Nhu cầu nhân lực kinh tế của Việt Nam và yêu cầu đổi mới đào tạo đại học trong giai đoạn phát triển mới

Vietnam’s demand for economic-sector human resources and the need to reform university education in the new development stage

ThS. Nguyễn Chi Mai
Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại TP. Hồ Chí Minh
Email: nguyenchimai70@gmail.com

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích sự dịch chuyển nhu cầu nhân lực kinh tế ở Việt Nam dưới tác động của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các định hướng phát triển mới. Kết quả tổng hợp tài liệu cho thấy thị trường lao động đang chuyển từ mô hình dựa nhiều vào lao động giản đơn sang mô hình coi trọng tri thức, dữ liệu, công nghệ và năng lực quản trị phát triển. Trong khi đó, đào tạo đại học ngành Kinh tế vẫn tồn tại khoảng cách về kỹ năng số, năng lực phân tích dữ liệu, tư duy liên ngành, kỹ năng xanh và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất tái định vị mục tiêu đào tạo; tổ chức chương trình theo chuẩn đầu ra; xây dựng khung năng lực tích hợp gồm bốn tầng, tám nhóm năng lực; đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; và tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp.

Từ khóa: Nhân lực kinh tế; đào tạo đại học; chuyển đổi số; chuyển đổi xanh; quản trị công; khung năng lực.

Abstract: This article examines the changing demand for economics-related human resources in Vietnam under the influence of digital transformation, the green transition, and emerging national development priorities. A synthesis of policy documents and secondary data indicates that labor demand is moving away from routine, labor-intensive work toward knowledge-, data-, technology-, and governance-intensive roles. However, economics programs in higher education continue to face gaps in advanced digital skills, data analysis, interdisciplinary thinking, green competencies, and the practical application of knowledge. The article therefore proposes repositioning program objectives; organizing curricula around learning outcomes; developing an integrated four-tier framework of eight competency groups; renewing teaching and assessment methods; and strengthening cooperation among the State, higher education institutions, and enterprises.

Keywords: Economics-related human resources; higher education; digital transformation; green transition; public governance; competency framework.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Trong bối cảnh đó, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, khai thác tài nguyên và lợi thế lao động chi phí thấp ngày càng bộc lộ giới hạn. Năng suất, chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ trở thành những yếu tố quyết định sức cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, kinh tế số và yêu cầu giảm phát thải đang làm thay đổi cấu trúc việc làm và tiêu chuẩn năng lực ở nhiều ngành nghề (Đỗ Thị Kim Tiên, 2026; Võ Nguyễn Quang Nhật, 2026; World Economic Forum, 2025).

Trong quá trình chuyển đổi đó, nhân lực kinh tế không chỉ thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, tài chính và quản trị doanh nghiệp mà còn tham gia phân tích chính sách, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực thi các chương trình phát triển. Vì vậy, đào tạo đại học ngành Kinh tế cần vượt khỏi cách tiếp cận đơn ngành, thiên về truyền thụ lý thuyết; chuyển sang phát triển năng lực phân tích, năng lực số, tư duy liên ngành và khả năng giải quyết vấn đề trong bối cảnh cụ thể. Bài viết tập trung làm rõ sự dịch chuyển nhu cầu nhân lực kinh tế; những khoảng cách chủ yếu của đào tạo đại học và các yêu cầu đổi mới nhằm nâng cao mức độ phù hợp giữa chuẩn đầu ra với nhu cầu sử dụng nhân lực.

2. Bối cảnh phát triển và sự dịch chuyển nhu cầu nhân lực kinh tế

Sự chuyển dịch mô hình phát triển của Việt Nam được định hướng bởi nhiều quyết sách quan trọng. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của phát triển. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của khu vực tư nhân. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đặt ra định hướng đổi mới quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước (Bộ Chính trị, 2024, 2025, 2026). Những định hướng này làm gia tăng nhu cầu đối với đội ngũ nhân lực có khả năng kết hợp kiến thức kinh tế với công nghệ, dữ liệu và quản trị.

