Cán cân phát thải các-bon trong thương mại quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2023

The carbon emissions balance in Vietnam’s international trade, 1990–2023

                                                                         ThS. Nguyễn Huy Khánh
Trường Đại học Ngoại thương
Email: khanhnh@ftu.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Cam kết giảm phát thải của Việt Nam dựa trên phát thải theo sản xuất, do vậy chưa cho biết phần phát thải trên lãnh thổ phục vụ tiêu dùng ở nước ngoài. Nghiên cứu so sánh phát thải CO2 theo sản xuất và theo tiêu dùng giai đoạn từ năm 1990 – 2023 thông qua dữ liệu nghiên cứu của Global Carbon Budget 2025, của OECD về phát thải hàm chứa trong xuất khẩu và phân rã chỉ số Divisia. Từ cuối những năm 90, thế kỷ XX phát thải trên lãnh thổ vượt phát thải gắn với tiêu dùng trong nước; cán cân phát thải luôn dương từ năm 2000 và đạt 28,7% năm 2023; hơn 80% phát thải hàm chứa trong xuất khẩu thuộc chế biến chế tạo. Nghiên cứu đề xuất công bố chỉ tiêu phát thải theo tiêu dùng, tính đến phần xuất khẩu khi phân bổ hạn ngạch và giảm hệ số phát thải điện lưới.

Từ khóa: Phát thải theo sản xuất; phát thải theo tiêu dùng; cán cân phát thải trong thương mại; phát thải hàm chứa trong xuất khẩu; phân rã chỉ số; Việt Nam.

Abstract: Vietnam’s emissions reduction commitments are based on production-based emissions; therefore, they do not account for emissions within its territory that serve foreign consumption. A comparative study of CO2 emissions based on production and consumption for the period from 1990 to 2023, using data from the Global Carbon Budget 2025, OECD data on emissions embedded in exports, and the Divisia index decomposition. Since the late 1990s, domestic emissions have exceeded emissions associated with domestic consumption; the emissions balance has remained positive since 2000, reaching 28.7% in 2023; more than 80% of emissions embedded in exports are from the manufacturing sector. The study proposes publishing emissions indicators based on consumption, accounting for the export component when allocating quotas, and reducing the grid electricity emissions factor.

Keywords: Production-based emissions; consumption-based emissions; trade emissions balance; embedded emissions in exports; index decomposition; Vietnam.

1. Đặt vấn đề

Việt Nam là nền kinh tế có độ mở thương mại cao. Năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 786,29 tỷ USD, trong khi tổng sản phẩm trong nước là 476,3 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp 71,7% kim ngạch xuất khẩu (Cục Thống kê, 2025). Khi một phần lớn sản lượng được sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ở nước ngoài, lượng phát thải phát sinh trên lãnh thổ có thể khác đáng kể so với lượng phát thải gắn với tiêu dùng của cư dân trong nước.

Tuy vậy, hạch toán phát thải và các cam kết giảm phát thải của Việt Nam đều dựa trên phát thải theo sản xuất. Đóng góp do quốc gia tự quyết định, mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và hệ thống hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo Quyết định số 263/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2026) đều tính lượng phát thải phát sinh trên lãnh thổ, theo nguyên tắc hạch toán của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu. Cách tính này không cho biết bao nhiêu phát thải trên lãnh thổ Việt Nam gắn với nhu cầu tiêu dùng ở nước ngoài, và do đó không cho biết bao nhiêu phần trong gánh nặng giảm phát thải mà Việt Nam cam kết thực chất là để phục vụ tiêu dùng ở nước khác. Thông tin này ngày càng cần thiết khi các đối tác thương mại bắt đầu định giá các-bon trên hàng nhập khẩu, điển hình là Cơ chế điều chỉnh các-bon tại biên giới (CBAM) của Liên minh châu Âu, thu phí chính thức từ ngày 01/01/2026 (European Union, 2023).

So sánh phát thải theo sản xuất với phát thải theo tiêu dùng cho phép trả lời câu hỏi trên. Nghiên cứu thực hiện so sánh phát thải tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2023 nhằm trả lời bốn câu hỏi: (1) cán cân phát thải trong thương mại của Việt Nam hình thành và biến động như thế nào; (2) phát thải hàm chứa trong xuất khẩu của Việt Nam đến từ ngành nào và đi tới thị trường nào; (3) vì sao phát thải theo sản xuất tăng nhanh hơn phát thải theo tiêu dùng; (4) cán cân của Việt Nam khác gì so với các nền kinh tế có cán cân dương cao. So với các nghiên cứu đã có về Việt Nam, nghiên cứu bổ sung diễn biến cán cân phát thải ròng theo từng năm trong giai đoạn 1990 – 2023, cơ cấu ngành và thị trường của phát thải hàm chứa trong xuất khẩu, và hàm ý đối với cam kết giảm phát thải và cơ chế phân bổ hạn ngạch.

