Nam ngày nay đã khẳng định rõ vị thế là lực lượng kinh tế quan trọng với tỷ lệ tham gia lao động ngày càng cao và làm chủ nhiều mô hình sản xuất – kinh doanh. Tuy nhiên, trước tác động sâu sắc của tiến trình chuyển đổi số, lao động nữ vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, như: chênh lệch thu nhập theo giới, tỷ lệ lớn tập trung ở khu vực phi chính thức thiếu hụt an sinh xã hội, cùng nguy cơ bị đào thải bởi tự động hóa và sự thiếu hụt kỹ năng số chuyên sâu. Trên cơ sở phân tích thực trạng, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm trao quyền kinh tế thực chất và bền vững cho phụ nữ trong kỷ nguyên số, bao gồm: nâng cao năng lực làm chủ công nghệ mũi nhọn; hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tài sản số và dữ liệu; ứng dụng công nghệ số mở rộng mạng lưới an sinh xã hội cho khu vực phi chính thức; xác lập hệ giá trị, phẩm chất của phụ nữ mới trên nền tảng kết hợp hài hòa giữa bản sắc văn hóa dân tộc và năng lực thích ứng toàn cầu.

Từ khóa: Chức nghiệp; phụ nữ Việt Nam; trao quyền kinh tế; kỷ nguyên số; phong trào duy tân.

Abstract: Vietnamese women today have clearly established themselves as a vital economic force, with an increasingly high labor force participation rate and leadership roles in many business and production models. However, amid the profound impact of the digital transformation, female workers continue to face numerous barriers, such as the gender pay gap, a high concentration in the informal sector which lacks social security as well as the risk of being displaced by automation and a lack of advanced digital skills. Based on an analysis of the current situation, the study proposes four groups of solutions aimed at empowering women economically in a substantive and sustainable manner in the digital age, including: enhancing their capacity to master cutting-edge technologies; improving mechanisms to protect digital property rights and data; applying digital technology to expand the social safety net for the informal sector; and establishing a new set of values and qualities for women based on a harmonious blend of national cultural identity and global adaptability.

Keywords: Occupation, Vietnamese women, economic empowerment, digital era, Duy Tan movement.

1. Đặt vấn đề

Trong cấu trúc xã hội, chức nghiệp (nghề nghiệp, vị thế kinh tế – lao động) giữ vai trò trung tâm quy định vị thế pháp lý, quyền nhân thân và năng lực thực thi quyền con người của nữ giới. Việc tước bỏ hoặc giới hạn nghề nghiệp xã hội của phụ nữ đồng nghĩa với việc đẩy họ vào vị thế phụ thuộc và chịu sự áp chế cả về mặt tinh thần lẫn vật chất. Nhìn lại lịch sử tư tưởng Việt Nam, bước ngoặt đầu thế kỷ XX đặc biệt là giai đoạn 1900–1930 dưới tác động của phong trào Duy tân và sự tiếp xúc văn hóa Đông – Tây đã chứng kiến cuộc vận động tư tưởng sâu sắc nhằm giải phóng phụ nữ khỏi các quy chuẩn đạo đức Nho giáo truyền thống. Giới trí thức tiến bộ thời kỳ này như Phan Bội Châu, Đạm Phương Nữ, Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh đã khởi xướng việc nhận diện “chức nghiệp” như một vấn đề xã hội. Chức nghiệp được nâng lên thành “tính mệnh” (Đoàn Ánh Dương, 2018a, tr.48), trở thành nền tảng của nhân phẩm và điều kiện tiên quyết để người phụ nữ đạt đến tự chủ kinh tế, bình đẳng trong gia đình và tham gia vào sự nghiệp canh tân đất nước.

Bước sang thế kỷ XXI, Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chương trình chuyển đổi số quốc gia. Phương thức sản xuất hiện đại dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), mạng kết nối vạn vật (IoT) và không gian mạng đang tái cấu trúc lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Bối cảnh này vừa mở ra những cơ hội mới để nữ giới tham gia vào nền kinh tế số, nhưng đồng thời cũng làm nảy sinh những rào cản và nguy cơ bất bình đẳng giới mới như chênh lệch thu nhập theo giới, tỷ lệ lớn tập trung ở khu vực phi chính thức thiếu hụt an sinh xã hội, cùng nguy cơ bị đào thải bởi tự động hóa và sự thiếu hụt kỹ năng số chuyên sâu.

