Đổi mới quản lý nhà nước về lao động, việc làm từ tình trạng thất nghiệp của thanh niên và tác động của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa

Reforming state management of labor and employment in response to youth unemployment and the impacts of artificial intelligence and automation

TS. Đoàn Văn Dũng
Văn phòng Bộ Nội vụ
Email: doanvandung@moha.gov.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Thị trường lao động nước ta đang bộc lộ một nghịch lý: tỷ lệ thất nghiệp chung được duy trì ở mức thấp, khoảng 2,22% nhưng áp lực việc làm lại dồn nén lên thanh niên. Cả nước hiện có khoảng 1,6 triệu thanh niên thuộc nhóm “ba không” – không có việc làm, không học tập, không tham gia đào tạo; tỷ lệ thất nghiệp thanh niên trong 9 tháng năm 2026 lên tới 8,87%, mức cao nhất trong giai đoạn 2020 – 2026 và gấp khoảng 5,6 lần tỷ lệ thất nghiệp của nhóm từ 25 tuổi trở lên. Cùng lúc, trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang tác động đến khoảng 11,5 triệu việc làm, tương đương 20,8%, đặt ra nguy cơ thu hẹp các vị trí khởi đầu sự nghiệp cho người trẻ. Trên cơ sở phân tích quy mô, cơ cấu, nguyên nhân, nhận diện nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo theo các kịch bản và chỉ ra khoảng trống của chính sách hiện hành, bài viết đề xuất hệ giải pháp trước mắt, trung hạn và dài hạn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Quản lý nhà nước; việc làm thanh niên; thanh niên “ba không”; trí tuệ nhân tạo; thị trường lao động.

Abstract: Vietnam’s labor market reveals a paradox: while the overall unemployment rate remains low at about 2.22 percent, employment pressures are concentrated among young people. Nationwide, there are currently about 1.6 million young people in the “three-no” group those who are neither employed, nor enrolled in school, nor participating in training; the youth unemployment rate for the first nine months of 2026 reached 8.87%, the highest level during the 2020–2026 period and about 5.6 times the unemployment rate for those aged 25 and older. At the same time, generative artificial intelligence is affecting approximately 11.5 million jobs, equivalent to 20.8 percent, thereby narrowing entry-level career opportunities for young people. Based on an analysis of the scale, structure, causes, and risks posed by artificial intelligence across various scenarios, as well as an identification of gaps in current policies, this article proposes a set of short-term, medium-term, and long-term solutions to enhance the effectiveness and efficiency of government management regarding youth employment in this new context.

Keywords: Government management; youth employment; “three-no” youth; artificial intelligence; labor market.

1. Đặt vấn đề

Lao động, việc làm luôn là một trong những vấn đề trung tâm của quản lý phát triển, vừa phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế, vừa là thước đo tính bền vững và ưu việt của mô hình phát triển xã hội. Đối với thanh niên – lực lượng giữ vai trò rường cột của quốc gia, dân tộc – việc làm càng mang ý nghĩa chiến lược, bởi đó không chỉ là vấn đề sinh kế mà còn là điều kiện để phát huy nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định yêu cầu phát triển thị trường lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng lao động trong khu vực chính thức và hướng tới việc làm bền vững; Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục khẳng định một trong những đột phá chiến lược là chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tuy nhiên, thực tiễn thị trường lao động đang đặt ra những thách thức mới mà các công cụ quản lý truyền thống chưa thể bao quát hết. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp chung được kiểm soát ở mức thấp, một bộ phận không nhỏ thanh niên lại rơi vào tình trạng “ba không” hoặc thất nghiệp kéo dài; đồng thời, làn sóng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa đang định hình lại cấu trúc việc làm, khiến các vị trí khởi đầu sự nghiệp của người trẻ đối mặt với nguy cơ bị thu hẹp. Những vấn đề đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy và phương thức quản lý nhà nước về lao động và việc làm. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, nhận diện nguy cơ và chỉ ra những khoảng trống của chính sách hiện hành, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm việc làm bền vững cho thanh niên trong bối cảnh mới.

2. Tình trạng thất nghiệp ở thanh niên

Thứ nhất, nghịch lý giữa tỷ lệ thất nghiệp chung thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao ở thanh niên.