2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

2.1. Các khái niệm cơ bản

Phát thải theo sản xuất (production-based emissions – PBE) là lượng CO2 phát sinh trong lãnh thổ một quốc gia, không phân biệt hàng hóa được tiêu dùng ở đâu. Phát thải theo tiêu dùng (consumption-based emissions – CBE) là lượng CO2 phát sinh trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ do cư dân trong nước tiêu dùng, không phân biệt nơi sản xuất. CBE được ước lượng từ bảng vào ra liên quốc gia (multi-regional input-output – MRIO), bằng cách lấy PBE trừ đi phát thải hàm chứa trong hàng xuất khẩu (embodied emissions in exports – EEE), tức lượng CO2 đã phát sinh trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu, và cộng thêm phát thải hàm chứa trong hàng nhập khẩu (embodied emissions in imports – EEI), tức lượng CO2 đã phát sinh ở nước ngoài để sản xuất hàng Việt Nam nhập khẩu:

CBE = PBE – EEE + EEI, do đó EET = PBE – CBE = EEE – EEI,

Trong đó, EET là cán cân phát thải trong thương mại. EET dương nghĩa là phát thải trên lãnh thổ lớn hơn phát thải gắn với tiêu dùng trong nước; quốc gia khi đó được gọi là xuất khẩu ròng các-bon, và ngược lại là nhập khẩu ròng các-bon. Tỷ lệ gộp EEE/PBE đo phần phát thải lãnh thổ phục vụ xuất khẩu; tỷ lệ ròng EET/PBE đo phần phát thải lãnh thổ phục vụ nhu cầu tiêu dùng ở nước ngoài sau khi đã bù trừ phần phát thải ở nước ngoài phục vụ tiêu dùng trong nước. Nghiên cứu dùng tỷ lệ ròng khi nói về cán cân và dùng phát thải hàm chứa trong xuất khẩu khi nói về cơ cấu ngành và thị trường.

2.2. Tổng quan nghiên cứu

Ở cấp toàn cầu, nghiên cứu của Peters và Hertwich; Davis và Caldeira ước tính khoảng 23% phát thải CO2 năm 2004 được giao dịch qua biên giới dưới dạng hàm chứa trong hàng hóa; riêng Trung Quốc, 22,5% phát thải trên lãnh thổ phục vụ tiêu dùng ở nước khác (Peters & Hertwich, 2008; Davis & Caldeira, 2010). Nghiên cứu của Peters và cộng sự cho thấy lượng phát thải này tăng từ 4,3 tỷ tấn năm 1990, tương đương 20% phát thải toàn cầu, lên 7,8 tỷ tấn năm 2008, tương đương 26%, và đề xuất theo dõi phát thải theo tiêu dùng song song với phát thải theo lãnh thổ (Peters và cộng sự, 2011). Peters lưu ý rằng ước lượng CBE kém chính xác hơn PBE vì phụ thuộc vào bảng MRIO (Peters, 2008); nghiên cứu của Andrew cho thấy ngay cả phát thải theo lãnh thổ cũng khác nhau đáng kể giữa các nguồn thống kê đối với nhiều nước, chủ yếu do khác biệt trong số liệu tiêu thụ than (Andrew, 2020).

Về nguồn gốc của dòng dịch chuyển phát thải, nghiên cứu của Wang và Ang về kết hợp phân rã chỉ số với khung MRIO và cho thấy khoảng cách dịch chuyển các-bon giữa nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển nới rộng khi hàng hóa trao đổi ngày càng chứa nhiều phát thải (Wang & Ang, 2018). Nghiên cứu của Meng và cộng sự cho thấy phát thải gắn với thương mại qua chuỗi giá trị toàn cầu tăng nhanh hơn phát thải gắn với thương mại hàng hóa cuối cùng (Meng & cộng sự, 2018). Về dữ liệu, bên cạnh số liệu CBE của Global Carbon Budget tính theo phương pháp của Peters và cộng sự (2011), OECD công bố cơ sở dữ liệu phát thải hàm chứa trong thương mại phân theo ngành và theo đối tác, tính từ MRIO hàng năm của chính OECD (Yamano & Guilhoto, 2020; OECD, 2025).

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyen dùng bảng Eora MRIO giai đoạn 2006 – 2015 và ước tính lượng CO2 hàm chứa trong hàng xuất khẩu tăng từ 22,2 lên 57,5 triệu tấn (Nguyen, 2022), tức khoảng một phần tư đến một phần ba phát thải lãnh thổ cùng năm; nghiên cứu này dừng ở tỷ lệ gộp, chưa trừ phần phát thải mà các nước khác tạo ra để sản xuất hàng Việt Nam nhập khẩu, nên chưa cho biết cán cân ròng. Các nghiên cứu định lượng khác trong nước sử dụng phát thải theo lãnh thổ, chủ yếu ước lượng quan hệ giữa độ mở thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát thải. Chưa có nghiên cứu nào trình bày diễn biến cán cân ròng của Việt Nam theo thời gian hay cơ cấu ngành và thị trường của phát thải hàm chứa trong xuất khẩu.