Từ cách tiếp cận lịch sử triết học, có thể thấy vấn đề chức nghiệp của phụ nữ luôn vận động trong mối liên hệ biện chứng với sự biến đổi của phương thức sản xuất và các trào lưu tư tưởng xã hội. Việc nghiên cứu tư tưởng canh tân đầu thế kỷ XX về quyền lao động của phụ nữ không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn cung cấp nền tảng lý luận trong việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài nghiên cứu tập trung phân tích sự chuyển biến quan niệm về chức nghiệp của phụ nữ qua hai thời kỳ có tính bước ngoặt, đối chiếu với thực tiễn thị trường lao động số hoá tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi kinh tế thực chất và bền vững cho phụ nữ trong kỷ nguyên số.

2. Quan niệm của giới trí thức đầu thế kỷ XX về chức nghiệp cho phụ nữ

Trong cấu trúc xã hội phong kiến Việt Nam, hệ tư tưởng Nho giáo giữ vai trò thống trị, chi phối đời sống bằng hệ chuẩn mực khắt khe như “tam tòng”, “tứ đức”. Dưới góc nhìn duy vật lịch sử, trật tự đạo đức này là sự phản ánh trực tiếp của phương thức sản xuất tiểu nông tự cấp tự túc gắn với chế độ gia trưởng. Nho giáo giới hạn người phụ nữ trong không gian gia đình, quy định thiên chức của họ là phụ trách việc nội trợ, phục vụ gia đình và duy trì nề nếp gia phong. Dù trên thực tế phụ nữ đóng góp phần lớn sức lao động trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế gia đình, nhưng những công lao của họ vẫn bị coi là mang tính phụ trợ, không được thừa nhận giá trị xã hội độc lập và hoàn toàn bị che khuất dưới quyền uy của nam giới.

Bước sang đầu thế kỷ XX, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân và quá trình đô thị đã làm rạn nứt kết cấu làng xã truyền thống. Đồng thời, sự du nhập của tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây thông qua Tân thư, Tân văn đã tạo ra diễn đàn công luận để giới trí thức cấp tiến thẳng thắn phê phán sự áp chế của Nho giáo. Trên diễn đàn báo chí đương thời, các học giả canh tân đã phê phán quan niệm cho rằng nữ giới chỉ cần “khôn lớn rồi gả chồng”, sống phụ thuộc vào gia đình, việc quy kết phụ nữ là hạng người “ăn không ngồi rồi” không chỉ là sự bất công mà còn là lực cản đối với sự tiến bộ của toàn dân tộc (Đoàn Ánh Dương, 2018a, tr.466).

Khảo cứu trước tác của giới trí thức tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ XX cho thấy, sự chuyển biến mang tính bước ngoặt trong quan niệm về chức nghiệp phụ nữ, thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, chức nghiệp là “tính mệnh” và thước đo nhân phẩm con người. Giới trí thức cấp tiến khẳng định: “Chức nghiệp của phụ nữ, tức là tính mệnh của phụ nữ, mà những người phụ nữ nào không có chức nghiệp, ấy là một giống sâu mọt của xã hội” (Đoàn Ánh Dương, 2018b, tr.160), Theo đó, lao động và nghề nghiệp không chỉ đơn thuần là công cụ mưu sinh cá nhân mà còn là nghĩa vụ đối với xã hội.

Thứ hai, chức nghiệp là điều kiện tiên quyết cho sự tự chủ kinh tế và bình đẳng gia đình. Nhận thức rõ bản chất kinh tế của vấn đề áp bức giới, các nhà canh tân chỉ ra rằng mọi yêu cầu về “nam nữ bình quyền” sẽ chỉ mang tính hình thức nếu phụ nữ vẫn phải sống phụ thuộc vào kinh tế của chồng hoặc cha. Việc có nghề nghiệp, kinh tế độc lập để tự nuôi sống bản thân là điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ khỏi sự lệ thuộc.