Thực tiễn thị trường lao động nước ta thời gian qua bộc lộ một nghịch lý đáng chú ý: trong khi tỷ lệ thất nghiệp chung được duy trì ở mức thấp thì sức ép về việc làm lại dồn nén lên nhóm thanh niên. Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của cả nước giữ ổn định ở mức khoảng 2,22% trong năm 2025 và chín tháng đầu năm 2026, thuộc nhóm thấp trên thế giới và đã vượt mục tiêu dưới 3% mà Nghị quyết số 42-NQ/TW đề ra (Cục Thống kê, 2026; Ban Chấp hành Trung ương, 2023). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi trong chín tháng đầu các năm từ 2020 đến 2026 lần lượt là 7,77%, 7,90%, 7,86%, 7,63%, 7,91%, 8,37% và 8,87% (Cục Thống kê, 2026). Riêng quý III/2026, tỷ lệ này lên tới 9,07%, trong đó khu vực thành thị đạt 12,49%, cao gần gấp đôi khu vực nông thôn (7,12%). Mức 8,87% của năm 2026 là cao nhất trong cả giai đoạn, cho thấy khả năng tạo việc làm và hấp thụ lao động trẻ của nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn.

Khoảng cách giữa hai nhóm tuổi là một chỉ báo đáng lo ngại. Năm 2024, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (7,92%) cao gấp khoảng 5,6 lần tỷ lệ của nhóm từ 25 tuổi trở lên (1,42%); thanh niên chiếm tới 37,2% tổng số người thất nghiệp của cả nước, tương ứng khoảng 402,8 nghìn người (Cục Thống kê, 2024). Như vậy, sức ép việc làm không dàn đều mà tập trung rõ rệt vào lớp người trẻ mới gia nhập thị trường lao động – một vấn đề cần được nhận diện đúng để có đối sách phù hợp.

Thứ hai, khoảng 1,6 triệu thanh niên “ba không” và tính chất cơ cấu của vấn đề.

Nhóm thanh niên “ba không” – theo thông lệ quốc tế gọi là NEET – là một thước đo phản ánh sâu sắc hơn so với tỷ lệ thất nghiệp đơn thuần, bởi nó bao gồm cả những người đã rời khỏi lực lượng lao động. Quy mô nhóm này dao động theo mùa vụ, thường tăng cao vào quý III và quý I khi học sinh, sinh viên tốt nghiệp.

Bảng 1: Diễn biến tình hình lao động trong ba năm từ năm 2024 – 2026

Thời kỳSố lượng (triệu người)Tỷ lệ NEET (%)
Năm 2024Khoảng 1,35610,3
Quý III/2025Khoảng 1,611,5
Quý IV/2025Khoảng 1,410,2
Quý I/2026Khoảng 1,611,4
Quý II/2026Khoảng 1,410,0
Quý III/2026Khoảng 1,611,2
Nguồn: Cục Thống kê (Bộ Tài chính), các thông cáo báo chí về tình hình lao động – việc làm giai đoạn 2024 – 2026.

Điều đáng lưu ý là chỉ số này không giảm bền vững trong 3 năm qua, mặc dù nền kinh tế vẫn tăng trưởng khá. Điều đó cho thấy, tình trạng “ba không” ở nước ta mang tính cơ cấu, không thuần túy là hệ quả của chu kỳ kinh tế. Bản chất của nhóm này cũng không đồng nhất với thất nghiệp: theo số liệu về thanh niên “ba không” được công bố tháng 4-2026, chỉ khoảng 32% trong nhóm này đang tích cực tìm việc và khoảng 87% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (Cục Thống kê, 2026). Phần lớn còn lại không tham gia lực lượng lao động do gánh nặng chăm sóc gia đình, bệnh tật hoặc tâm lý nản lòng. Vì vậy, nếu chỉ đo lường bằng tỷ lệ thất nghiệp, chính sách sẽ bỏ sót phần lớn chiều sâu của vấn đề.