2.3. Khung lý thuyết

Lý thuyết thương mại và môi trường đưa ra hai cách giải thích không loại trừ nhau cho cán cân phát thải dương (Copeland & Taylor, 2004). Theo giả thuyết nơi trú ẩn ô nhiễm, quy định môi trường lỏng hơn hoặc giá các-bon thấp hơn làm các ngành sản xuất phát thải nhiều dịch chuyển tới nước đang phát triển; khi đó cán cân dương của nước nhận là biểu hiện của dịch chuyển các-bon. Theo cách giải thích dựa trên lợi thế so sánh, một nước dồi dào lao động chuyên môn hóa vào các ngành chế tạo sử dụng nhiều lao động; nếu các ngành này dùng điện sản xuất chủ yếu từ than, phát thải hàm chứa trong xuất khẩu cao là hệ quả của cơ cấu năng lượng chứ không nhất thiết của chính sách môi trường.

Nghiên cứu của Jakob và Marschinski chỉ ra rằng để phân biệt hai cách giải thích trên, cần so sánh cường độ các-bon của hàng xuất khẩu với cường độ của cùng loại hàng nếu được sản xuất ở nước nhập khẩu (Jakob & Marschinski, 2013). Kander và cộng sự đề xuất một cách tính khác, theo đó phát thải hàm chứa trong xuất khẩu được tính theo cường độ trung bình thế giới của ngành thay vì cường độ của nước xuất khẩu; chênh lệch giữa hai cách tính cho biết nước xuất khẩu sản xuất hàng xuất khẩu với cường độ các-bon cao hơn hay thấp hơn mức trung bình thế giới (Kander & cộng sự, 2015).

3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính được thu thập từ Global Carbon Budget 2025 (GCB), Friedlingstein và cộng sự cung cấp PBE, CBE, dân số và tổng sản phẩm trong nước (theo sức mua tương đương, giá so sánh) với phạm vi phát thải là CO2 từ nhiên liệu hóa thạch và quá trình công nghiệp (Friedlingstein & cộng sự, 2026). PBE có số liệu đến năm 2024, CBE đến năm 2023 và tổng sản phẩm trong nước đến năm 2022; vì vậy cán cân được tính đến năm 2023, còn phép phân rã dừng ở năm 2022. Số liệu CBE của GCB được tính theo phương pháp của Peters và cộng sự (2011): mô hình MRIO chỉ được tính trực tiếp tại một số năm có bảng vào ra của cơ sở dữ liệu GTAP, các năm còn lại được ước tính từ số liệu thương mại song phương hàng năm và phát thải lãnh thổ.

Để mô tả cơ cấu ngành và thị trường của phát thải hàm chứa trong xuất khẩu, nghiên cứu dùng cơ sở dữ liệu Dấu chân khí nhà kính của OECD (Greenhouse Gas Footprints, GHGFP, ấn bản 2025), tính từ bảng vào ra liên quốc gia hàng năm của OECD cho giai đoạn 1995 – 2022 (OECD, 2025), với chỉ tiêu phát thải hàm chứa trong xuất khẩu gộp phân theo ngành xuất khẩu và theo nước nhập khẩu. Nguồn này tính cho tổng các khí nhà kính quy đổi về CO2 tương đương, nên chỉ được dùng để so sánh tỷ trọng giữa các ngành và thị trường.

Biến động của PBE và CBE được phân rã theo đẳng thức do Kaya (1989) đề xuất:

E = P × (G/P) × (E/G),

trong đó E là phát thải, P là dân số, G là tổng sản phẩm trong nước; ba thừa số lần lượt phản ánh quy mô dân số, thu nhập bình quân đầu người và cường độ phát thải. Theo phương pháp phân rã chỉ số Divisia trung bình logarit dạng cộng (LMDI) (Ang, 2005), mức thay đổi phát thải giữa hai thời điểm 0 và 1 được tách thành tổng đóng góp của ba thành phần; đóng góp của thành phần X bằng L(E₁, E₀) × ln(X₁/X₀), với L(E₁, E₀) = (E₁ − E₀)/ln(E₁/E₀), và tổng ba đóng góp đúng bằng mức thay đổi phát thải, không có phần dư. Phân rã được thực hiện riêng cho PBE và cho CBE với cùng số liệu dân số và tổng sản phẩm trong nước.

Vì PBE và CBE được phân rã với cùng P và G, khác biệt giữa hai kết quả phân rã tập trung ở thành phần cường độ; phép phân rã được dùng để định lượng mức đóng góp của thành phần này theo giai đoạn. Do số liệu phát thải thay đổi đột ngột ở năm 2000 và các năm 2019 – 2021, phép phân rã được thực hiện lại với nhiều khoảng thời gian khác nhau và với giá trị đầu kỳ, cuối kỳ lấy trung bình ba năm (xem Bảng 4).