Thứ ba, mối quan hệ biện chứng giữa “Nữ học” và “Chức nghiệp”. Giới trí thức chuyển biến tư duy từ giáo dục luân lý gia đình “mẹ hiền vợ đảm” sang mô hình giáo dục thực học. Giáo dục cung cấp tri thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp, trong khi chức nghiệp đóng vai trò là không gian thực tiễn để chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế và năng lực xã hội của nữ giới.

Thứ tư, chức nghiệp giúp phụ nữ được bình đẳng trong quyền sở hữu tài sản. Trong xã hội truyền thống, quyền tài sản và thừa kế thuộc về nam giới. Khi phụ nữ trực tiếp tham gia thị trường lao động và tạo ra thu nhập độc lập, họ xác lập được tư cách pháp lý và cơ sở thực tiễn để nắm giữ, quản lý tài sản, từ đó tái cấu trúc quan hệ quyền lực trong gia đình theo hướng dân chủ và bình đẳng hơn.

Dù tạo ra bước ngoặt tư tưởng quan trọng, song quan điểm về chức nghiệp phụ nữ của giới trí thức tiến bộ đầu thế kỷ XX vẫn có những hạn chế mang tính lịch sử. Do sự quy định của bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến và xuất thân tầng lớp trí thức, các quan niệm chưa giải phóng triệt để phụ nữ khỏi khuôn mẫu đạo đức cũ. Nhiều trí thức vẫn coi chức nghiệp của phụ nữ là công cụ để hỗ trợ gia đình tốt hơn, làm “mẹ hiền, vợ đảm” kiểu mới, chứ chưa nhìn nhận trọn vẹn quyền phát triển cá nhân độc lập của phụ nữ. Ngoài ra, phạm vi tác động của những quan niệm này chủ yếu khu biệt ở tầng lớp nữ trí thức, thị dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Hải Phòng, mà chưa lan tỏa sâu rộng đến đại đa số phụ nữ nông dân ở khu vực nông thôn.

3. Thực trạng chức nghiệp và quyền lợi kinh tế của phụ nữ Việt Nam hiện nay

Kế thừa truyền thống tự lực, tự cường và thành quả giải phóng phụ nữ qua các thời kỳ cách mạng, phụ nữ Việt Nam ngày nay đã khẳng định rõ vị thế là một lực lượng lao động hùng hậu và là chủ thể kinh tế quan trọng của đất nước. Minh chứng rõ nét nhất là tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động duy trì ở mức cao so với mặt bằng chung của khu vực và thế giới, đạt 63,0% vào quý III năm 2025 (Tổng cục Thống kê, 2025a). Điều này cho thấy, mức độ hội nhập sâu rộng của nữ giới vào nền kinh tế thị trường, đồng thời khẳng định lực lượng lao động nữ không còn là lực lượng dự bị hay mang tính phụ trợ như trong mô hình kinh tế truyền thống mà đã trở thành lực lượng trực tiếp góp phần vào sự phát triển kinh tế. Vị thế kinh tế độc lập của phụ nữ tiếp tục được củng cố ở trong mọi khu vực kinh tế.

Trong khu vực doanh nghiệp, tỷ lệ các cơ sở kinh doanh do phụ nữ làm chủ duy trì ổn định ở mức 22,2% đến 25%, đưa Việt Nam vào nhóm các thị trường có mạng lưới doanh nghiệp nữ phát triển thuận lợi hàng đầu trong khối ASEAN (Nguyễn Thị Tuyến, 2025). Điều này cho thấy, phụ nữ không dừng lại ở vai trò người làm công ăn lương mà đã tham gia sâu vào tổ chức sản xuất và dẫn dắt thị trường. Đồng thời, tại các địa bàn nông thôn và cộng đồng dân tộc thiểu số, điển hình như tại Đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ Khmer đóng góp tới 58% tổng thu nhập nông hộ (khoảng 28 triệu đồng/năm) (Nguyễn Thị Trang, Võ Hồng Tú & Nguyễn Phú Sơn, 2023, tr.18) và nắm giữ quyền định quyết định trong quy trình chăn nuôi cũng như quản lý tài sản, kinh tế gia đình. Việc trực tiếp tạo ra và chi phối nguồn thu nhập đã xác lập cơ sở thực tế vững chắc để phụ nữ bình đẳng quan hệ quyền lực trong gia đình, xóa bỏ định kiến phụ thuộc kinh tế vốn tồn tại lâu đời.