Đặt trong tương quan khu vực và thế giới, tỷ lệ “ba không” của thanh niên nước ta (10–11,5%) thấp hơn mức trung bình của toàn cầu và khu vực. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2025, tỷ lệ này trên phạm vi toàn cầu ở mức khoảng 20% (hơn 257 triệu người); khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương là 16,3% (ILO, 2026); và ở các nước phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế khoảng 13–14%. Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách thận trọng, bởi tỷ lệ tương đối thấp của nước ta một phần phản ánh thực tế rằng người trẻ dễ tham gia các công việc phi chính thức, tự sản tự tiêu, chứ chưa hẳn là chỉ dấu của việc làm thỏa đáng. Mặt khác, khoảng cách lớn giữa tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên và tỷ lệ thất nghiệp chung (gấp khoảng 4 lần) là một đặc điểm cần được đặc biệt quan tâm trong quá trình hoạch định chính sách.

Thứ ba, sự phân hóa theo vùng, địa bàn và giới tính.

Phân tích theo vùng kinh tế – xã hội cho thấy đang tồn tại các dạng rủi ro có tính chất khác nhau.

Một là, tình trạng “ba không” tập trung ở các địa bàn nông thôn, nơi trình độ chuyên môn thấp và gánh nặng chăm sóc gia đình lớn. Theo Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2024, tỷ lệ “ba không” cao nhất thuộc về đồng bằng sông Cửu Long (15,3%, riêng nữ lên tới 18,8%), tiếp đến là Trung du và miền núi phía Bắc (13,5%) và Bắc Trung Bộ – Duyên hải miền Trung (11,6%); trong khi đồng bằng sông Hồng chỉ ở mức 7,1% (Cục Thống kê, 2024). Riêng đồng bằng sông Cửu Long chiếm tới 26,3% tổng số thanh niên “ba không” của cả nước.

Hai là, thất nghiệp thanh niên lại tập trung ở các đô thị lớn, nơi có nhiều thanh niên trình độ cao, mới tốt nghiệp và đang trong quá trình tìm kiếm công việc phù hợp. Năm 2024, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên ở Hà Nội là 10,45%, ở TP. Hồ Chí Minh là 10,25%, cao hơn hẳn so với mặt bằng chung. Đây cũng chính là những địa bàn chịu tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh ở mức độ cao nhất. Sự khác biệt này cho thấy, chính sách không thể áp dụng một công cụ chung mà phải được phân tầng theo đặc điểm của từng vùng, từng địa bàn.

Ba là, thanh niên nữ luôn chịu thiệt thòi hơn trong tình trạng “ba không”. Tỷ lệ của nữ thường cao hơn nam khoảng 3-4 điểm phần trăm, năm 2024 là 11,8% so với 8,9%; quý IV/2025 là 12,1% so với 8,3%. Khoảng cách này lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Nguyên nhân chủ yếu đến từ gánh nặng chăm sóc con nhỏ, người già và những định kiến giới trong việc phân công lao động gia đình. Ở chiều ngược lại, thất nghiệp thanh niên nổi trội hơn ở khu vực thành thị, trong khi tình trạng “ba không” phổ biến hơn ở khu vực nông thôn.

Thứ tư, nghịch lý về bằng cấp và nhóm đối tượng trọng điểm.

Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tình trạng lệch pha cung – cầu là hiện tượng người có trình độ càng cao lại càng khó tìm được việc làm tương xứng. Năm 2024, tỷ lệ thất nghiệp của người có trình độ cao đẳng là 2,81%, cao nhất trong các bậc trình độ; đại học trở lên là 2,38%; trong khi trung cấp chỉ 1,60% và sơ cấp 1,27%, thấp nhất (Cục Thống kê, 2024). Thực tế tại TP. Hồ Chí Minh, nhiều lao động có tay nghề bậc trung cấp, cao đẳng nhận lương trên 10 triệu đồng mỗi tháng ngay khi ra trường, trong khi không ít cử nhân phải chấp nhận mức lương 5 – 6 triệu đồng. Cần nhấn mạnh rằng, tỷ lệ thất nghiệp của người có trình độ đại học không cao về trị số tuyệt đối; điều bất thường là nó cao hơn so với nhóm có trình độ nghề và tập trung ở người trẻ mới tốt nghiệp.

Các nhóm đối tượng trọng điểm cần ưu tiên gồm lao động trẻ trong khu vực phi chính thức (năm 2024, có tới 57,5% việc làm của thanh niên là phi chính thức và chỉ 41,4% thanh niên tham gia bảo hiểm xã hội), thanh niên dân tộc thiểu số, miền núi và thanh niên nữ ở nông thôn. Đáng chú ý, hiện chưa có số liệu thống kê tỷ lệ “ba không” riêng theo thành phần dân tộc – một khoảng trống cần sớm được lấp đầy để chính sách không bỏ sót đối tượng yếu thế.

