Đào tạo nghề cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi bảo đảm sinh kế bền vững

Vocational training for ethnic minority and mountainous area workers to ensure sustainable livelihoods

ThS. Hoàng Thị Thanh
Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa
Email: hoangthithanh@hmu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Vùng dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, song đời sống của một bộ phận người dân vẫn còn khó khăn, việc làm thiếu ổn định. Đào tạo nghề được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề tại khu vực này vẫn còn những hạn chế về ngành nghề, chất lượng đào tạo, khả năng tiếp cận thị trường lao động và mức độ phù hợp với điều kiện địa phương. Bài viết làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi bảo đảm sinh kế bền vững.

Từ khóa: Đào tạo nghề; lao động; dân tộc thiểu số; miền núi; Việt Nam.

Abstract: Ethnic minority and mountainous regions play a vital role in socio-economic development; however, a segment of the population still faces hardship and unstable employment. Vocational training is considered a key solution for enhancing human resource quality, creating jobs, increasing incomes, and achieving sustainable poverty reduction. Nevertheless, vocational training in these areas still faces limitations regarding the range of trades offered, training quality, access to the labor market, and alignment with local conditions. This article examines the current situation and proposes solutions to improve the effectiveness of vocational training for the workforce in ethnic minority and mountainous regions, thereby ensuring sustainable livelihoods.

Keywords: Vocational training, labor, ethnic minorities, mountainous areas, Vietnam.

1. Đặt vấn đề  

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước (Thành Long, 19/8/2026). Trong tiến trình phát triển đất nước nhanh và bền vững, bảo đảm sinh kế ổn định cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng về kinh tế – xã hội và quốc phòng, an ninh. Đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ góp phần nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp mà còn tạo điều kiện để người lao động tiếp cận việc làm, tăng thu nhập, từng bước giảm nghèo và chủ động thích ứng với những biến đổi của thị trường lao động.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm và phát triển sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác đào tạo nghề ở một số địa bàn còn hạn chế; ngành nghề đào tạo chưa thật sự gắn với nhu cầu thị trường; chất lượng, quy mô đào tạo chưa đồng đều; khả năng tiếp cận việc làm sau đào tạo của người lao động còn thấp. Vì vậy, nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi

Đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi là một chủ trương quan trọng trong đường lối phát triển nguồn nhân lực, giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: Phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng, miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 102). Nghị quyết số 71-NQTW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo cũng nhấn mạnh: Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho đồng bào người dân tộc thiểu số ở các ngành nghề phù hợp. Chủ trương này thể hiện rõ yêu cầu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các khu vực khác, tạo điều kiện để đồng bào chủ động vươn lên bằng chính năng lực lao động và tri thức nghề nghiệp của mình.

Thể chế hóa chủ trương trên, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu tiên đối với giáo dục nghề nghiệp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 xác định chủ trương: Phát triển giáo dục nghề nghiệp tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và ven biển (Quốc hội, 2025). Luật cũng nhấn mạnh nguyên tắc gắn đào tạo với việc làm và thị trường lao động, qua đó, định hướng đào tạo nghề phải thiết thực, phù hợp nhu cầu sản xuất – kinh doanh và sinh kế của người học.

Đặc biệt, ngày 14/10/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I từ năm 2021 đến năm 2025. Một trong những mục tiêu trọng tâm của Chương trình là mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nghề nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Bên cạnh đó, Quyết định số 328/QĐ-TTg ngày 24/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030” xác định mục tiêu đến năm 2030, người dân tộc thiểu số trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù của vùng dân tộc thiểu số chiếm khoảng 70% (Thủ tướng Chính phủ, 2026) đã tạo cơ sở để triển khai các chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ sinh kế, việc làm cho lao động dân tộc thiểu số.  

Như vậy, đường lối và chính sách về đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi thể hiện rõ quan điểm ưu tiên đầu tư cho con người, nhất là ở những địa bàn còn khó khăn. Trọng tâm chính sách không chỉ là hỗ trợ người dân “được học nghề” mà còn hướng tới “học nghề để có việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống”. Đây là giải pháp quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số, miền núi với các vùng khác; đồng thời, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