Quy mô nguồn lực do khu vực kinh tế nhà nước nắm giữ cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị là rất lớn. Theo số liệu tổng hợp đến cuối năm 2023, cả nước có 841 doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước; trong đó, 473 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và 142 doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nhà nước từ 50% trở xuống. Tổng vốn của khu vực này trên 1,83 triệu tỷ đồng và tổng tài sản khoảng 3,89 triệu tỷ đồng (Hà Khắc Minh, 2026; Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính, 2026). Vì vậy, nhân lực kinh tế trong khu vực công và doanh nghiệp nhà nước cần được trang bị năng lực quản trị vốn, đánh giá hiệu quả đầu tư, quản trị rủ ro, phân tích dữ liệu và trách nhiệm giải trình.

Ở khu vực thị trường, thương mại điện tử tiếp tục mở rộng nhanh. Bộ Công Thương (2025) cho biết quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2024 đạt trên 25 tỷ USD, tăng khoảng 20% so với năm 2023 và chiếm khoảng 9% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Sự mở rộng này làm gia tăng nhu cầu về phân tích dữ liệu kinh doanh, quản trị trải nghiệm khách hàng số, tiếp thị số, thanh toán điện tử và vận hành nền tảng xuyên biên giới. Trong logistics, tài chính – ngân hàng và các dịch vụ kinh doanh khác, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo cũng đang làm giảm vai trò của một số công việc mang tính lặp lại, đồng thời mở rộng các vị trí liên quan đến dữ liệu, quản trị rủi ro, an ninh thông tin và đổi mới mô hình kinh doanh (Nguyễn Chi Mai, 2026; World Economic Forum, 2025).

Chuyển đổi xanh tạo ra một nhóm yêu cầu năng lực mới. Tổ chức Lao động Quốc tế ước tính quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh có thể tạo ra khoảng 24 triệu việc làm trên toàn cầu vào năm 2030 nếu có chính sách phù hợp, đồng thời làm mất đi một số việc làm trong các ngành sử dụng nhiều carbon (International Labour Organization, 2018). Với Việt Nam, nhu cầu về kiểm kê phát thải, tài chính xanh, thẩm định tín chỉ carbon, quản trị môi trường – xã hội – quản trị doanh nghiệp (ESG) và quản trị chuỗi cung ứng bền vững sẽ ngày càng rõ nét. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi sự kết hợp giữa kinh tế học, quản trị, pháp luật, công nghệ và khoa học môi trường (Nguyễn Thị Việt Hà, 2026).

Về quy mô lao động, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2025 đạt 52,9 triệu người; tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ là 28,8% (Tổng cục Thống kê, 2025). Lợi thế dân số vì thế chỉ có thể chuyển thành lợi thế phát triển khi chất lượng nhân lực được cải thiện. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng, nếu các ngành số của Việt Nam tăng trưởng khoảng 10% mỗi năm, lợi ích kinh tế cộng dồn có thể vượt 200 tỷ USD trong giai đoạn 2021–2045 và tạo khoảng 10 triệu việc làm ròng mới. Ngược lại, tình trạng thiếu hụt kỹ năng có thể khiến nền kinh tế mất tới khoảng 2 triệu việc làm vào năm 2045 (World Bank, 2021). Các ước tính này cho thấy nhu cầu nhân lực kinh tế đang chuyển từ kỹ năng tác nghiệp đơn lẻ sang năng lực tích hợp giữa chuyên môn, công nghệ, dữ liệu, phát triển bền vững và khả năng thích ứng.

3. Thực trạng đào tạo đại học ngành Kinh tế và khoảng cách kỹ năng

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đã rà soát chương trình, xây dựng chuẩn đầu ra, bổ sung học phần về kinh tế số, phân tích dữ liệu, thương mại điện tử và tài chính hiện đại. Việc sử dụng hệ thống quản lý học tập, tổ chức học tập kết hợp và tăng cường hoạt động kết nối doanh nghiệp cũng giúp sinh viên tiếp cận thực tiễn tốt hơn (Phạm Văn Hồng, 2026; Võ Nguyễn Quang Nhật, 2026). Tuy nhiên, tốc độ cập nhật chương trình nhìn chung vẫn chậm hơn tốc độ thay đổi của công nghệ và thị trường lao động.