Sự chuyển biến về vị thế kinh tế của nữ giới được bảo đảm và hỗ trợ bởi một hệ thống thể chế, chính sách không ngừng được hoàn thiện. Từ Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Bình đẳng giới năm 2006 đến Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030 (Nghị quyết số 28/NQ-CP) và các chương trình hành động cụ thể như Đề án 939 “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp”, Đề án 01 do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì, Nhà nước đã từng bước thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ. Hệ thống chính sách này tập trung tháo gỡ các rào cản tiếp cận nguồn vốn, chuẩn hóa đào tạo nghề và nâng cao năng lực quản trị, tạo tiền đề vật chất và pháp lý cần thiết để nữ giới chủ động thực hiện quyền kinh tế của mình.

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, thực trạng việc làm và bảo đảm quyền lợi kinh tế của phụ nữ Việt Nam vẫn đang bộc lộ những rào cản nhất định như:

Một là, bất bình đẳng về thu nhập phản ánh sự phân hóa chất lượng việc làm theo giới. Số liệu thống kê năm 2025 cho thấy mức thu nhập bình quân tháng của lao động nam đạt 9,8 triệu đồng, trong khi lao động nữ chỉ đạt 7,4 triệu đồng (Tổng cục thống kê, 2025b). Mức chênh lệch thu nhập lên tới khoảng 34% (nam giới cao gấp 1,32 lần nữ giới) không đơn thuần xuất phát từ năng suất lao động cá nhân, mà là hệ quả của hiện tượng phân hoá nghề nghiệp theo giới. Trên thực tế, phụ nữ vẫn tập trung nhiều ở các ngành nghề có thu nhập thấp, thiếu cơ hội thăng tiến, đồng thời gánh vác trách nhiệm gia đình. Đặc biệt, phụ nữ ở khu vực nông thôn và vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu là nhóm dễ bị tổn thương nhất trước các cú sốc kinh tế. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động nữ làm việc trong khu vực phi chính thức vẫn chiếm tới 59,3% (Hải Yến, 2026). Điều này cho thấy, phần lớn phụ nữ đang phải chấp nhận những việc làm bấp bênh, tiền lương thấp, điều kiện lao động thiếu an toàn và thiếu bảo hiểm xã hội và điều kiện lao động bảo đảm.

Hai là, khoảng trống tiếp cận hệ thống an sinh xã hội tạo ra rủi ro kinh tế dài hạn. Hệ quả trực tiếp của việc gắn chặt với khu vực kinh tế phi chính thức là tình trạng thiếu hệ thống an sinh. Khảo sát quốc gia về bình đẳng giới năm 2024 chỉ ra rằng, có tới 42,0% nữ giới không tham gia bất kỳ hình thức bảo hiểm xã hội nào (cao hơn mức 36,5% ở nam giới). Ở nhóm người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên, chỉ có 6,9% phụ nữ được hưởng lương hưu, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 25,9% (Trần Thị Minh Thi, 2025, tr.20). Thực trạng này đẩy phụ nữ cao tuổi vào tình thế phụ thuộc hoàn toàn vào chu cấp con cái hoặc trợ cấp xã hội ít ỏi, biến họ thành nhóm đối tượng chịu nguy cơ nghèo đói và cô lập kinh tế cao nhất trong cấu trúc xã hội.