Thứ năm, kỹ năng, kỳ vọng nghề nghiệp và khả năng thích ứng của thanh niên.

Về trình độ, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của cả nước mới đạt khoảng 29,2% (năm 2025) và 30,4% (quý III/2026), còn cách xa mục tiêu 35 – 40% vào năm 2030 (Cục Thống kê, 2026). Như vậy, khoảng 70% lực lượng lao động vẫn chưa có bằng cấp hoặc chứng chỉ chính thức. Đây là điểm nghẽn cơ bản về chất lượng nguồn cung lao động trẻ, phản ánh sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường.

Về kỹ năng số và khả năng thích ứng với trí tuệ nhân tạo, thanh niên nước ta thể hiện sự nhạy bén đáng kể. Theo khảo sát Chỉ số Xu hướng công việc năm 2024 của Microsoft và LinkedIn, có tới 88% lao động tri thức Việt Nam đã sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong công việc, cao hơn mức trung bình toàn cầu (75%) (Microsoft & LinkedIn, 2024). Tuy nhiên, bên cạnh sự nhạy bén, nỗi lo lắng cũng hiện hữu, theo Báo cáo Phát triển con người khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (năm 2025), 61% người Việt được khảo sát lo ngại về nguy cơ mất việc hoặc khó tìm việc làm do trí tuệ nhân tạo (Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc, 2025). ILO cũng chỉ ra rằng, nhóm lao động làm công ăn lương có mức độ tiếp xúc đáng kể với trí tuệ nhân tạo lại có thu nhập cao hơn hẳn nhóm ít tiếp xúc, hàm ý rằng trí tuệ nhân tạo đang trở thành lợi thế cho những người biết khai thác công cụ này.

Về kỳ vọng nghề nghiệp, một bộ phận thanh niên có xu hướng ưu tiên môi trường làm việc linh hoạt, thay đổi công việc thường xuyên và tham gia các hình thức làm việc tự do trên nền tảng số. Tuy nhiên, hiện chưa có bộ số liệu chính thức mang tính đại diện trên toàn quốc về các xu hướng này. Đây là một khoảng trống dữ liệu mà hệ thống thống kê nhà nước cần bổ sung để phục vụ việc hoạch định chính sách sát với thực tiễn hơn.

3. Nguyên nhân

3.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, về cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng. Lao động nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 25,7% (năm 2025), trong khi khu vực phi chính thức chiếm trên 60% tổng số việc làm. Mô hình tăng trưởng tạo ra nhiều việc làm giản đơn nhưng tương đối ít việc làm chính thức, đòi hỏi kỹ năng cao, phù hợp với lao động có trình độ đại học.

Thứ hai, sự thu hẹp của các công việc đòi hỏi kỹ năng trung bình trên phạm vi toàn cầu. ILO cảnh báo các vị trí văn phòng, hành chính, bán hàng, sản xuất – vốn là “bước đệm” vào nghề của thanh niên – đang suy giảm do tác động của công nghệ.

Thứ ba, tác động của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Nhiều lĩnh vực như ngân hàng, dịch vụ hậu cần, sản xuất tự động, y tế, giáo dục, dịch vụ khách hàng đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo, rô-bốt và dữ liệu lớn, dẫn tới xu hướng tinh giản nhân sự và đặt ra yêu cầu mới về kỹ năng (Phan Hoạt, 2026).

Thứ tư, sự lệch pha giữa hệ thống giáo dục – đào tạo và nhu cầu thị trường: giáo dục chậm đổi mới, vừa thừa lao động có bằng cấp nhưng thiếu kỹ năng, vừa thiếu nhân lực trình độ cao cho các ngành mới; chất lượng công tác hướng nghiệp, phân luồng từ bậc phổ thông còn hạn chế. Thứ năm, các yếu tố hội nhập, biến động thương mại quốc tế và xu hướng già hóa dân số cũng tác động gián tiếp đến cơ hội việc làm của người trẻ.