Khoảng cách kỹ năng thể hiện trước hết ở mức độ phù hợp giữa năng lực của người học với yêu cầu tuyển dụng. Kết quả khảo sát kỹ năng và doanh nghiệp năm 2019 của Ngân hàng Thế giới cho thấy 73% doanh nghiệp được khảo sát gặp khó khăn khi tuyển người có kỹ năng lãnh đạo và quản lý, 54% gặp khó khăn về kỹ năng xã hội – cảm xúc và 68% gặp khó khăn về kỹ năng kỹ thuật chuyên biệt cho công việc (World Bank, 2022). Các tỷ lệ này không chỉ phản ánh vấn đề thiếu kiến thức chuyên môn mà còn cho thấy hạn chế về khả năng vận dụng, phối hợp và ra quyết định trong môi trường công việc.

Thứ nhất, kỹ năng số nâng cao và năng lực quản trị dữ liệu của nhiều sinh viên còn hạn chế. Việc sử dụng công cụ văn phòng cơ bản chưa đủ để đáp ứng các vị trí đòi hỏi khai thác dữ liệu, trực quan hóa, dự báo và ra quyết định dựa trên bằng chứng. Các công cụ như Python, R, Power BI hoặc phần mềm thống kê cần được đưa vào chương trình theo mức độ phù hợp với từng chuyên ngành và gắn với bài toán kinh tế cụ thể, thay vì được dạy như nội dung kỹ thuật tách rời.

Thứ hai, tư duy liên ngành và tri thức về phát triển bền vững chưa được tích hợp đầy đủ. Nội dung về kinh tế tuần hoàn, ESG, tài chính xanh, quản trị hiệu suất môi trường và chính sách khí hậu thường xuất hiện ở một số học phần tự chọn hoặc chuyên đề riêng lẻ. Cách thiết kế này chưa giúp người học hình thành năng lực đánh giá đồng thời hiệu quả kinh tế, tác động xã hội và hệ quả môi trường của một quyết định quản trị (Nguyễn Thị Việt Hà, 2026).

Thứ ba, năng lực thực hành và kỹ năng xã hội – cảm xúc còn là điểm yếu. Sinh viên có thể nắm khái niệm nhưng lúng túng khi xử lý tình huống không có đáp án duy nhất, làm việc trong nhóm liên ngành, giao tiếp với các bên liên quan hoặc trình bày khuyến nghị dựa trên dữ liệu. Khoảng cách này liên quan đến phương pháp dạy học còn thiên về thuyết giảng, cơ hội thực hành chưa đồng đều và sự tham gia của đơn vị sử dụng lao động trong thiết kế, triển khai chương trình còn hạn chế.

Những hạn chế trên có nguyên nhân mang tính hệ thống. Chương trình đào tạo có độ trễ do phải tuân thủ quy trình xây dựng, phê duyệt và bảo đảm chất lượng; giảng viên ở một số cơ sở thiếu cơ hội trải nghiệm tại doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý; dữ liệu dự báo nhu cầu nhân lực chưa được chia sẻ đầy đủ; và cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp chưa ổn định. Do đó, đổi mới đào tạo không thể chỉ dừng ở việc bổ sung một vài học phần mới mà cần đồng thời điều chỉnh mục tiêu, nội dung, phương pháp và cơ chế hợp tác.

4. Yêu cầu đổi mới đào tạo đại học ngành Kinh tế

4.1. Tái định vị mục tiêu đào tạo

Mục tiêu đào tạo cần chuyển từ việc chuẩn bị người học thực hiện các quy trình nghiệp vụ cố định sang phát triển những chủ thể có khả năng phân tích, kiến tạo và thích ứng. Sinh viên tốt nghiệp cần hiểu nguyên lý kinh tế, am hiểu bối cảnh thể chế, sử dụng được dữ liệu, nhận diện tác động xã hội – môi trường và đề xuất giải pháp có tính khả thi. Đối với các cơ sở có sứ mệnh phục vụ khu vực công, chương trình cần đồng thời chuẩn bị năng lực làm việc trong thị trường và năng lực tham gia quản trị phát triển ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và địa phương.

