Solutions for reforming leadership and direction methods in the implementation of strategic decisions amid integration and development model transformation
TS. Trịnh Thanh Tâm
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: tamducphuc@yahoo.com.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng nhanh, bền vững, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết để thực hiện các quyết sách chiến lược nhằm đưa đất nước phát triển. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với yêu cầu hội nhập sâu rộng và chuyển đổi mô hình phát triển, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc ban hành chủ trương, mà quan trọng hơn là đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách hiệu quả, thực chất. Qua đó, bảo đảm các quyết sách chiến lược được triển khai đồng bộ, khả thi và đi vào cuộc sống, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Đổi mới phương pháp; lãnh đạo, chỉ đạo; quyết sách chiến lược; hội nhập quốc tế; chuyển đổi mô hình phát triển.
Abstract: Against the backdrop of a rapidly changing and complex world, increasingly deep and extensive international integration, and the need to shift toward a model of rapid and sustainable development, the Party has issued numerous resolutions to implement strategic policies aimed at advancing the country’s development. As the country enters a new era, marked by the need for deeper integration and a shift in the development model, the challenge goes beyond merely issuing policies; more importantly, it requires innovating leadership methods and effectively and substantively directing the implementation of these policies. This ensures that strategic policies are implemented in a coordinated, feasible, and practical manner, creating a strong impetus for the country’s development in this new era.
Keywords: Innovation in methods; leadership and guidance; strategic policies; international integration; transformation of the development model.
1. Mở đầu
Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng tìm tòi, phát triển, bổ sung, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, đặc biệt là phương pháp, cách thức tiến hành, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Đây là yếu tố then chốt bảo đảm xây dựng nội bộ Đảng, bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tăng cường hội nhập quốc tế và chuyển đổi mô hình phát triển của đất nước, đòi hỏi phải đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi các quyết sách chiến lược của Đảng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới; bảo đảm các quyết sách chiến lược của Đảng được triển khai đồng bộ, khả thi và đi vào cuộc sống, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
2. Thực trạng đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng hiện nay
Về phương diện lý luận, yêu cầu đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược một cách hiệu quả, phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tính linh hoạt, thích ứng của phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo trong điều kiện lịch sử cụ thể. V.I. Lênin đã chỉ dẫn: “khi tình hình đã thay đổi và chúng ta phải giải quyết những nhiệm vụ thuộc loại khác, thì không nên nhìn lại đằng sau và sử dụng những phương pháp của ngày hôm qua” (V.I Lênin, 2006).
Kế thừa và phát triển quan điểm của V.I Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cung cấp những chỉ dẫn sâu sắc về đổi mới phương pháp lãnh đạo. Người nhấn mạnh: “Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.84); “Cán bộ lãnh đạo cần phải chống bệnh quan liêu, chống cách lãnh đạo chung chung. Cần phải đi sâu sát, điều tra nghiên cứu” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.91). Đây là những nguyên lý có giá trị bền vững, tiếp tục soi sáng quá trình đổi mới phương pháp lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Về thực tiễn, trong thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định cụ thể hóa phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động; đổi mới công tác tổ chức, cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, chỉ đạo rà soát, ban hành nhiều văn bản tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc hoạt động của Đảng, đổi mới phong cách, lề lối làm việc. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đẩy mạnh rà soát, hoàn thiện hệ thống quy định, quy chế, quy trình tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị ở địa phương.
Từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết thực hiện quyết sách chiến lược trên nhiều lĩnh vực, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị cao, tạo nền tảng đưa đất nước phát triển giàu mạnh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới, như: (1) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; (2) Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; (3) Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; (4) Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; (5) Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; (6) Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; (7) Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; (8) Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước; (9) Nghị quyết số 80-NQ/TW 07/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam; (10) Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng; (11) Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; (12) Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới…
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, như: “Vẫn còn tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, trùng lắp, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế nên hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực chưa cao. Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng không khả thi. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của tổ chức, cá nhân, người đứng đầu có nội dung chưa rõ, ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý chưa được phân định cụ thể; phân cấp, phân quyền chưa mạnh. Cải cách hành chính, đổi mới phong cách, lề lối làm việc trong Đảng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.174).
Những hạn chế nêu trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nhất là phương pháp lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.142).
Trong thời gian tới, “Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; mọi người dân đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, văn minh” (Nguyễn Hồng Điệp, 31/12/2024).
3. Một số giải pháp
Để đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển.
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, đặc biệt ở cấp Trung ương và cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý về tiếp tục đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển.