3. Thực tiễn công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay

Một là, mạng lưới và quy mô đào tạo nghề từng bước được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được quan tâm đầu tư, từng bước nâng cao năng lực đào tạo. Các tỉnh thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế… (Nguyễn Thế Quang, 2024). Các chương trình đào tạo ngày càng đa dạng, từ nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, chế biến nông sản đến dịch vụ, du lịch và một số nghề phi nông nghiệp, qua đó mở rộng lựa chọn cho người học. Tính đến thời điểm ngày 30/6/2025, đã triển khai được 2.354 mô hình đào tạo nghề. Hỗ trợ đào tạo nghề cho 238.958 lao động là người dân tộc thiểu số. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của người dân tộc thiểu số và đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tăng dần. Có 1.679 người được hỗ trợ tham gia khóa đào tạo bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các thủ tục đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; 76.656 người được hỗ trợ giới thiệu, tư vấn về đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Chính phủ, 2025, tr. 21). Một trong những địa phương làm tốt công tác đào tạo nghề là tỉnh Phú Thọ, giai đoạn 2021 – 2025, toàn tỉnh đã hỗ trợ đào tạo nghề cho hơn 22.000 lượt người dân tộc thiểu số. Trong đó, 12.712 lượt người tham gia 173 mô hình đào tạo nghề tại chỗ, 9.462 lượt người được hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn, 75 người được cấp chứng chỉ nghề quốc gia, 8 người được đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng để đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. Ngoài ra, hơn 1.900 lượt lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm, gần 13.000 người được tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp và học nghề (Hồng Duyên, 2025).

Hai là, chất lượng đào tạo nghề từng bước được nâng lên, gắn với nhu cầu việc làm và phát triển sinh kế. Nội dung đào tạo được đa dạng hóa và gắn với đặc thù kinh tế – xã hội của từng vùng. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và miền núi phía Bắc, tập trung vào các nghề, như: trồng cây dược liệu, chế biến nông sản, du lịch cộng đồng; ở Tây Nguyên, phát triển nghề chế biến cà phê, ca cao, chăn nuôi gia súc lớn;… Đặc biệt, “nhiều cơ sở đào tạo đã bắt đầu tích hợp nội dung về kỹ năng số, thương mại điện tử, nông nghiệp thông minh vào chương trình học, giúp người học bước đầu làm quen với môi trường lao động số” (Mai Diệu Anh & Nguyễn Thị Thanh Thương, 2026).

Ba là, đào tạo nghề đã góp phần tích cực vào giảm nghèo, nâng cao thu nhập và bảo đảm sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Sau đào tạo, một bộ phận người lao động có thêm kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để tham gia thị trường lao động, phát triển sản xuất hoặc chuyển đổi nghề phù hợp. Đào tạo nghề cũng góp phần thay đổi nhận thức về học nghề, việc làm và phát triển kinh tế hộ gia đình, từng bước giảm tình trạng phụ thuộc vào sản xuất tự cung, tự cấp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay vẫn còn một số hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả tạo việc làm và bảo đảm sinh kế bền vững.

Thứ nhất, chất lượng và quy mô đào tạo nghề chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người lao động dân tộc thiểu số và miền núi. Ở một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành và đội ngũ giáo viên chưa đồng đều. Ví dụ như ở tỉnh Phú Thọ, trong tổng số 15 cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đầu tư, nhiều trung tâm còn thiếu trang thiết bị hiện đại, phòng học thực hành chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo theo hướng sản xuất hàng hóa. Ngoài ra, kinh phí dành cho công tác đào tạo nghề, giới thiệu việc làm phần lớn phải lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia. Việc huy động nguồn lực xã hội, nhất là từ doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia đào tạo và tiếp nhận lao động vùng cao còn hạn chế (Hồng Duyên, 2025).

Thứ hai, khả năng tiếp cận và tham gia đào tạo nghề của lao động dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế. Điều kiện kinh tế của nhiều hộ gia đình còn khó khăn, người lao động phải ưu tiên duy trì sản xuất, chăm lo gia đình nên chưa có điều kiện dành thời gian học nghề. Khoảng cách địa lý, giao thông khó khăn cũng làm giảm khả năng tiếp cận. Bên cạnh đó, trình độ học vấn không đồng đều, hạn chế về tiếng Việt ở một bộ phận người học và tâm lý ngại thay đổi nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập.

Thứ ba, sự gắn kết giữa đào tạo nghề với giải quyết việc làm và phát triển sinh kế chưa thật chặt chẽ. Công tác khảo sát nhu cầu thị trường lao động, dự báo nhu cầu nhân lực và phối hợp giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp ở một số địa phương còn chưa thường xuyên. Vì vậy, một bộ phận lao động sau khi hoàn thành khóa học chưa tìm được việc làm phù hợp, phải tiếp tục làm những công việc giản đơn hoặc quay trở lại phương thức sản xuất truyền thống, làm giảm hiệu quả của chính sách đào tạo nghề. Theo thống kê tại tỉnh Phú Thọ, tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số có thu nhập ổn định từ nghề còn thấp, chỉ đạt khoảng 50% số người qua đào tạo. Cơ cấu ngành, nghề chưa thật sự chuyển biến theo hướng công nghiệp – dịch vụ, nhiều nơi vẫn nặng về nông nghiệp truyền thống (Hồng Duyên, 2025).