Thứ ba, khoảng cách giới trong chuyển đổi số đe dọa trực tiếp vị thế chức nghiệp của lao động nữ. Dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, thị trường lao động đang tái phân công theo hướng ưu tiên kỹ năng số hóa và tự động hóa. Trong tiến trình này, lực lượng lao động nữ đang đối mặt với nhiều rủi ro. Một mặt, tỷ lệ lao động nữ trong các lĩnh vực STEM, thiết kế phần mềm, nghiên cứu trí tuệ nhân tạo và quản trị dữ liệu vẫn ở mức rất thấp do rào cản định kiến giới trong định hướng giáo dục – nghề nghiệp, phụ nữ tham gia kinh tế số hiện chủ yếu dừng lại ở các ngành nghề đơn giản như gia công dữ liệu thủ công, bán hàng trực tuyến quy mô nhỏ lẻ hoặc vận hành dịch vụ ở mức độ thấp. Mặt khác, các ngành công nghiệp truyền thống của phụ nữ như dệt may, da giày, chế biến và lắp ráp linh kiện điện tử đang chịu áp lực đào thải và thay thế trực tiếp bởi các dây chuyền tự động hóa và AI. Nếu không có các giải pháp can thiệp kịp thời về đào tạo lại kỹ năng số, nguy cơ phụ nữ bị đẩy vào các khu vực việc làm phi chính thức và thu nhập thấp là khó tránh khỏi.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, nâng cao vị thế và năng lực làm chủ công nghệ của lao động nữ trong nền kinh tế tri thức. Về mặt nhận thức lý luận, việc tham gia vào thị trường lao động hiện nay không chỉ dừng lại ở việc phụ nữ tìm kiếm việc làm trên không gian mạng hay đảm nhận các công việc dịch vụ số ở mức thấp. Nếu chỉ dừng lại ở đây, phụ nữ dễ trở thành lực lượng gia công dữ liệu giá rẻ hoặc đối tượng thụ động chịu sự chi phối của các thuật toán công nghệ. Do đó, cần chuyển biến căn bản mục tiêu trao quyền kinh tế, xác lập phụ nữ là chủ thể sáng tạo trực tiếp và thụ hưởng giá trị trong các ngành nghề có giá trị cao. Để hiện thực hóa định hướng này, Nhà nước cần ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực nữ trong các ngành công nghệ mũi nhọn, trọng tâm là các lĩnh vực STEM, trí tuệ nhân tạo (AI), thiết kế vi mạch bán dẫn và quản trị dữ liệu lớn. Khung chính sách cần ưu tiên các chương trình đào tạo chuyên sâu và đào tạo lại kỹ năng số có tính đón đầu xu thế dịch chuyển việc làm, từ đó, tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật để lao động nữ từng bước chuyển từ vai trò người tiêu dùng công nghệ sang vai trò chuyên gia thiết kế, kỹ sư vận hành và nhà quản trị trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tài sản số. Nếu trong tiến trình lịch sử đầu thế kỷ XX, tập trung vào việc xác lập quyền đối với các tư liệu sản xuất hữu hình truyền thống (như quyền sở hữu đất đai, nhà ở và số tiền làm ra) thì trong kỷ nguyên kinh tế số, phạm vi của quyền lợi kinh tế đòi hỏi phải được mở rộng sang lĩnh vực tài sản số và dữ liệu. Nhận thức này xuất phát từ bản chất của phương thức sản xuất hiện đại, nơi dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất cốt lõi và tài sản vô hình quyết định năng lực cạnh tranh. Theo đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải hoàn thiện khung pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ trên không gian mạng, công nhận và bảo vệ quyền sở hữu dữ liệu thương mại, thương hiệu số của các doanh nghiệp và mô hình kinh tế do phụ nữ quản lý, vận hành. Song song với việc xác lập quyền tài sản, Nhà nước cần thiết lập các quy chuẩn kiểm tra kỹ thuật định kỳ đối với các thuật toán tuyển dụng lao động và hệ thống chấm điểm tín dụng tự động. Việc xây dựng các hệ thống trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm và đáp ứng yêu cầu bình đẳng giới là giải pháp quan trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ loại trừ phụ nữ khỏi thị trường việc làm và các nguồn vốn đầu tư công nghệ cao.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ứng dụng công nghệ số cho lao động nữ trong khu vực phi chính thức. Số liệu thống kê cho thấy gần 60% lực lượng lao động nữ hiện tập trung ở khu vực phi chính thức, đây là nhóm đối tượng chịu tổn thương kinh tế lớn nhất khi đối mặt với rủi ro thị trường, biến cố sức khỏe hoặc tuổi già mà thiếu vắng sự hỗ trợ của hợp đồng lao động và bảo hiểm xã hội. Để khắc phục khoảng trống này, cần đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu an sinh xã hội quốc gia đồng bộ và liên thông, tích hợp các giải pháp công nghệ tài chính trên nền tảng thiết bị di động. Cơ chế này tạo điều kiện thuận lợi về mặt kỹ thuật và thủ tục hành chính để nhóm lao động nữ phi chính thức, lao động di cư và phụ nữ dân tộc thiểu số chủ động tham gia đăng ký, đóng góp và tích lũy bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng như các gói bảo hiểm phù hợp với thu nhập. Đi liền với hạ tầng kỹ thuật, Nhà nước và các tổ chức xã hội cần mở rộng các chương trình phổ cập giáo dục tài chính số toàn diện. Việc nâng cao hiểu biết về quản trị dòng tiền, an toàn số và quản lý rủi ro tín dụng là điều kiện thiết yếu để lao động nữ tiếp cận hiệu quả với các kênh tín dụng chính thức có lãi suất ưu đãi, qua đó giảm thiểu tối đa tình trạng phụ thuộc vào các hình thức cho vay nặng lãi và lừa đảo tài chính trên không gian mạng.