4. Kết quả và thảo luận

4.1. Diễn biến cán cân phát thải

Giai đoạn 1990 – 1996, CBE của Việt Nam cao hơn PBE, với EET bằng −7,3% đến −10,1% PBE; cán cân chuyển sang dương năm 1997 ở mức 0,9%, tăng lên 7,7% năm 1999 và 31,2% năm 2000 (Hình 1). Bước nhảy năm 2000 phát sinh từ việc CBE giảm 17,2% trong một năm (từ 44,8 xuống 37,1 triệu tấn) trong khi PBE tăng 11,1%; mức giảm này bắt nguồn từ cách ước tính CBE giữa hai bảng gốc của GTAP, không phản ánh thay đổi trong tiêu dùng, nên số liệu trước năm 2000 kém tin cậy hơn. Từ cuối những năm 1990, phát thải trên lãnh thổ Việt Nam vượt phát thải gắn với tiêu dùng trong nước và cán cân dương duy trì liên tục từ đó. Giai đoạn cán cân chuyển sang dương trùng với thời kỳ Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công nghiệp chế biến chế tạo hướng xuất khẩu gia tăng.

Hình 1. Phát thải CO2 của Việt Nam theo hai cách hạch toán, 1990 – 2024

Nguồn: Global Carbon Budget 2025.

Từ năm 2000, EET luôn dương và dao động trong khoảng 19-31% PBE, ở mức 22,5% năm 2010, 28,3% năm 2020 và 28,7% năm 2023 (xem Bảng 1). Về giá trị tuyệt đối, EET tăng từ 16,8 triệu tấn năm 2000 lên 31,4 triệu tấn năm 2010 và 99,6 triệu tấn năm 2023, khi PBE đạt 347,4 triệu tấn và CBE đạt 247,8 triệu tấn. Tính bình quân đầu người, quan hệ giữa hai chỉ tiêu cũng đảo chiều: năm 1990, CBE bình quân đầu người (0,36 tấn) còn cao hơn PBE (0,33 tấn); đến năm 2023, PBE bình quân đầu người đạt 3,46 tấn trong khi CBE là 2,47 tấn. Sau khi thu hẹp trong thập niên 2000, cán cân mở rộng rõ rệt từ năm 2017: EET/PBE tăng từ 24,5% năm 2017 lên 29,4% năm 2022, mức cao nhất kể từ năm 2002.

Bảng 1. Phát thải CO2 của Việt Nam theo hai cách hạch toán, 1990 – 2024

NămPBE
(triệu tấn)
CBE
(triệu tấn)
EET
(triệu tấn)
EET/PBE
(%)
PBE/CBE
bình quân đầu người (tấn)
199021,323,3−2,0−9,30,33 / 0,36
200053,937,116,831,20,70 / 0,48
2010139,6108,231,422,51,60 / 1,24
2020362,6259,9102,728,33,70 / 2,65
2022322,7227,994,829,43,24 / 2,29
2023347,4247,899,628,73,46 / 2,47
2024370,9n.a.n.a.n.a.3,67 / n.a.
Nguồn: Global Carbon Budget 2025 và tính toán của tác giả.

PBE của Việt Nam tăng 32,8% năm 2019, giảm 13,3% năm 2021 rồi tăng trở lại; toàn bộ biến động này nằm ở phát thải từ than (122,3 triệu tấn năm 2018, 216,0 năm 2020, 172,6 năm 2021), và vì CBE được ước tính từ PBE nên CBE cũng biến động theo. Biến động này giữa các năm liền kề phản ánh khác biệt về số liệu than giữa các nguồn thống kê (Andrew, 2020) hơn là thay đổi của nền kinh tế; vì vậy mục 4.3 kiểm tra xem kết quả phân rã có thay đổi khi năm cuối rơi vào các năm này hay không.

4.2. Cơ cấu ngành và thị trường của phát thải hàm chứa trong xuất khẩu

Bảng 2 trình bày cơ cấu phát thải hàm chứa trong xuất khẩu của Việt Nam theo ngành và theo thị trường. Tỷ trọng của công nghiệp chế biến chế tạo tăng từ 58,2% năm 1995 lên 61,6% năm 2010 và 80,7% năm 2022, trong khi khai khoáng chỉ chiếm 4,8% năm 2022 sau khi đạt đỉnh 12,3% năm 2010 nhờ xuất khẩu dầu thô, và nông – lâm – thủy sản giảm từ 16,5% xuống 4,5%. Cơ cấu phát thải hàm chứa trong xuất khẩu cho thấy vai trò ngày càng lớn của công nghiệp chế biến chế tạo.

Bên trong chế biến chế tạo, ba nhóm ngành dẫn đầu năm 2022 là dệt may – da giày (17,1%), điện tử – máy tính (16,6%) và thực phẩm – đồ uống (9,1%). Sắt thép tăng nhanh nhất: phát thải hàm chứa trong xuất khẩu của ngành này tăng từ 1,9 triệu tấn năm 2010 lên 21,8 triệu tấn năm 2022, tỷ trọng từ 1,4% lên 6,3%, trùng với thời điểm lò cao đầu tiên của tổ hợp thép Formosa Hà Tĩnh đi vào vận hành năm 2017 và Việt Nam bắt đầu xuất khẩu phôi thép và thép cuộn cán nóng với quy mô lớn. Đây cũng là ngành duy nhất trong nhóm dẫn đầu thuộc phạm vi CBAM.