3.2. Nguyên nhân chủ quan

Về phía người lao động trẻ, một bộ phận còn tâm lý chờ đợi, kỳ vọng chưa phù hợp với năng lực và nhu cầu thực tế của thị trường, chưa chủ động học thêm kỹ năng mới sau khi mất việc; tâm lý trọng bằng cấp, coi nhẹ giáo dục nghề nghiệp vẫn còn phổ biến. Về phía quản lý, hệ thống thông tin thị trường lao động còn những hạn chế nhất định; dữ liệu về việc làm, bảo hiểm, đào tạo, dân cư chưa được liên thông đầy đủ, gây khó khăn cho công tác dự báo và kết nối cung – cầu.

4. Nguy cơ từ trí tuệ nhân tạo, tự động hóa đối với lao động trẻ chịu rủi ro

4.1. Những thay đổi về việc làm dưới tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa

Các nghiên cứu quốc tế gần đây đều nhấn mạnh sự phân biệt quan trọng giữa khả năng công việc chịu tác động về mặt kỹ thuật và khả năng việc làm thực sự bị xóa bỏ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính gần 40% việc làm toàn cầu chịu tác động của trí tuệ nhân tạo, khoảng 60% ở các nền kinh tế phát triển và 40% ở các nền kinh tế mới nổi; song chỉ khoảng một nửa trong số đó có thể chịu tác động theo hướng bất lợi (Cazzaniga et al., 2024). Diễn đàn Kinh tế Thế giới, trong Báo cáo Tương lai việc làm năm 2025, dự báo đến năm 2030 thế giới có thể mất 92 triệu việc làm nhưng tạo mới 170 triệu, tức tăng ròng khoảng 78 triệu; đồng thời, 39% kỹ năng hiện tại sẽ thay đổi (Diễn đàn Kinh tế Thế giới, 2025).

Báo cáo của ILO công bố tháng 4/2026 đưa ra những con số đáng chú ý. Việt Nam có khoảng 11,5 triệu việc làm (tương đương 20,8%) có khả năng chịu tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, nhưng chỉ khoảng 1 triệu việc làm (dưới 2%) thuộc nhóm có thể bị tự động hóa hoàn toàn (Weidenkaff & Huynh, 2026). Mức chịu tác động cao nhất thuộc về công việc văn thư – hỗ trợ hành chính (gần 65%), tài chính – bảo hiểm (82,6%) và bán buôn – bán lẻ (76,3%); lao động nữ chịu tác động cao hơn nam (24,1% so với 17,8%). Điều quan trọng là ILO chưa tìm thấy bằng chứng cho thấy cơ hội việc làm của lao động trẻ, trình độ cao trong các ngành chịu tác động đã suy giảm trong giai đoạn 2022 – 2024. Do đó, kịch bản khả dĩ nhất hiện nay là biến đổi nội dung công việc, chứ không phải là mất việc hàng loạt.

Bên cạnh trí tuệ nhân tạo tạo sinh, rủi ro từ tự động hóa truyền thống trong các ngành thâm dụng lao động vẫn hiện hữu trong dài hạn. Các nghề dễ bị tác động gồm nhập liệu, văn thư, kế toán cơ bản, giao dịch viên ngân hàng, tổng đài – chăm sóc khách hàng (dưới tác động của trí tuệ nhân tạo tạo sinh); thợ may, công nhân lắp ráp điện tử, thu ngân, nhân viên bán lẻ và kho vận (dưới tác động của rô-bốt và tự động hóa). Tuy vậy, tốc độ ứng dụng trên thực tế còn chậm; chỉ khoảng 30% doanh nghiệp dệt may đã ứng dụng tự động hóa theo từng công đoạn trong quá trình sản xuất.

4.2. Ba kịch bản ước tính số lao động trẻ có nguy cơ

Trên cơ sở quy mô khoảng 15,6 triệu lao động 15–34 tuổi đang có việc làm và vận dụng các tham số về mức độ chịu tác động của ILO, IMF, có thể đưa ra 3 kịch bản ước tính đến khoảng năm 2030.