4. Một số giải pháp

Một là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Các cơ quan quản lý cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo hướng ưu tiên lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, phụ nữ, thanh niên và người có nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp. Chính sách hỗ trợ cần bao quát cả học phí, chi phí đi lại, ăn ở, dụng cụ học tập, tư vấn việc làm và tiếp cận tín dụng sau đào tạo. Qua đó, giảm những khó khăn về kinh tế và điều kiện sinh hoạt, tạo động lực để người dân tham gia học nghề và duy trì việc học đến khi hoàn thành.

Cùng với hoàn thiện chính sách, cần nâng cao chất lượng quy hoạch, dự báo và quản lý đào tạo nghề. Các địa phương cần thường xuyên cập nhật dữ liệu về số lượng, cơ cấu, trình độ lao động; nhu cầu học nghề; nhu cầu tuyển dụng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế để xác định đúng ngành, nghề, quy mô và hình thức đào tạo. Hạn chế tình trạng tổ chức đào tạo theo chỉ tiêu nhưng thiếu việc làm sau tốt nghiệp. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải phối hợp với chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất để xác định nhu cầu nhân lực. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, đánh giá dựa trên các tiêu chí cụ thể như chất lượng đào tạo, tỷ lệ có việc làm, mức thu nhập và khả năng duy trì việc làm của người học sau đào tạo.

Hai  là, đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo theo hướng thiết thực, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Do trình độ học vấn, khả năng tiếp cận thông tin và điều kiện học tập của người dân còn khác nhau, chương trình đào tạo cần đơn giản, dễ hiểu, chú trọng thực hành, khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất; thời gian, địa điểm và hình thức đào tạo phải phù hợp với mùa vụ, điều kiện đi lại và sinh hoạt của người dân. Với địa bàn dân cư phân tán, cần tăng cường đào tạo lưu động, tại cộng đồng, hộ gia đình, hợp tác xã và mô hình sản xuất tiêu biểu.

Nội dung đào tạo cần gắn với lợi thế từng địa phương, như: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, chế biến nông – lâm sản, dược liệu, du lịch cộng đồng, dịch vụ và các nghề phi nông nghiệp. Đối với sản phẩm đặc trưng, cần đào tạo từ sản xuất, chế biến, bảo quản, đóng gói đến xây dựng thương hiệu và tiêu thụ. Phương pháp đào tạo cần chuyển mạnh sang phát triển kỹ năng nghề, tăng thực hành, áp dụng “cầm tay chỉ việc”, đào tạo nhóm nhỏ và học tập gắn với công việc. Đồng thời, cần trang bị kỹ năng số, thương mại điện tử, tiếp thị trực tuyến, quản lý tài chính và khởi sự kinh doanh, qua đó, mở rộng việc làm, tiêu thụ sản phẩm và phát triển sinh kế bền vững.

Ba là, tăng cường gắn đào tạo nghề với thị trường lao động, doanh nghiệp và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Hiệu quả đào tạo nghề không chỉ thể hiện ở số lượng người được đào tạo mà quan trọng hơn là khả năng có việc làm, tạo thu nhập và ổn định sinh kế sau đào tạo. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “đào tạo những gì cơ sở có” sang “đào tạo những gì thị trường cần”. Trước mỗi chương trình, cần khảo sát nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất, từ đó, xác định yêu cầu về trình độ, kỹ năng và vị trí việc làm phù hợp.

Doanh nghiệp cần tham gia sâu vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đánh giá kỹ năng đến tuyển dụng. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đẩy mạnh mô hình đào tạo kết hợp nhà trường – doanh nghiệp, tạo điều kiện để người học thực hành trên thiết bị và quy trình sản xuất thực tế. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, tiếp nhận và đào tạo lao động tại chỗ.