4.2. Tổ chức chương trình theo chuẩn đầu ra và tích hợp liên ngành

Chương trình nên được thiết kế theo tiếp cận giáo dục dựa trên chuẩn đầu ra (outcome-based education – OBE), trong đó mỗi học phần đóng góp rõ ràng vào các năng lực cần đạt. Nội dung có thể được tổ chức theo 3 trục: (1) Kinh tế học nền tảng gắn với thực tiễn Việt Nam và quốc tế; (2) công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tài chính và kinh tế số; (3) quản trị phát triển, chính sách công, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ESG. Việc tích hợp cần được thể hiện trong mục tiêu, nhiệm vụ học tập và đánh giá, không chỉ bằng cách ghép thêm các môn học mới.

TTNhóm năng lực cốt lõi
1Chuyên môn kinh tế và tư duy hệ thống
2Phân tích chính sách và ra quyết định dựa trên bằng chứng
3Năng lực số, dữ liệu và công nghệ
4Đổi mới sáng tạo và thích ứng
5Quản trị, tổ chức thực thi và trách nhiệm giải trình
6Thị trường, hội nhập và vận hành chuỗi giá trị
7Năng lực xã hội – cảm xúc, giao tiếp và hợp tác liên ngành
8Đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và học tập suốt đời
Nguồn: Tác giả đề xuất.

4.3. Hoàn thiện khung năng lực tích hợp

Khung năng lực đề xuất gồm bốn tầng. Tầng thứ nhất xác định bối cảnh phát triển và các xu hướng công nghệ, xã hội, môi trường. Tầng thứ hai phân tích yêu cầu của khu vực công, khu vực tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước. Tầng thứ ba gồm tám nhóm năng lực cốt lõi. Tầng thứ tư chuyển hóa các nhóm năng lực thành chuẩn đầu ra có thể đo lường, nhiệm vụ đánh giá và tiêu chí tham chiếu với yêu cầu nghề nghiệp (Lê Thu Hương, 2026).

4.4. Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá

Phương pháp dạy học cần tăng tỷ trọng học tập dựa trên dự án, giải quyết vấn đề và phân tích tình huống. Sinh viên nên được làm việc với bộ dữ liệu thực, mô phỏng chính sách, bài toán doanh nghiệp và nhiệm vụ liên ngành. Mô hình lớp học đảo ngược có thể được sử dụng để chuyển phần tiếp nhận kiến thức cơ bản sang học liệu số, dành thời gian trực tiếp cho thảo luận, phản biện và thực hành. Việc đánh giá cần đo được quá trình và sản phẩm học tập, kết hợp bài viết phân tích, báo cáo dữ liệu, thuyết trình, dự án nhóm và phản hồi của đơn vị thực tế.

Hạ tầng đào tạo cũng cần được điều chỉnh tương ứng. Phòng thực hành phân tích dữ liệu, phòng mô phỏng chính sách và kho học liệu số mở giúp người học phát triển năng lực thông qua trải nghiệm. Tuy nhiên, đầu tư công nghệ chỉ có ý nghĩa khi đi cùng học liệu phù hợp, năng lực số của giảng viên và quy tắc sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, bao gồm minh bạch nguồn dữ liệu, kiểm chứng kết quả và bảo đảm liêm chính học thuật.

4.5. Tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp

Cơ quan nhà nước và doanh nghiệp cần tham gia thực chất vào việc xác định chuẩn năng lực, góp ý chương trình, cung cấp tình huống và dữ liệu đã được xử lý phù hợp, đồng thời phối hợp tổ chức thực tập. Giảng viên cần có cơ hội tham gia nghiên cứu thực địa, tư vấn chính sách hoặc thực tế ngắn hạn tại doanh nghiệp để cập nhật nội dung giảng dạy. Về phía Nhà nước, cần phát triển hệ thống thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, nghề và vùng; công bố dữ liệu định kỳ để cơ sở đào tạo chủ động điều chỉnh chương trình và quy mô tuyển sinh.

Hợp tác ba bên chỉ bền vững khi lợi ích và trách nhiệm của từng chủ thể được xác định rõ. Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về chất lượng học thuật và chuẩn đầu ra; doanh nghiệp cung cấp tín hiệu thị trường và môi trường thực hành; cơ quan nhà nước tạo khung chính sách, dữ liệu và cơ chế khuyến khích. Một cơ chế phản hồi định kỳ từ cựu sinh viên, nhà tuyển dụng và cơ quan quản lý sẽ giúp chương trình được cập nhật liên tục thay vì chờ đến mỗi chu kỳ rà soát dài hạn.