Bảng 2: Ba kịch bản ước tính số lao động trẻ có nguy cơ

Kịch bảnGiả định chủ yếuSố lao động trẻ (15 – 34 tuổi) có nguy cơ
ThấpChỉ các việc làm chuẩn hóa cao bị thay thế (khoảng 1,8% theo Tổ chức Lao động Quốc tế)Khoảng 0,3 triệu
Trung bìnhTrí tuệ nhân tạo thu hẹp cửa vào nghề ở nhóm chịu tác động cao (khoảng 6,1% theo Tổ chức Lao động Quốc tế)Khoảng 1 triệu
CaoTrí tuệ nhân tạo kết hợp tự động hóa; doanh nghiệp ưu tiên thay thế lao động (khoảng 24% theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế)Khoảng 3,7 triệu
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của Cục Thống kê, ILO (2026) và IMF (2024).

Trên cơ sở đó, có thể lấy phương án khoảng 1 triệu lao động trẻ có nguy cơ làm con số tham chiếu chính. Mức này đủ lớn để khẳng định sự cần thiết của một chương trình can thiệp tầm quốc gia, nhưng không phóng đại thành nguy cơ “mất việc làm hàng loạt”. Cần tránh cách diễn giải cực đoan rằng “70% việc làm ở Việt Nam sẽ bị rô-bốt thay thế”, bởi con số này xuất phát từ ước tính cận trên theo phương pháp cũ năm 2016 và không còn phù hợp để dự báo hiện nay. Đồng thời, phải tính đến phần việc làm mới do trí tuệ nhân tạo tạo ra, vốn có xu hướng tăng ròng trên toàn cầu.

5. Kết quả, hạn chế và khoảng trống của chính sách hiện hành

5.1. Những kết quả đạt được

Hệ thống chính sách về lao động, việc làm trong thời gian qua đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng. Về thể chế, Luật Việc làm năm 2025 đã mở rộng đáng kể diện bao phủ của bảo hiểm thất nghiệp – áp dụng cho cả hợp đồng lao động từ đủ một tháng và lao động không trọn thời gian, bổ sung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lại để duy trì việc làm, đồng thời trao quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội mở rộng đối tượng tham gia (Quốc hội, 2025). Về định hướng chiến lược, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, đưa Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo (Bộ Chính trị, 2024).

Về nguồn lực, tín dụng chính sách cho vay giải quyết việc làm tiếp tục phát huy hiệu quả: năm 2025 đã hỗ trợ tạo việc làm cho gần 817 nghìn lao động; từ ngày 01/01/2026, mức vay tối đa được nâng lên 200 triệu đồng/người lao động theo Nghị định số 338/2025/NĐ-CP (Ngân hàng Chính sách xã hội, 2025; Chính phủ, 2025). Cùng với đó, chủ trương của Đảng về xây dựng thị trường lao động hiện đại, minh bạch, linh hoạt, hội nhập và chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế nhân lực chất lượng cao đã tạo ra định hướng quan trọng cho giai đoạn tới.

5.2. Hạn chế và khoảng trống

Một là, chưa có mục tiêu và chương trình quốc gia riêng cho nhóm thanh niên “ba không”. Các nghị quyết hiện hành đặt ra chỉ tiêu về thất nghiệp chung, thất nghiệp thành thị, tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhưng chưa có chỉ tiêu về tỷ lệ “ba không”. Trong khi đó, chỉ tiêu thất nghiệp chung dưới 3% đã đạt, nên gần như không còn tạo áp lực lên chính sách việc làm cho thanh niên.

Hai là, hệ thống dữ liệu còn nhiều khoảng trống: chưa thống kê tình trạng “ba không” theo thành phần dân tộc và theo nhóm 15–29 tuổi theo chuẩn quốc tế, chưa có chỉ báo định kỳ về tác động của trí tuệ nhân tạo lên việc làm.

Ba là, lưới an sinh chưa bao phủ lao động phi chính thức – nhóm chiếm tới 57,5% việc làm của thanh niên – khiến họ gần như bị bỏ lại ngoài các chính sách hỗ trợ khi mất việc.

Bốn là, hoạt động đào tạo lại kỹ năng số, kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho số đông lao động trẻ chưa được thể chế hóa thành chương trình có nguồn tài chính riêng.

Năm là, năng lực thực thi và giải ngân còn hạn chế – minh chứng là đến hết quý III/2026, vốn đầu tư công thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 – 2030 mới giải ngân khoảng 6,9% kế hoạch.