Đối với địa bàn ít doanh nghiệp, cần chú trọng đào tạo gắn với sinh kế tại chỗ, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Đồng thời, hỗ trợ người lao động liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu, tiếp cận vốn, khoa học, công nghệ và thị trường thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác và nhóm sản xuất cộng đồng.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và điều kiện bảo đảm đào tạo nghề. Chất lượng đội ngũ nhà giáo có vai trò trực tiếp quyết định hiệu quả đào tạo nghề. Vì vậy, cần có chính sách thu hút, bồi dưỡng và sử dụng giáo viên có chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời, tạo điều kiện để họ công tác lâu dài tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Giáo viên cần am hiểu văn hóa, phong tục, tập quán và phương thức sản xuất của người dân để lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp; tăng cường sử dụng ví dụ, tình huống và mô hình sản xuất gần gũi nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, vận dụng của người học.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần phối hợp với doanh nghiệp, hợp tác xã để giáo viên thường xuyên cập nhật công nghệ, quy trình sản xuất và yêu cầu thị trường lao động. Đồng thời, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị thực hành cho những nghề có lợi thế, nhu cầu cao; phát triển điểm đào tạo vệ tinh, cơ sở lưu động và đào tạo tại cộng đồng phù hợp địa bàn rộng, dân cư phân tán. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của cán bộ cơ sở, già làng, trưởng bản, người có uy tín và các đoàn thể trong tuyên truyền, vận động học nghề; đẩy mạnh hướng nghiệp cho thanh niên, giúp họ lựa chọn nghề phù hợp năng lực, điều kiện gia đình và nhu cầu địa phương.

Năm là, kết hợp đào tạo nghề với hỗ trợ việc làm, tín dụng, khởi nghiệp và đa dạng hóa sinh kế. Đào tạo nghề chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người học có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng để tạo việc làm và thu nhập ổn định. Vì vậy, cần tăng cường tư vấn, giới thiệu việc làm, kết nối cung – cầu lao động và hỗ trợ người lao động tiếp cận doanh nghiệp sau đào tạo. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần phối hợp với trung tâm dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương theo dõi quá trình việc làm của người học, kịp thời hỗ trợ những trường hợp chưa có việc làm.

Đối với lao động tự tạo việc làm, cần gắn đào tạo nghề với hỗ trợ tín dụng, chuyển giao kỹ thuật, thiết bị, giống, thông tin thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Chính sách hỗ trợ cần chuyển từ ngắn hạn, manh mún sang phát triển theo chuỗi giá trị, gắn đào tạo với sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Đồng thời, khuyến khích phát triển kinh tế hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã và các mô hình khởi nghiệp phù hợp địa phương. Người lao động cần được hướng dẫn đa dạng hóa sinh kế, kết hợp nông nghiệp với dịch vụ, du lịch cộng đồng, nghề thủ công và hoạt động phi nông nghiệp. Đối với thanh niên, cần khuyến khích học nghề gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, từng bước giảm phụ thuộc vào lao động giản đơn và nâng cao tỷ lệ lao động có kỹ năng.

5. Kết luận

Đào tạo nghề cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm sinh kế bền vững. Những năm qua, công tác này đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao khả năng tiếp cận việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo chưa đồng đều; ngành nghề đào tạo ở một số nơi chưa sát nhu cầu thị trường, khả năng tìm việc và duy trì sinh kế sau đào tạo còn hạn chế. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức đào tạo theo hướng linh hoạt, thiết thực, gắn với nhu cầu doanh nghiệp, lợi thế địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đồng thời tăng cường hỗ trợ việc làm, tín dụng, khởi nghiệp và liên kết sản xuất. Qua đó, phát huy nguồn nhân lực tại chỗ, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025). Báo cáo số 169/BC-BDTTG ngày 30/3/2025 tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 và kiến nghị, giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Chính phủ (2025). Báo cáo số 901/BC-CP ngày 10/10/2025 tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồng Duyên (2025). Quan tâm đào tạo nghề cho lao động vùng cao. Báo Phú Thọ. https://baophutho.vn/quan-tam-dao-tao-nghe-cho-lao-dong-vung-cao-241678.htm
Mai Diệu Anh & Nguyễn Thị Thanh Thương (2026). Phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Giao thông, tập 6, số 2, tr. 92-103.
Nguyễn Thế Quang (2024). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số góp phần phát triển bền vững miền núi hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/11/26/nang-cao-chat-luong-nguon-nhan-luc-dan-toc-thieu-so-gop-phan-phat-trien-ben-vung-mien-nui-hien-nay/
Quốc hội (2025). Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025.
Quốc hội (2026).  Nghị quyết 46/2026/QH16 ngày 24/6/2026 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Thành Long (19/8/2026). Hoàn thiện nền tảng pháp lý cho chính sách dân tộc trong giai đoạn mới. http://www.cema.gov.vn/uy-ban-dan-toc-voi-bo-nganh/hoan-thien-nen-tang-phap-ly-cho-chinh-sach-dan-toc-trong-giai-doan-moi.htm
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025”.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 328/QĐ-TTg ngày 24/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030.