Về thị trường, cơ cấu điểm đến của phát thải hàm chứa trong xuất khẩu dịch chuyển mạnh. Năm 1995, Nhật Bản là điểm đến lớn nhất (22,7%), tiếp theo là Liên minh châu Âu (16,9%). Năm 2022, Hoa Kỳ chiếm 25,7%, Trung Quốc 17,6%, Liên minh châu Âu 10,3%, Nhật Bản 7,4% và Hàn Quốc 5,7%. Điều này có nghĩa là hơn một nửa phát thải hàm chứa trong xuất khẩu của Việt Nam phục vụ tiêu dùng ở các nền kinh tế có cường độ các-bon thấp hơn Việt Nam đáng kể: năm 2022, cường độ CO2 trên tổng sản phẩm trong nước theo sức mua tương đương của Việt Nam là 0,387 kg/USD, so với 0,288 của thế giới, 0,259 của Hoa Kỳ, 0,216 của Nhật Bản và 0,171 của Đức. Theo khung của Jakob & Marschinski (2013), chênh lệch cường độ các-bon này gợi ý khả năng một phần phát thải gắn với xuất khẩu của Việt Nam phản ánh dịch chuyển các-bon; tuy nhiên, nghiên cứu chưa kiểm định trực tiếp giả thuyết này.

Bảng 2. Cơ cấu phát thải khí nhà kính hàm chứa trong xuất khẩu của Việt Nam theo ngành và theo thị trường (% tổng)

 199520102022
Tổng phát thải hàm chứa trong xuất khẩu
(triệu tấn CO2 tương đương)
24,2133,6349,1
Theo ngành xuất khẩu   
Nông, lâm nghiệp và thủy sản16,510,44,5
Khai khoáng5,612,34,8
Công nghiệp chế biến chế tạo58,261,680,7
   Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá28,217,29,1
   Dệt may, da giày13,812,117,1
   Máy tính, điện tử, quang học0,43,716,6
   Sắt thép0,61,46,3
   Hóa chất, dược phẩm0,93,95,5
   Đồ gỗ, nội thất và chế tạo khác1,23,74,5
   Thiết bị điện0,73,03,6
Dịch vụ (kể cả xây dựng)19,615,59,7
Theo thị trường nhập khẩu   
Hoa Kỳ5,816,425,7
Trung Quốc4,18,517,6
Liên minh châu Âu (27 nước)16,913,410,3
Nhật Bản22,710,07,4
Hàn Quốc3,35,15,7
Nguồn: OECD GHGFP, 2025 và tính toán của tác giả.

4.3. Phân rã biến động phát thải và kiểm tra độ nhạy

Giai đoạn 1990 – 2022, PBE tăng thêm 301,4 triệu tấn, trong khi CBE tăng thêm 204,6 triệu tấn (xem Bảng 3). Thu nhập bình quân đầu người là thành phần đóng góp lớn nhất ở cả PBE và CBE, lần lượt 178,1 và 144,1 triệu tấn; dân số đóng góp 46,6 và 37,7 triệu tấn. Thành phần cường độ phát thải đóng góp 76,7 triệu tấn, tức 25,5% mức tăng PBE, nhưng chỉ 22,9 triệu tấn, tức 11,2% mức tăng CBE. Chênh lệch này tương ứng với việc cường độ PBE/GDP tăng nhanh hơn CBE/GDP: từ 0,245 và 0,168 kg CO2 trên mỗi USD tổng sản phẩm trong nước (theo sức mua tương đương) năm 2000 lên 0,387 và 0,273 kg năm 2022.

Theo giai đoạn, thành phần cường độ đóng góp 8,2 triệu tấn vào mức tăng PBE nhưng -6,8 triệu tấn đối với CBE trong giai đoạn 1990 – 2000; con số này chịu ảnh hưởng của mức giảm đột ngột của CBE năm 2000. Giai đoạn 2000 – 2010, thành phần cường độ đóng góp gần như bằng nhau ở hai bên (28,9 và 29,2 triệu tấn), và tỷ lệ EET/PBE giảm từ 31,2% xuống 22,5%. Giai đoạn 2010 – 2022, khoảng cách xuất hiện trở lại: 30,0 triệu tấn đối với PBE nhưng chỉ 7,1 triệu tấn đối với CBE, cùng thời gian EET tăng từ 31,4 triệu tấn năm 2010 lên 94,8 triệu tấn năm 2022 và tỷ trọng than trong phát thải tăng từ 34,0% lên 54,9%.