Việc đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển đòi hỏi các tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị đặc biệt ở cấp Trung ương và đội ngũ cán bộ diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc và xác định rõ trách nhiệm của mình chủ trương, quyết sách chiến lược của Đảng trong thời kỳ mới. Tất cả các chủ trương, quyết sách chiến lược đó cần được các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức, cơ quan, đơn vị quán triệt đầy đủ, kịp thời, tạo ra tư duy mới, tầm nhìn mới trong nhận thức, từ đó xác định ý chí, quyết tâm cao và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, nhận thức sâu sắc tinh thần quyết liệt, quyết tâm chính trị cao trong thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng. Phải chuyển tính đúng đắn của quyết sách thành tính đúng đắn trong tổ chức thực hiện; chuyển sự thống nhất về chủ trương thành sự thống nhất trong hành động; chuyển từ chủ trương chiến lược, vĩ mô của Trung ương thành chủ trương và biện pháp thực hiện cụ thể, có hiệu quả ở cơ sở. Đồng thời cần có ý chí, quyết tâm rất cao, tinh thần quyết liệt, hành động ráo riết, sự đồng tâm nhất trí, khắc phục cho được tư tưởng trì trệ, ngại đổi mới, không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá sáng tạo vì lợi ích chung.
Thứ hai, đổi mới việc xây dựng, ban hành các quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thể hiện đúng tầm là các quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, Trong đó tập trung phân biệt rõ các loại hình văn bản: nghị quyết và kết luận, chỉ thị, thông tri, thông báo… về tính chất, phạm vi nội dung đề cập, giá trị và hiệu lực thi hành. Đồng thời, chương trình hóa việc xây dựng, ban hành các nghị quyết, kết luận, chỉ thị.Việc xây dựng chương trình, kế hoạch ban hành nghị quyết trong chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần vừa bảo đảm tính kế hoạch, nhưng cũng không quá cứng nhắc, sẵn sàng ban hành các nghị quyết, kết luận đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn và hoạt động lãnh đạo của Đảng.
Chỉ ban hành nghị quyết khi thật sự cần thiết, có các tiếp cận và nội dung khác cơ bản với nghị quyết hiện hành, đã hội đủ các căn cứ; đối với những nội dung đã có nghị quyết, khi cần chỉ ban hành kết luận điều chỉnh chỉ tiêu, các biện pháp thực hiện. Cần tránh việc ban hành quá nhiều nghị quyết trong một nhiệm kỳ, khiến “nghị quyết chồng lên nghị quyết”, nghị quyết trước chưa được triển khai đã có nghị quyết mới.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược.
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ – đặc biệt là cấp chiến lược – nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp lãnh đạo thực hiện quyết sách chiến lược, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng hoạch định chính sách vĩ mô và đàm phán quốc tế. Bên cạnh tăng cường đào tạo, bồi dưỡng trong nước, chủ động liên kết sâu với các học viện quản trị công và đại học danh tiếng toàn cầu để bồi dưỡng cho cán bộ cấp chiến lược về luật pháp quốc tế, kinh tế số, địa chính trị, cam kết thương mại thế hệ mới và các mô hình phát triển bền vững (kinh tế tuần hoàn, Net Zero). Cán bộ chiến lược phải có khả năng ngồi đối thoại, đàm phán độc lập và sòng phẳng với các đối tác, tập đoàn đa quốc gia. Đưa các chương trình đào tạo về công nghệ, an ninh mạng, Big Data và trí tuệ nhân tạo (AI) thành bắt buộc. Đồng thời, đổi mới căn bản phương thức đánh giá cán bộ, lấy hiệu quả thực thi quyết sách làm thước đo chính. Không ít nghị quyết rất hay nhưng thực hiện rất chậm, do đó, phương pháp đánh giá cán bộ phải dịch chuyển sang đo lường kết quả thực hiện quyết sách. Áp dụng hệ thống đánh giá bằng KPIs. Kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ đứng đầu không dựa trên các bản báo cáo thành tích định tính, mà được đo bằng sản phẩm cụ thể: tốc độ giải ngân đầu tư công của bộ/ngành/địa phương; số lượng thủ tục hành chính được cắt giảm thực tế; số lượng dự án công nghệ cao thu hút được…
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, công tác thanh tra, kiểm toán việc thực hiện quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng: “Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” (Hồ Chí Minh, 2011). Trong đó cần nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và kiểm toán trong tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược; “gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b). Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành chủ động, kịp thời, toàn diện, đồng bộ, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh theo đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác đảng. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp, cách thức kiểm tra, giám sát, nhất là nâng tầm cơ chế giám sát trong Đảng; gắn công tác kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác. Chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên để chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, ngăn chặn vi phạm từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn.
Thứ năm, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội thực hiện quyết sách chiến lược.
Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy đầy đủ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hộivà các tổ chức quần chúng được Đảng và nhà nước giao nhiệm vụ trong việc tổ chức thực hiện các quyết sách chiến lược của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ chế để hệ thống tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Cần nhận thức đầy đủ rằng việc thực hiện thành công các quyết sách chiến lược không chỉ phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước mà còn đòi hỏi sự tham gia tích cực, chủ động và có trách nhiệm của hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng toàn thể Nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động, tạo đồng thuận xã hội đối với các quyết sách chiến lược của Đảng. Đổi mới nội dung tuyên truyền theo hướng lấy người dân làm trung tâm, nội dung tuyên truyền phải làm rõ mục tiêu, ý nghĩa, cơ sở khoa học, lợi ích và tác động của từng quyết sách chiến lược; đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin về lộ trình thực hiện, những khó khăn có thể phát sinh và các giải pháp xử lý, giúp Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng và chủ động tham gia thực hiện. Đồng thời, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và thích ứng với chuyển đổi số. Chú trọng đổi mới nội dung hoạt động theo hướng bám sát các quyết sách chiến lược và yêu cầu phát triển của đất nước. Mặt trận Tổ quốcViệt Nam cần xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động chuyên đề gắn với những nhiệm vụ trọng tâm như hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tư nhân, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập quốc tế. Nội dung hoạt động cần hướng mạnh về cơ sở, tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn mà người dân, doanh nghiệp, đoàn viên và hội viên quan tâm, qua đó nâng cao tính thiết thực và hiệu quả trong quá trình triển khai các quyết sách chiến lược.
Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan của Đảng, Chính phủ.
Văn phòng Trung ương Đảng, văn phòng các ban, cơ quan Đảng ở Trung ương và văn phòng cấp ủy các cấp phải đi đầu trong chuẩn hóa phương thức làm việc trên môi trường số. Trước hết, cần rà soát toàn bộ quy trình xây dựng chương trình công tác, tiếp nhận và xử lý văn bản, chuẩn bị hội nghị, trình đề án, ban hành kết luận, giao nhiệm vụ và theo dõi kết quả; loại bỏ những khâu trung gian, chuyển tiếp, xin ý kiến hoặc ký duyệt trùng lặp trước khi số hóa. Mỗi quy trình phải xác định rõ đầu vào, cơ quan chủ trì, người xử lý, thời hạn, thẩm quyền quyết định và sản phẩm đầu ra.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong các cơ quan của Chính phủ, góp phần thực hiện thắng lợi các quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển. trong đó tập trung xây dựng hệ thống chỉ đạo, điều hành thống nhất, dựa trên dữ liệu và kết quả thực hiện. Chuyển đổi số trong chỉ đạo, điều hành phải làm thay đổi căn bản cách Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương tổ chức thực hiện và kiểm soát nhiệm vụ. Mỗi nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch sau khi ban hành phải được chuyển thành các đầu việc cụ thể, xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, người chịu trách nhiệm, nguồn lực, thời hạn và kết quả đầu ra. Tiến độ phải được cập nhật trực tiếp trên hệ thống, không tiếp tục tổng hợp chủ yếu qua nhiều tầng báo cáo định kỳ.
Các cơ quan của Chính phủ phải chuyển từ quản lý theo mô hình kinh doanh truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu, mức độ rủi ro và tác động thực tế. Cần rà soát khoảng trống pháp lý đối với kinh tế nền tảng, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, tài sản số, giao dịch dữ liệu và dịch vụ xuyên biên giới. Việc xây dựng quy định phải phân biệt rõ hoạt động đổi mới sáng tạo hợp pháp với hành vi lợi dụng công nghệ để trốn thuế, gian lận, thao túng thị trường, xâm phạm dữ liệu hoặc gây rủi ro cho người tiêu dùng. Không áp dụng máy móc quy định cũ cho mô hình mới; nhưng cũng không để khoảng trống pháp lý kéo dài, tạo bất bình đẳng và thất thu ngân sách. Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Mỗi chương trình thử nghiệm phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, thời hạn, tiêu chí đánh giá, nghĩa vụ báo cáo, cơ chế bảo vệ người sử dụng và điều kiện dừng. Kết quả thử nghiệm phải được sử dụng để hoàn thiện pháp luật, không để cơ chế thử nghiệm trở thành vùng miễn trừ trách nhiệm.
4. Kết luận
Đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết sách chiến lược trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi mô hình phát triển là vấn đề lý luận và thực tiễn có ý nghĩa vô cùng cấp thiết, mang tính sống còn đối với sự nghiệp phát triển của đất nước ta trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Khi đất nước đứng trước yêu cầu bứt phá phát triển, việc chuyển hóa các chủ trương, quyết sách chiến lược thành kết quả thực tiễn sinh động, cụ thể phụ thuộc trực tiếp vào sự đổi mới mạnh mẽ, thực chất và khoa học về phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.142.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr.174.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 84; tr.91.
Nguyễn Hồng Điệp (31/12/2024).Tổng Bí thư Tô Lâm trả lời phỏng vấn của TTXVN: Khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới. Thông tấn xã Việt Nam. https://nvsk.vnanet.vn/tong-bi-thu-to-lam-tra-loi-phong-van-cua-ttxvn-khat-vong-vuon-minh-trong-ky-nguyen-moi-2-160004-1-159931.vna
V.I Lênin (2006).Toàn tập (Tập 44). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. tr.398



