Phát huy vị thế chủ thể của nông dân Đồng bằng sông Hồng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay

Promoting the agency of farmers in the Red River Delta in the current development of the agricultural economy

NCS. Khuất Thị Vang
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Mail: vangk52@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Phát triển kinh tế nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng đánh dấu sự chuyển đổi từ tư duy chú trọng sản lượng sang tổ chức một hệ thống tạo giá trị dựa trên nhu cầu thị trường, liên kết chuỗi, khoa học – công nghệ, dịch vụ, chế biến và tích hợp các giá trị kinh tế – xã hội, văn hóa, môi trường. Trong quá trình đó, phát huy vị thế chủ thể của nông dân là yêu cầu xuyên suốt trong phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định: “Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới” (Ban Chấp hành Trung ương, 2022). Trong bối cảnh đó, Đồng bằng sông Hồng đang đẩy nhanh công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển đổi số và tái cơ cấu không gian phát triển, việc bảo đảm nông dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà thực sự có khả năng tham gia quyết định, tổ chức sản xuất, kiểm soát nguồn lực, đổi mới sáng tạo và thụ hưởng thành quả phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Từ khóa: Nông dân; vị thế chủ thể; kinh tế nông nghiệp; phát triển kinh tế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Đồng bằng sông Hồng.

Abstract: Agricultural economic development in the Red River Delta is shifting from a production-oriented approach toward a value-creation system driven by market demand, value-chain linkages, science and technology, services, processing, and the integration of economic, social, cultural, and environmental values. In this process, strengthening the role of farmers as key actors is essential to agricultural development, rural economic development, and new rural development in Vietnam. Resolution No. 19-NQ/TW, issued by the Party Central Committee on June 16, 2022, affirms that “farmers are the subjects and the center of the process of agricultural development, rural economic development, and new rural development” (Party Central Committee, 2022). Against this backdrop, as the Red River Delta accelerates industrialization, urbanization, digital transformation, and the restructuring of its development space, it is particularly important to ensure that farmers are not merely beneficiaries but active participants who can contribute to decision-making, organize production, access and manage resources, drive innovation, and share in the benefits of development.

Keywords: Farmers; agency; agricultural economy; economic development; industrialization and modernization; Red River Delta.

1. Đặt vấn đề

Đồng bằng sông Hồng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, với truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh cao và nguồn nhân lực nông thôn dồi dào. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình sản xuất dựa chủ yếu vào kinh tế hộ, quy mô nhỏ sang nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, sinh thái, ứng dụng khoa học – công nghệ và gắn kết chặt chẽ với thị trường. Quá trình này vừa mở ra những cơ hội mới, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với người nông dân, nhất là trong tiếp cận đất đai, vốn, khoa học – công nghệ, thông tin thị trường và tham gia các chuỗi giá trị nông sản. Trong bối cảnh đó, phát huy vị thế chủ thể của nông dân có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của vùng. Theo đó, nông dân không chỉ là lực lượng trực tiếp sản xuất mà còn cần trở thành chủ thể trong lựa chọn phương thức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ, tổ chức liên kết, xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường và thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực trong tổ chức sản xuất, phát triển hợp tác xã, ứng dụng công nghệ và liên kết chuỗi giá trị, vị thế của một bộ phận nông dân vẫn còn hạn chế. Quy mô sản xuất nhỏ, năng lực quản trị, thương lượng trên thị trường và mức độ tham gia vào các khâu tạo giá trị gia tăng còn thấp. Chính vì vậy, phát huy vị thế chủ thể của nông dân là yêu cầu cần thiết trong phát triển kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay.

2. Sự thay đổi nhận thức về vị thế chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp từng bước được bổ sung, hoàn thiện, tạo cơ sở phát huy quyền chủ động của nông dân trong sản xuất. Quá trình này gắn với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, từ tập trung, bao cấp sang phát huy quyền tự chủ của người sản xuất và kinh tế hộ. Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp đã tạo bước chuyển quan trọng trong tổ chức sản xuất. Việc xác lập hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, mở rộng quyền sử dụng đất và quyền chủ động trong sản xuất đã tạo động lực phát triển sản xuất; đồng thời, từng bước khẳng định vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quan điểm về vai trò của nông dân tiếp tục được mở rộng từ phạm vi sản xuất sang phát triển nông nghiệp, nông thôn và đời sống xã hội ở khu vực nông thôn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” (Ban Chấp hành Trung ương, 2008). Quan điểm này khẳng định, vai trò của nông dân không chỉ với tư cách lực lượng trực tiếp sản xuất mà còn là lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng nông thôn và bảo đảm ổn định ở khu vực nông thôn.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định rõ: “Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2022). Đây là bước phát triển trong nhận thức về vị trí, vai trò của nông dân, từ đề cao quyền tự chủ trong sản xuất đến xác định nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Cùng với đó, yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp vị thế chủ thể của nông dân ngày càng gắn với khả năng tham gia vào các hình thức liên kết, chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; đồng thời, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, nguồn lực sản xuất và thụ hưởng thành quả phát triển. Do đó, phát huy vị thế chủ thể của nông dân cần gắn với nâng cao năng lực, mở rộng quyền tham gia và tạo điều kiện để nông dân chủ động hơn trong tổ chức sản xuất, liên kết kinh tế và thích ứng với những thay đổi của thị trường.

Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định, nông dân là trung tâm, là chủ thể của quá trình đổi mới, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; thu nhập và khả năng thích ứng của một bộ phận nông dân còn hạn chế. Vì vậy, việc xác định nông dân là chủ thể cần được gắn với các điều kiện bảo đảm về năng lực, nguồn lực, cơ hội tham gia và khả năng thụ hưởng thành quả phát triển. Đến Đại hội lần thứ XIV Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam văn minh, phát triển toàn diện, có ý chí, tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên; phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.123). Yêu cầu này được đặt trong bối cảnh Đồng bằng sông Hồng có nhiều thay đổi về không gian phát triển và cơ cấu kinh tế. Đồng thời, là vùng có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, mật độ dân cư cao và đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, hữu cơ, xanh, tuần hoàn, có giá trị kinh tế cao. Từ đó, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất, khả năng thích ứng và sự tham gia thực chất của nông dân vào các mô hình tổ chức sản xuất mới.

Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, Quyết định số 612/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 xác định vùng Đồng bằng sông Hồng gồm sáu tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình và Quảng Ninh, cùng không gian biển, đảo liên quan. Quy hoạch mới định hình không gian phát triển có sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, logistics, đô thị và dịch vụ. Đồng thời, quy hoạch xác định ba không gian sản xuất nông nghiệp lớn, gồm: vành đai nông nghiệp ven biển; vành đai nông, lâm nghiệp trung du, đồi núi; vùng nông nghiệp đồng bằng tập trung, gắn với yêu cầu phát triển chuỗi sản xuất – chế biến – phân phối, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sinh thái và kinh tế tuần hoàn.

Những thay đổi về định hướng phát triển và không gian kinh tế đặt ra yêu cầu phát huy rõ hơn vị thế chủ thể của nông dân trong điều kiện mới. Vị thế đó không chỉ thể hiện ở khả năng tự chủ sản xuất mà còn ở mức độ tham gia tổ chức và liên kết sản xuất, tiếp cận nguồn lực, ứng dụng khoa học – công nghệ, tham gia chuỗi giá trị và thụ hưởng thành quả phát triển. Trong quá trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xanh, tuần hoàn và gắn với chuỗi giá trị, việc phát huy vị thế chủ thể của nông dân cần được thể hiện bằng khả năng tham gia và thực hiện các vai trò này trên thực tế. Đây chính là cơ sở để đánh giá thực tiễn phát huy vị thế chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay.

3. Thực tiễn phát huy vị thế chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng

Thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy, vị thế chủ thể của nông dân từng bước được thể hiện rõ hơn trong tổ chức sản xuất, hợp tác và liên kết, ứng dụng khoa học – công nghệ, tham gia xây dựng nông thôn và tiếp cận các nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, mức độ phát huy vị thế chủ thể chưa đồng đều; quy mô sản xuất, năng lực liên kết, khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ, cũng như khả năng tiếp cận các nguồn lực của một bộ phận nông dân còn hạn chế.

Thứ nhất, về tự chủ và tổ chức sản xuất.

Từ phương thức sản xuất quy mô nhỏ, phân tán, nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học – công nghệ và tổ chức sản xuất theo hướng quy mô, chuyên nghiệp hơn. Theo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, vùng Đồng bằng sông Hồng có 6.654 trang trại, tăng 1.309 trang trại so với năm 2020, tương đương tăng 24,49% (Cục Thống kê, 2026). Sự gia tăng số lượng trang trại cho thấy, một bộ phận nông dân đã từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang các hình thức tổ chức sản xuất có quy mô lớn hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ và tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

Bên cạnh đó, nhiều hộ đã chủ động lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi, áp dụng cơ giới hóa, công nghệ số, quy trình sản xuất an toàn, hữu cơ và các tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với yêu cầu thị trường. Tuy nhiên, sản xuất hộ gia đình vẫn giữ vai trò đáng kể, trong khi khả năng tích tụ, tập trung đất đai và năng lực quản trị sản xuất của nhiều hộ còn hạn chế. Một bộ phận nông dân vẫn chủ yếu thực hiện các khâu sản xuất trực tiếp, trong khi khả năng chủ động trong lựa chọn đầu vào, tổ chức tiêu thụ và tham gia các khâu tạo giá trị gia tăng còn chưa cao. Vì vậy, phát huy vị thế chủ thể cần tiếp tục gắn với nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, mở rộng quyền chủ động trong lựa chọn phương án sản xuất và tăng khả năng tham gia vào các khâu của chuỗi giá trị.