6. Một số giải pháp và kiến nghị

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về việc làm thanh niên, cần thực hiện đồng bộ một hệ giải pháp, phân kỳ theo lộ trình trước mắt, trung hạn và dài hạn, với tư tưởng chủ đạo là chuyển trọng tâm điều hành từ chỉ số thất nghiệp chung sang bộ chỉ số về tình trạng “ba không”, việc làm thỏa đáng và năng lực chuyển đổi kỹ năng. Đồng thời, cần khắc phục tư duy chỉ coi giải pháp là đào tạo nghề cho số đông; giải pháp căn cơ phải hướng tới hai trụ cột song hành: một mặt phổ cập kỹ năng, bảo đảm việc làm cho đông đảo lao động trẻ; mặt khác đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, đủ sức đảm nhiệm các vị trí dẫn dắt mà cuộc cách mạng công nghiệp mới đang mở ra.

6.1. Nhóm giải pháp trước mắt (2026 – 2027)

Hoàn thiện công cụ đo lường. Bổ sung vào Điều tra lao động việc làm các chỉ báo về tình trạng “ba không” theo nhóm 15 – 29 tuổi, theo thành phần dân tộc, lý do không tham gia thị trường lao động, việc làm trên nền tảng số và mức độ sử dụng trí tuệ nhân tạo tại nơi làm việc.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về thanh niên “ba không” dựa trên định danh cá nhân, liên thông dữ liệu dân cư, bảo hiểm xã hội, giáo dục và trung tâm dịch vụ việc làm, nhằm chủ động tiếp cận thanh niên thay vì chờ họ đăng ký.

Khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Việc làm năm 2025, trong đó ưu tiên hỗ trợ đào tạo lại cho lao động bị ảnh hưởng bởi chuyển đổi số; thí điểm ngay “gói chuyển đổi kỹ năng trí tuệ nhân tạo” cho các lĩnh vực lao động, việc làm chịu ảnh hưởng lớn từ trí tuệ nhân tạo và tự động hóa.

6.2. Nhóm giải pháp trung hạn (2027 – 2030)

Kiến nghị Quốc hội bổ sung chỉ tiêu tỷ lệ “ba không” vào Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội (đề xuất đưa về dưới 8% vào năm 2030, riêng đồng bằng sông Cửu Long dưới 12%) và tổ chức giám sát chuyên đề việc thực hiện Luật Việc làm năm 2025 đối với thanh niên.

Xây dựng Chương trình quốc gia bảo đảm việc làm cho thanh niên theo tinh thần mô hình của Liên minh châu Âu, bảo đảm mỗi thanh niên “ba không” hoặc mới tốt nghiệp được tiếp cận một trong bốn lựa chọn là việc làm, học nghề, thực tập có lương hoặc hỗ trợ khởi nghiệp trong vòng 4 – 6 tháng, với nguồn lực lồng ghép từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, tín dụng chính sách và các chương trình mục tiêu quốc gia.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên cả hai phương diện. Ở phương diện kỹ năng nghề, cải cách giáo dục nghề nghiệp gắn chặt với doanh nghiệp theo hướng ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tiếp nhận học viên thực tập có lương, đặt hàng đào tạo theo nhu cầu kỹ năng của từng ngành, từng vùng, và tăng tỷ trọng trung cấp, cao đẳng chất lượng cao. Ở phương diện nhân lực chất lượng cao, đổi mới mạnh mẽ giáo dục phổ thông và giáo dục đại học theo hướng chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, khả năng tự học và năng lực số; gắn kết chặt chẽ đại học với nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp; ưu tiên đào tạo nhân lực trình độ cao cho các ngành công nghệ chiến lược như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học, đúng định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Thiết lập cơ chế tài khoản học tập suốt đời, cấp tín dụng học tập cho thanh niên tham gia các khóa kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo ứng dụng, ngoại ngữ, đồng thời có sự tài trợ từ doanh nghiệp. Năm là, mở rộng lưới an sinh linh hoạt cho lao động trên nền tảng số và lao động tự do có thu nhập ổn định, đồng thời hỗ trợ thanh niên nông thôn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

6.3. Nhóm giải pháp dài hạn (đến năm 2035 – 2045)

Đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và kỹ năng số, kỹ năng trí tuệ nhân tạo ngay từ bậc trung học cơ sở, từng bước thay đổi định kiến xã hội về học nghề, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng sớm năng khiếu, tài năng.