Bảng 3. Phân rã LMDI mức thay đổi phát thải CO2 của Việt Nam theo ba thành phần (triệu tấn CO2)

Giai đoạnΔEDân sốThu nhập bình quân đầu ngườiCường độ phát thảiCường độ
(% ΔE)
Phát thải theo sản xuất
(PBE)
     
1990–200032,65,718,78,225,2
2000–201085,611,345,428,933,8
2010–2022183,128,6124,530,016,4
Cả giai đoạn 1990–2022301,446,6178,176,725,5
Phát thải theo tiêu dùng
(CBE)
     
1990–200013,84,915,8−6,8−49,1
2000–201071,18,333,529,241,1
2010–2022119,721,091,67,15,9
Cả giai đoạn 1990–2022204,637,7144,122,911,2
Nguồn: tính toán của tác giả từ Global Carbon Budget 2025.

Bảng 4 trình bày kết quả phân rã với các khoảng thời gian khác nhau. Tỷ trọng đóng góp của thành phần cường độ vào mức tăng PBE dao động từ 13,6% (2018 – 2022) đến 35,8% (2010 – 2019), và đối với CBE từ −7,6% đến 30,2%. Ở tất cả các khoảng bắt đầu từ năm 1990, 1997 hoặc 2010 và ở cả hai trường hợp lấy trung bình ba năm, tỷ trọng đóng góp của cường độ vào PBE đều lớn hơn vào CBE; ngoại lệ duy nhất là khoảng 2000 – 2022 (25,6% so với 26,7%), có năm đầu là năm CBE giảm đột ngột. Như vậy, kết luận cường độ phát thải làm PBE tăng nhanh hơn CBE không phụ thuộc vào năm được chọn, còn độ lớn của mức đóng góp thì có.

Bảng 4. Đóng góp của thành phần cường độ phát thải theo các khoảng thời gian khác nhau


Khoảng thời gian
ΔPBE
(triệu tấn)
Cường độ, PBE
(% ΔPBE)
ΔCBE
(triệu tấn)
Cường độ, CBE
(% ΔCBE)
Chênh lệch
(điểm %)
1990–2022 (cơ sở)301,425,5204,611,214,3
1997–2022277,224,0182,88,115,9
2000–2022268,725,6190,826,7−1,1
2010–2018115,917,480,810,56,9
2010–2019199,735,8136,730,25,6
2010–2021174,623,1114,113,49,7
2010–2022183,116,4119,75,910,5
2018–202267,213,638,9−7,621,2
1991–2021,
trung bình 3 năm
311,830,7213,518,012,7
2010–2021,
trung bình 3 năm
194,326,7129,519,07,7
Nguồn: tính toán của tác giả từ Global Carbon Budget 2025. Hai dòng cuối lấy giá trị đầu kỳ và cuối kỳ là trung bình của ba năm liền kề (ví dụ năm 2021 là trung bình 2020 – 2022) để giảm ảnh hưởng của các biến động đột ngột 2019 – 2021.

Thành phần cường độ trong phép phân rã là cường độ của toàn nền kinh tế, gộp tác động của cơ cấu ngành, cơ cấu năng lượng và hiệu suất sử dụng năng lượng, và không tách riêng khu vực sản xuất hàng xuất khẩu. Cơ cấu nhiên liệu chuyển động cùng chiều với chênh lệch cường độ: tỷ trọng than trong tổng phát thải giảm từ 51,9% năm 1990 xuống 34,0% năm 2010, sau đó tăng trở lại và đạt 60,2% năm 2023, trong khi tỷ trọng dầu giảm gần một nửa.

4.4. So sánh quốc tế

Năm 2023, tỷ lệ EET/PBE của Việt Nam (28,7%) cao hơn nhiều so với Ấn Độ (17,0%) và Trung Quốc (10,8%), hai nền kinh tế cũng xuất khẩu nhiều hàng chế tạo. Trong khu vực, Indonesia gần cân bằng (4,5%), còn Malaysia (-3,7%), Thái Lan (-15,4%) và Hàn Quốc (-20,3%) là nước nhập khẩu ròng các-bon. Các thị trường nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ (-10,4%), Nhật Bản (-15,7%) và Đức (-29,4%) có cán cân âm, phù hợp với Davis & Caldeira (2010). Như vậy trong số các nền kinh tế Đông Á và Đông Nam Á tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam là trường hợp có cán cân dương cao nhất.

Bảng 5 liệt kê các nền kinh tế có tỷ lệ EET/PBE cao nhất năm 2023 trong 120 nền kinh tế có số liệu CBE. Năm nền kinh tế đứng trên Việt Nam là Bahrain, Lào, Trinidad và Tobago, Qatar và Brunei; cả năm đều xuất khẩu chủ yếu nhiên liệu, điện hoặc khoáng sản và có quy mô phát thải nhỏ hơn nhiều: bốn nước phát thải dưới 40 triệu tấn, Qatar phát thải 119,5 triệu tấn so với 347,4 triệu tấn của Việt Nam. Trong số các nền kinh tế có phát thải lãnh thổ từ 100 triệu tấn trở lên, chỉ Qatar có tỷ lệ cao hơn Việt Nam. Trường hợp Việt Nam khác biệt ở sự kết hợp giữa quy mô phát thải lớn, tỷ lệ cán cân cao và nguồn gốc chế biến chế tạo của cán cân; tỷ lệ EET/PBE đo tỷ trọng chứ không đo quy mô, và EET của Trung Quốc năm 2023 (1.315 triệu tấn) vẫn gấp hơn mười ba lần Việt Nam.