Thứ hai, về hợp tác, liên kết và tham gia chuỗi giá trị.

Nông dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào hợp tác xã, tổ hợp tác và các mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ nhằm tập trung nguồn lực, thống nhất quy trình kỹ thuật, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường. Thông qua hợp tác và liên kết, nông dân có điều kiện tham gia sâu hơn vào các khâu của chuỗi giá trị, từ tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng đến sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hợp tác xã giữ vai trò kết nối hộ sản xuất với doanh nghiệp, hệ thống phân phối và thị trường, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực và vị thế của nông dân trong các mối liên kết.

Tuy nhiên, kết quả liên kết chưa thật sự đồng đều; một số mô hình còn thiếu tính bền vững, hợp đồng liên kết chưa chặt chẽ và cơ chế chia sẻ rủi ro, lợi ích chưa phù hợp. Vì vậy, phát huy vị thế chủ thể của nông dân trong liên kết không chỉ dừng ở việc tham gia sản xuất mà còn cần thể hiện ở quyền tham gia thảo luận, quyết định các vấn đề về tổ chức sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, phân chia lợi ích và trách nhiệm khi phát sinh rủi ro.

Thứ ba, về ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số.

Quy hoạch vùng xác định phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, sinh thái, tuần hoàn, thông minh và nâng cao giá trị sản phẩm gắn với chuỗi giá trị (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Trên thực tế, các hình thức ứng dụng giống mới, cơ giới hóa, công nghệ tưới tiết kiệm, nhà màng, tự động hóa, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và nền tảng số trong quảng bá, tiêu thụ sản phẩm từng bước được mở rộng. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ giữa các hộ còn khác nhau; hạn chế về vốn, khả năng tiếp cận công nghệ và kỹ năng khai thác dữ liệu vẫn là những rào cản ảnh hưởng đến khả năng làm chủ công nghệ của nông dân. Vì vậy, chuyển đổi số trong nông nghiệp cần gắn với nâng cao năng lực của nông dân, giúp người dân chủ động lựa chọn, sử dụng và khai thác công nghệ, từ đó, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.

Thứ tư, về tham gia xây dựng nông thôn và quản trị địa phương.

Vị thế chủ thể của nông dân được thể hiện qua việc tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế cộng đồng, thực hiện dân chủ ở cơ sở và giám sát các hoạt động phát triển nông thôn. Năm 2025, 100% số xã trong vùng Đồng bằng sông Hồng đạt chuẩn nông thôn mới, cao nhất trong các vùng kinh tế – xã hội của cả nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025). Kết quả này có sự tham gia tích cực của người dân trong huy động nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường và triển khai các chương trình phát triển tại địa phương.

Tại một số địa phương, người dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường, chỉnh trang cảnh quan và thực hiện các tiêu chí nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Chẳng hạn, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã huy động sự đồng thuận của người dân trong thực hiện các tiêu chí về môi trường và cảnh quan nông thôn. Những hoạt động này cho thấy, vai trò của nông dân không chỉ giới hạn ở đóng góp nguồn lực mà còn gắn với việc thực hiện các mục tiêu phát triển cộng đồng.

Tuy nhiên, ở một số nơi, người dân vẫn chủ yếu tham gia với vai trò đóng góp nguồn lực và thực hiện các chương trình đã được xác định; mức độ tham gia vào các khâu xác định nhu cầu, lựa chọn phương án và giám sát kết quả thực hiện còn hạn chế. Vì vậy, cần tạo điều kiện để nông dân tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát các chương trình, kế hoạch phát triển nông thôn, nâng cao vai trò chủ động của người dân trong quản trị và phát triển địa phương.

Thứ năm, về tiếp cận nguồn lực và thụ hưởng thành quả phát triển.

Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, trong vùng có 6.391 trang trại, tăng so với 5.318 trang trại năm 2020; tổng giá trị sản phẩm bán ra của các trang trại trong vùng đạt hơn 27.104 tỷ đồng, bình quân khoảng 4,928 tỷ đồng/trang trại (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương, 2026). Sự gia tăng về số lượng và quy mô trang trại cho thấy, xu hướng tổ chức sản xuất theo hướng tập trung góp phần mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và tạo điều kiện để nông dân nâng cao thu nhập, tiếp cận thị trường và tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế nông nghiệp.

Tuy nhiên, sự gia tăng về quy mô và giá trị sản xuất chưa đồng nghĩa với việc nông dân được hưởng lợi tương xứng; khả năng tiếp cận đất đai, vốn, khoa học – công nghệ, thông tin thị trường và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất vẫn còn hạn chế. Sự tham gia của nông dân vào các khâu tạo ra và phân phối giá trị trong chuỗi sản xuất chưa đồng đều, ảnh hưởng đến khả năng thụ hưởng lợi ích từ quá trình phát triển. Vì vậy, phát huy vị thế chủ thể của nông dân cần gắn với mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất và dịch vụ hỗ trợ, đồng thời nâng cao vai trò của nông dân trong chuỗi giá trị, từ đó cải thiện thu nhập và bảo đảm lợi ích phù hợp với mức độ đóng góp vào quá trình sản xuất.

4. Giải pháp phát huy vị thế chủ thể của nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong phát triển kinh tế nông nghiệp hiện nay

Để tiếp tục phát huy vị thế chủ thể của nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, cần chuyển từ cách tiếp cận coi nông dân là đối tượng thụ hưởng chính sách sang tạo điều kiện để nông dân chủ động tổ chức sản xuất, hợp tác, liên kết, ứng dụng khoa học – công nghệ, tham gia quản trị và thụ hưởng thành quả phát triển. Trên cơ sở đó, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, đổi mới quản lý, phát huy vai trò chủ thể của nông dân.

Đổi mới phương thức hoạch định và thực hiện chính sách theo hướng tăng cường sự tham gia của nông dân trong xác định nhu cầu, lựa chọn nội dung hỗ trợ, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách liên quan trực tiếp đến sản xuất, việc làm và sinh kế. Chính quyền địa phương cần tăng cường tham vấn nông dân trong quy hoạch sản xuất, lựa chọn ngành hàng, xây dựng chương trình hỗ trợ và đánh giá kết quả thực hiện phù hợp với từng địa phương.

Cùng với đó, cần chuyển đánh giá chính sách từ chú trọng số lượng mô hình, lớp tập huấn và kinh phí hỗ trợ sang đánh giá kết quả thực tế như mức tăng thu nhập, khả năng tiếp cận thị trường, tín dụng, khoa học – công nghệ và mức độ tham gia của nông dân vào các tổ chức hợp tác, chuỗi giá trị. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo; nông dân chủ động tổ chức sản xuất và tham gia liên kết; hợp tác xã kết nối thành viên; doanh nghiệp tổ chức thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, tạo điều kiện để nông dân thực hiện đầy đủ hơn vai trò chủ thể trong phát triển kinh tế nông nghiệp.

Hai là, phát triển kinh tế tập thể, nâng cao năng lực hợp tác xã và tổ chức đại diện của nông dân.

Kinh tế tập thể, với nòng cốt là hợp tác xã có vai trò tập hợp các hộ sản xuất, cung ứng dịch vụ và kết nối thị trường. Vì vậy, cần củng cố hợp tác xã theo hướng nâng cao năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ và chuyển đổi số trên cơ sở sự tham gia tự nguyện của thành viên. Đối với các ngành hàng có lợi thế, khuyến khích liên kết giữa hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và doanh nghiệp theo chuỗi giá trị nhằm tập hợp sản lượng, thống nhất tiêu chuẩn, giảm chi phí giao dịch và nâng cao khả năng thương lượng của nông dân.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của Hội Nông dân, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức nghề nghiệp trong đại diện, hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nông dân. Tạo cơ chế để đại diện nông dân tham gia phù hợp vào xây dựng quy hoạch, góp ý chương trình, dự án liên quan đến sản xuất và sinh kế, giám sát thực hiện chính sách và đối thoại với các chủ thể liên quan, qua đó nâng cao vai trò chủ động của nông dân trong tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông nghiệp.

Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực làm chủ khoa học – công nghệ của nông dân.

Chuyển đổi số trong nông nghiệp cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, đồng thời hướng đến nâng cao khả năng làm chủ công nghệ của nông dân. Đối với vùng Đồng bằng sông Hồng, cần xây dựng, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ sản xuất về đất đai, thời tiết, dịch bệnh, giá vật tư, giá nông sản và nhu cầu thị trường; bảo đảm thông tin được chuẩn hóa, cập nhật và cung cấp thuận tiện. Hợp tác xã có thể làm đầu mối tổ chức ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhật ký sản xuất, truy xuất nguồn gốc và kết nối đơn hàng.