5. Kết luận

Nhu cầu nhân lực kinh tế ở Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng coi trọng tri thức, dữ liệu, công nghệ, năng lực quản trị và trách nhiệm phát triển bền vững. Sự dịch chuyển này đặt đào tạo đại học ngành Kinh tế trước yêu cầu phải thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức học thuật và năng lực vận dụng. Trọng tâm đổi mới không chỉ là bổ sung nội dung số hoặc nội dung xanh, mà là tổ chức lại toàn bộ chuỗi từ mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, cấu trúc chương trình, phương pháp dạy học đến đánh giá và hợp tác với đơn vị sử dụng lao động.

Việc xây dựng khung năng lực tích hợp, mở rộng học tập dựa trên thực tiễn và củng cố hợp tác giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp có thể tạo nền tảng cho quá trình đổi mới này. Khi được triển khai nhất quán và có cơ chế đánh giá thường xuyên, các giải pháp sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhân lực kinh tế có khả năng thích ứng, ra quyết định dựa trên bằng chứng và tham gia hiệu quả vào chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cũng như nâng cao năng lực quản trị phát triển của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Bộ Công Thương (18/02/2025). Thương mại điện tử Việt Nam năm 2024: Những bước tiến và thách thức. https://moit.gov.vn/khoa-hoc-va-cong-nghe/thuong-mai-dien-tu-viet-nam-nam-2024-nhung-buoc-tien-va-thach-thuc.html
Đỗ Thị Kim Tiên (2026). Đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện Hành chính và Quản trị công trong kỷ nguyên phát triển mới. Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
Hà Khắc Minh (2026). Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
International Labour Organization. (2018). World employment and social outlook 2018: Greening with jobs. https://www.ilo.org/sites/default/files/wcmsp5/groups/public/%40dgreports/%40dcomm/%40publ/documents/publication/wcms_628654.pdf
Lê Thu Hương (2026). Phát triển chuẩn năng lực nguồn nhân lực kinh tế trong bối cảnh mới ở Việt Nam. Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
Nguyễn Chi Mai (2026). Yêu cầu phát triển của Việt Nam và nhu cầu nguồn nhân lực kinh tế trong kỷ nguyên mới. Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
Nguyễn Thị Việt Hà (2026). Định hướng tích hợp quản trị hiệu suất và chuyển đổi xanh vào chương trình đào tạo bậc đại học ngành Kinh tế. Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
Phạm Văn Hồng (2026). Kinh nghiệm đào tạo ngành Kinh tế và một số gợi ý cho Học viện Hành chính và Quản trị công. Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
Tổng cục Thống kê (2025). Một số nét chính của thị trường lao động quý I năm 2025. https://www.gso.gov.vn/bai-top/2025/04/mot-so-net-chinh-thi-truong-lao-dong-quy-i-nam-2025/
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính (19/01/2026). Đề tài: Bộ chỉ tiêu báo cáo tình hình vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. https://nief.mof.gov.vn/de-tai-cap-bo/de-tai-bo-chi-tieu-bao-cao-tinh-hinh-von-nha-nuoc-dau-tu-tai-doanh-nghiep-11795.html
Võ Nguyễn Quang Nhật (2026). Đổi mới đào tạo ngành Kinh tế tại Học viện Hành chính và Quản trị công đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên mới.Tham luận hội thảo. Học viện Hành chính và Quản trị công.
World Bank (22/10/2021). Digital transformation in Vietnam: Skills must transform too. https://blogs.worldbank.org/en/eastasiapacific/digital-transformation-vietnam-skills-must-transform-too
World Bank (08/8/2022). Launching of Taking Stock report “Education to Grow”: Speech by Carolyn Turk, Country Director for the World Bank in Vietnam. https://www.worldbank.org/en/news/speech/2022/08/08/launching-of-taking-stock-report-education-to-grow-speech-by-carolyn-turk-country-director-for-the-world-bank-in-vietnam
World Economic Forum (2025). The future of jobs report 2025. https://reports.weforum.org/docs/WEF_Future_of_Jobs_Report_2025.pdf