Bảng 5. Các nền kinh tế có tỷ lệ cán cân phát thải CO2 cao nhất, năm 2023

Thứ tựNền kinh tếPBE
(triệu tấn)
EET/PBE (%)Đặc điểm xuất khẩu
1Bahrain38,843,1Nhiên liệu, nhôm
2Lào24,238,6Điện, khoáng sản
3Trinidad và Tobago35,537,1Khí, hóa dầu
4Qatar119,531,2Khí hóa lỏng
5Brunei12,529,0Dầu khí
6Việt Nam347,428,7Chế biến chế tạo
7Kazakhstan286,225,7Nhiên liệu, kim loại
8Nam Phi436,625,5Khoáng sản, kim loại
9Nga1.733,118,9Nhiên liệu, kim loại
10Mông Cổ44,217,2Khoáng sản, than
11Ấn Độ3.062,817,0Chế biến chế tạo, lọc dầu
Nguồn: tính toán của tác giả từ Global Carbon Budget 2025.

5. Hàm ý chính sách

Thứ nhất, chỉ tiêu phát thải theo tiêu dùng nên được bổ sung vào hệ thống thống kê quốc gia và công bố song song với kiểm kê theo lãnh thổ, như khuyến nghị của Peters & cộng sự (2011). Kiểm kê theo lãnh thổ vẫn là cơ sở cho các cam kết quốc tế, nhưng không cho biết phần phát thải phục vụ nhu cầu tiêu dùng ở nước ngoài. Một ước lượng chính thức dựa trên bảng vào ra của Việt Nam, với số liệu phát thải theo ngành của kiểm kê quốc gia, sẽ có độ tin cậy cao hơn các ước tính quốc tế hiện có và giúp theo dõi phần này theo thời gian.

Thứ hai, phần phát thải phục vụ xuất khẩu cần được tính đến khi thiết kế chính sách giảm phát thải trong nước và khi đàm phán hỗ trợ quốc tế. Theo cách hạch toán hiện hành, gần ba phần mười phát thải CO2 lãnh thổ mà Việt Nam cam kết cắt giảm thực chất phục vụ tiêu dùng ở nước khác (tính ròng), phần lớn ở các nền kinh tế có thu nhập cao hơn và cường độ các-bon thấp hơn. Kết quả này cung cấp cơ sở để xem xét cơ chế chia sẻ chi phí chuyển đổi với các đối tác nhập khẩu, thông qua tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ, và để việc phân bổ hạn ngạch theo Quyết định số 263/QĐ-TTg tính đến tỷ trọng sản lượng dành cho xuất khẩu của từng ngành, đặc biệt là thép, xi măng và dệt may, thay vì phân bổ thuần túy theo lịch sử phát thải (Thủ tướng Chính phủ, 2026).

Thứ ba, giảm hệ số phát thải của điện lưới, tức lượng CO2 phát sinh trên mỗi kWh điện, là biện pháp tác động đồng thời tới phát thải lãnh thổ và tới cường độ các-bon của hàng xuất khẩu. Cơ sở của hàm ý này nằm ở hai kết quả trên. Một là, phần cường độ phát thải tăng thêm trong giai đoạn 2010 – 2022 đi cùng với tỷ trọng than trong tổng phát thải tăng từ 34,0% lên 60,2%, mà than ở Việt Nam được dùng chủ yếu để phát điện. Hai là, hai ngành có tỷ trọng lớn nhất trong phát thải hàm chứa trong xuất khẩu, dệt may – da giày và điện tử – máy tính, là những ngành sử dụng nhiều điện và ít đốt nhiên liệu trực tiếp. Vì vậy, giảm hệ số phát thải của điện lưới sẽ làm giảm cường độ các-bon của hầu hết hàng xuất khẩu mà không đòi hỏi từng ngành phải thay đổi công nghệ. Với các nhóm hàng mà CBAM tính cả phát thải gián tiếp từ điện, hệ số này còn trực tiếp quyết định mức phí phải nộp.

6. Kết luận

Nghiên cứu so sánh phát thải CO2 theo sản xuất và theo tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2023 để trả lời câu hỏi mà hạch toán theo lãnh thổ bỏ ngỏ: bao nhiêu phần phát thải trên lãnh thổ thực chất phục vụ tiêu dùng ở nước ngoài. Từ cuối những năm 1990, Việt Nam đã chuyển từ nhập khẩu ròng sang xuất khẩu ròng các-bon và cán cân dương duy trì liên tục từ đó, mở rộng trở lại từ năm 2017. Khác với các nền kinh tế có tỷ lệ cán cân cao hơn, cán cân dương của Việt Nam bắt nguồn từ công nghiệp chế biến chế tạo, trong đó dệt may – da giày và điện tử chiếm tỷ trọng lớn nhất và sắt thép tăng nhanh nhất. Phát thải theo sản xuất tăng nhanh hơn phát thải theo tiêu dùng chủ yếu do cường độ phát thải của nền kinh tế tăng cùng với tỷ trọng than trong cơ cấu nhiên liệu.