Thứ tư, xác lập phẩm chất và năng lực của phụ nữ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trên nền tảng kế thừa giá trị văn hóa dân tộc. Dưới góc độ triết học văn hóa, quá trình xác lập vị thế của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay không phải là sự đoạn tuyệt với truyền thống, cũng không phải là sự tiếp thu rập khuôn các mô hình văn hóa ngoại lai, như giới trí thức đầu thế kỷ XX đã đặt ra. Về bản chất, đây là quá trình phủ định biện chứng, phản ánh sự tương tác và thống nhất giữa các giá trị đạo đức mang tính truyền thống với các yêu cầu phát triển mới của phương thức sản xuất hiện đại. Theo đó, việc phát triển toàn diện nguồn nhân lực nữ đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống như tinh thần tự lực, tự cường, trách nhiệm gia đình và tính cộng đồng với các năng lực cốt lõi của thời đại số như tư duy phản biện, khả năng làm chủ công nghệ, tính chủ động sáng tạo và năng lực thích ứng với môi trường làm việc toàn cầu. Đây là tiền đề tư tưởng và văn hóa quan trọng giúp người phụ nữ vừa bảo tồn bản sắc văn hóa, vừa tự tin tham gia vào các quan hệ kinh tế – xã hội hiện đại mà không rơi vào tình trạng tha hóa hay đánh mất giá trị vốn có của cá nhân người phụ nữ.

5. Kết luận

Đặt trong tiến trình lịch sử tư tưởng, có thể nhận thấy quan niệm về chức nghiệp của phụ nữ Việt Nam đã trải qua một quá trình vận động và tái cấu trúc sâu sắc.

Về bản chất, xã hội phong kiến Nho giáo định vị chức năng của nữ giới chủ yếu bó hẹp trong phạm vi “tề gia nội trợ”, hoàn toàn phụ thuộc kinh tế vào nam giới (cha hoặc chồng). Đến phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX, nhận thức này được nâng lên thành “tính mệnh”, trở thành công cụ mưu sinh độc lập và thước đo phẩm giá, địa vị của người phụ nữ trong xã hội. Bước sang kỷ nguyên số, bản chất chức nghiệp tiếp tục mở rộng thành yêu cầu “tự chủ số”, trong đó phụ nữ không chỉ mưu sinh tự lập mà còn là chủ thể trực tiếp sáng tạo giá trị trong nền kinh tế tri thức và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI).