Tiếp tục phát triển công tác khuyến nông, tập huấn và hướng dẫn nông dân sử dụng nền tảng số, thanh toán điện tử, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử; đồng thời, liên kết với cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ để chuyển giao, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ phù hợp. Qua đó, nâng cao năng lực tự chủ, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ tham gia của nông dân vào chuỗi giá trị.

Bốn là, củng cố liên kết chuỗi giá trị, nâng cao vị thế và bảo đảm lợi ích của nông dân.

Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần được củng cố theo hướng ổn định, minh bạch và gắn với thị trường. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ liên kết và thực hiện hợp đồng, trong đó xác định rõ sản lượng, tiêu chuẩn chất lượng, phương thức xác định giá, trách nhiệm của các bên và cơ chế giải quyết tranh chấp.

Hợp tác xã cần phát huy vai trò đầu mối trong tổ chức sản xuất và đại diện cho thành viên khi liên kết với doanh nghiệp. Chính quyền địa phương tập trung cung cấp thông tin thị trường, hướng dẫn pháp lý, hỗ trợ hòa giải và xử lý các trường hợp vi phạm hợp đồng, gian lận thương mại, không bảo đảm chất lượng. Đồng thời, hỗ trợ nông dân và hợp tác xã tham gia sâu hơn vào các khâu sơ chế, bảo quản, chế biến và xây dựng thương hiệu, qua đó nâng cao khả năng thương lượng, mức độ tham gia và lợi ích của nông dân trong chuỗi giá trị.

Năm là, phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị gắn với đa dạng hóa sinh kế và nâng cao năng lực của nông dân.

Chính quyền địa phương cần định hướng phát triển các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với lợi thế về nông nghiệp, làng nghề, văn hóa, cảnh quan và du lịch; hỗ trợ hình thành các mô hình liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cộng đồng. Đồng thời, chú trọng phát triển du lịch nông nghiệp, dịch vụ trải nghiệm, sản phẩm làng nghề, sản phẩm OCOP và các mô hình kinh tế gắn với cộng đồng. Trong quá trình đó, cần tạo điều kiện để nông dân tham gia tổ chức, quản lý hoạt động và bảo đảm cơ chế phân chia lợi ích công khai, minh bạch, phù hợp với mức độ tham gia và đóng góp.

Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về tổ chức sản xuất, quản trị kinh doanh, pháp luật về hợp đồng, xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử và quản trị rủi ro; đổi mới hình thức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn với thực tiễn sản xuất và nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Từ đó, tăng cường tính tự chủ, khả năng thích ứng và năng lực tham gia của nông dân, tạo điều kiện để nông dân chủ động hơn trong phát triển kinh tế nông thôn.

5. Kết luận

Phát huy vị thế chủ thể của nông dân là một nội dung quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Thực tiễn cho thấy, vai trò của nông dân đã có sự chuyển biến từ chủ yếu trực tiếp sản xuất sang tham gia ngày càng nhiều hơn vào tổ chức sản xuất, liên kết kinh tế, ứng dụng khoa học – công nghệ và phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, mức độ tham gia và khả năng hưởng lợi của nông dân chưa tương xứng với yêu cầu của quá trình phát triển; khả năng tiếp cận nguồn lực, tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao và làm chủ khoa học – công nghệ còn hạn chế.

Từ thực tiễn đó, phát huy vị thế chủ thể của nông dân cần được tiếp cận không chỉ ở phương diện xác định vai trò mà quan trọng hơn là tạo lập các điều kiện để nông dân thực hiện vai trò đó trên thực tế. Điều này đòi hỏi, đổi mới phương thức quản lý, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực, nâng cao năng lực tự chủ, tăng cường liên kết và tạo cơ hội để nông dân tham gia sâu hơn vào quá trình tạo lập, phân phối và thụ hưởng giá trị. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nông nghiệp, cải thiện sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp trong vùng theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư (1981). Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp.
Ban Chấp hành Trung ương (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương (2026). Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Hà Nội.
Bộ Chính trị (1988). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2023). Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 20/12/2023 về đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Báo cáo sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Công văn số 6034/BNNMT-KHTC ngày 26/8/2025 về đánh giá tình hình thực hiện năm 2025 và kế hoạch phát triển ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2026.
Cục Thống kê (2026). Kết quả chính thức Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025. Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2008). Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2023). Luật Hợp tác xã năm 2023.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 612/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.