Xây dựng chiến lược quốc gia về nhân lực chất lượng cao và thu hút, trọng dụng nhân tài, đầu tư trọng điểm cho một số cơ sở giáo dục đại học theo định hướng đại học nghiên cứu ngang tầm khu vực, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm đổi mới sáng tạo; có chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ chế đặc thù để thu hút chuyên gia, nhà khoa học, trí thức trẻ và nhân lực Việt Nam ở nước ngoài về làm việc, qua đó tạo lớp nhân lực đủ sức đảm nhiệm các vị trí cấp cao trong nền kinh tế tri thức.

Thực thi các chính sách đặc thù theo vùng và nhóm yếu thế: phát triển dịch vụ chăm sóc trẻ em, người cao tuổi để giảm gánh nặng cho lao động nữ ở đồng bằng sông Cửu Long và miền núi phía Bắc; mở rộng chương trình việc làm xanh; lồng ghép mục tiêu việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số vào các chương trình mục tiêu quốc gia với tiêu chí đầu ra cụ thể.

Xây dựng khung quản trị trí tuệ nhân tạo lấy con người làm trung tâm theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế, gồm cơ chế đối thoại xã hội khi doanh nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo, bảo vệ người lao động trước nguy cơ thiên lệch của thuật toán trong tuyển dụng và theo dõi thường xuyên tác động của trí tuệ nhân tạo.

Khuyến khích doanh nghiệp thông qua chính sách khấu trừ thuế đối với chi phí đào tạo lại người lao động và trợ cấp tiền lương có thời hạn khi tuyển dụng thanh niên “ba không” lâu dài.

7. Kết luận

Thị trường lao động nước ta ổn định trên bề mặt nhưng đang tích tụ rủi ro ở chiều sâu, với khoảng 1,6 triệu thanh niên “ba không”, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cao nhất trong 7 năm, hơn 60% việc làm phi chính thức và hàng triệu việc làm chịu tác động từ trí tuệ nhân tạo. Những rủi ro này không nằm ở nguy cơ mất việc hàng loạt trong ngắn hạn, mà ở sự thu hẹp các cơ hội khởi đầu sự nghiệp của người trẻ và nguy cơ một bộ phận thanh niên bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi số. Yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước là phải chủ động đổi mới tư duy và công cụ điều hành, không chỉ đo lường thất nghiệp chung mà cần quản lý theo các chỉ số về tình trạng “ba không”, việc làm thỏa đáng và năng lực thích ứng; đồng thời đổi mới căn bản nền giáo dục để vừa phổ cập kỹ năng cho số đông, vừa tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các vị trí dẫn dắt. Thực hiện đồng bộ các giải pháp đó chính là cách thiết thực để hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023). Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Cazzaniga, M., Jaumotte, F., Li, L., Melina, G., Panton, A. J., Pizzinelli, C., Rockall, E., & Tavares, M. M. (2024). Gen-AI: Artificial intelligence and the future of work (IMF Staff Discussion Note SDN/2024/001). International Monetary Fund. https://www.imf.org/en/Publications/Staff-Discussion-Notes/Issues/2024/01/14/Gen-AI-Artificial-Intelligence-and-the-Future-of-Work-542379 https://doi.org/10.5089/9798400262548.006
Chính phủ (2025). Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm.
Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (2025). Báo cáo phát triển con người khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Cục Thống kê (2024). Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2024.
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2026. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/10/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iii-va-9-thang-nam-2026/
Diễn đàn Kinh tế Thế giới (2025). The future of jobs report 2025. https://www.weforum.org/publications/the-future-of-jobs-report-2025/
Microsoft & LinkedIn (2024). 2024 Work Trend Index Annual Report.
Ngân hàng Chính sách xã hội (2025). Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng chính sách xã hội năm 2025.
Phan Hoạt (2026). Thanh niên trước sức ép tìm việc làm trên thị trường lao động mới. Báo Công an nhân dân. https://cand.vn/thanh-nien-truoc-suc-ep-viec-lam-trong-thi-truong-lao-dong-moi-post822664.html
Quốc hội (2025). Luật Việc làm năm 2025.
Tổ chức Lao động Quốc tế (2026). Global employment trends for youth 2026.
Weidenkaff, F., & Huynh, P. (2026). Generative AI and jobs in Viet Nam: Labor market exposure and policy considerations. International Labor Organization. https://doi.org/10.54394/00034064