Về không gian hoạt động, sự dịch chuyển diễn ra từ không gian đóng kín của khuê môn, kinh tế gia đình và lao động đồng áng phụ trợ thời phong kiến, bước ra thị trường lao động công cộng ở đô thị, nhà máy, trường học và thương nghiệp đầu thế kỷ XX. Hiện nay, không gian đó đã vượt ra khỏi giới hạn địa lý truyền thống để mở rộng sang không gian mạng và nền kinh tế số toàn cầu, vận hành linh hoạt trên sự giao thoa giữa môi trường thực và môi trường số.

Về quyền sở hữu tài sản, nếu thời kỳ phong kiến phụ nữ bị tước bỏ quyền tài sản do chế độ thừa kế phụ quyền, thì tư tưởng canh tân đầu thế kỷ XX đã xác lập quyền sở hữu tài sản riêng bắt nguồn từ chính sức lao động độc lập của họ. Trong kỷ nguyên số, quyền tài sản của phụ nữ tiếp tục phát triển, bao hàm quyền sở hữu tài sản số, quyền kiểm soát dữ liệu, thương hiệu cá nhân và năng lực làm chủ các thuật toán công nghệ.

Có thể thấy, nếu như đầu thế kỷ XX, việc xác lập chức nghiệp cho phụ nữ là cuộc cách mạng tư tưởng nhằm phá vỡ những quan điểm lạc hậu của Nho giáo, khẳng định phụ nữ với tư cách là “cá nhân độc lập” và tạo nền tảng tự chủ kinh tế, thì trong kỷ nguyên số hiện nay, trao quyền kinh tế cho phụ nữ là yêu cầu tất yếu để phát huy tối đa nguồn nhân lực nữ trong sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Bên cạnh đó, việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ trong kỷ nguyên số không thuần túy nằm ở các chỉ số tăng trưởng kinh tế hay tỷ lệ việc làm mà là sự thực hiện mục tiêu về giải phóng con người toàn diện. Phụ nữ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà phải là chủ thể kiến tạo, làm chủ công nghệ và sáng tạo giá trị. Thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá từ nâng cao vị thế và năng lực làm chủ công nghệ của lao động nữ, hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tài sản số, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đến xác lập phẩm chất và năng lực của phụ nữ trong kỷ nguyên số, sẽ mở ra không gian phát triển tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho phụ nữ Việt Nam, góp phần đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:
Đoàn Ánh Dương (2018a). Đạm Phương nữ sử – Vấn đề phụ nữ ở nước ta. Nxb. Phụ nữ.
Đoàn Ánh Dương (2018b). Phan Bội Châu – Vấn đề phụ nữ ở nước ta. Nxb. Phụ nữ.
Nguyễn Thùy Trang, Võ Hồng Tú & Phú Son (2013). Vai trò phụ nữ cộng đồng dân tộc Khmer trong phát triển kinh tế hộ ở khu vực nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. số 6. tr.15–21.
Nguyễn Hải Thanh (2024). Sự tham gia chính của phụ nữ: Thực tiễn quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. số 11. tr.3–13.
Trần Thị Minh Thi (2025). Giá trị gia đình Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vai trò của phụ nữ. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. số 2(206). tr.13–22.
Nguyễn Thị Thanh Thư (2025). Quyền của lao động nữ và bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý nhà nước. số 359. tr.73–78. DOI: https://doi.org/10.59394/qlnn.359.2025.1380
Nguyễn Thị Tuyến (31/01/2025). Phát huy vai trò của phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1069302/phat-huy-vai-tro-cua-phu-nu-viet-nam-trong-ky-nguyen-moi.aspx
Hải Yến (05/01/2026). Năm 2025, lao động nữ tăng về ‘lượng’ nhưng còn hạn chế về ‘chất’”. Báo Phụ nữ Việt Nam. https://phunuvietnam.vn/nam-2025-lao-dong-nu-tang-ve-luong-nhung-han-che-ve-chat-238260105172317173.htm
Tổng cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2025. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/10/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iii-va-9-thang-nam-2025/
Tổng cục Thống kê (2025). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/