Từ các kết quả này, nghiên cứu đề xuất bổ sung chỉ tiêu phát thải theo tiêu dùng vào hệ thống thống kê quốc gia, tính đến phần phát thải phục vụ xuất khẩu khi phân bổ hạn ngạch và đàm phán hỗ trợ quốc tế, và giảm hệ số phát thải của điện lưới vì các ngành xuất khẩu lớn nhất đều sử dụng nhiều điện. Hạn chế của nghiên cứu là số liệu phát thải theo tiêu dùng được ước tính từ bảng vào ra liên quốc gia nên kém chính xác hơn kiểm kê lãnh thổ, và phép phân rã chưa tách được phần do cơ cấu ngành với phần do cơ cấu nhiên liệu. Nghiên cứu tiếp theo có thể phân rã ở cấp ngành và so sánh cường độ các-bon của hàng xuất khẩu Việt Nam với cùng loại hàng tại các thị trường nhập khẩu chính.

Tài liệu tham khảo:
Andrew, R. M (2020). A comparison of estimates of global carbon dioxide emissions from fossil carbon sources. Earth System Science Data, 12(2), 1437–1465. https://doi.org/10.5194/essd-12-1437-2020.
Ang, B. W (2005). The LMDI approach to decomposition analysis: A practical guide. Energy Policy, 33(7), 867–871. https://doi.org/10.1016/j.enpol.2003.10.010.
Copeland, B. R., & Taylor, M. S (2004). Trade, growth, and the environment. Journal of Economic Literature, 42(1), 7-71. https://doi.org/10.1257/002205104773558047.
Cục Thống kê (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2024. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2025/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2024/.
Davis, S. J., & Caldeira, K (2010). Consumption-based accounting of CO2 emissions. Proceedings of the National Academy of Sciences, 107(12), 5687–5692. https://doi.org/10.1073/pnas.0906974107.
European Union (2023). Regulation (EU) 2023/956 of the European Parliament and of the Council of 10 May 2023 establishing a carbon border adjustment mechanism. Official Journal of the European Union, L 130, 52–104. https://data.europa.eu/eli/reg/2023/956/oj.
Friedlingstein, P., O’Sullivan, M., Jones, M. W., Andrew, R. M., Bakker, D. C. E., Hauck, J., Landschützer, P., Le Quéré, C., Li, H., Luijkx, I. T., Peters, G. P., Peters, W., Pongratz, J., Schwingshackl, C., Sitch, S., Canadell, J. G., Ciais, P., Aas, K., Alin, S. R., … Zeng, J (2026). Global Carbon Budget 2025. Earth System Science Data, 18(5), 3211–3288. https://doi.org/10.5194/essd-18-3211-2026.
Jakob, M., & Marschinski, R (2013). Interpreting trade-related CO2 emission transfers. Nature Climate Change, 3(1), 19–23. https://doi.org/10.1038/nclimate1630.
Kander, A., Jiborn, M., Moran, D. D., & Wiedmann, T. O (2015). National greenhouse-gas accounting for effective climate policy on international trade. Nature Climate Change, 5(5), 431–435. https://doi.org/10.1038/nclimate2555.
Kaya, Y (1989). Impact of carbon dioxide emission control on GNP growth: Interpretation of proposed scenarios. Intergovernmental Panel on Climate Change, Response Strategies Working Group.
Meng, B., Peters, G. P., Wang, Z., & Li, M (2018). Tracing CO2 emissions in global value chains. Energy Economics, 73, 24-42. https://doi.org/10.1016/j.eneco.2018.05.013.
Nguyen, P. T (2022). Carbon emissions versus value-added in export-driven countries: Case of Vietnam. Journal of Economic Structures, 11, Article 12. https://doi.org/10.1186/s40008-022-00272-w.
OECD (2025). Greenhouse Gas Footprints (GHGFP) 2025 edition: Principal indicators; Emissions embodied in bilateral trade. OECD Data Explorer. https://data-explorer.oecd.org.
Peters, G. P (2008). From production-based to consumption-based national emission inventories. Ecological Economics, 65(1), 13–23. https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2007.10.014.
Peters, G. P., & Hertwich, E. G (2008). CO2 embodied in international trade with implications for global climate policy. Environmental Science & Technology, 42(5), 1401–1407. https://doi.org/10.1021/es072023k.
Peters, G. P., Minx, J. C., Weber, C. L., & Edenhofer, O (2011). Growth in emission transfers via international trade from 1990 to 2008. Proceedings of the National Academy of Sciences, 108(21), 8903–8908. https://doi.org/10.1073/pnas.1006388108.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 09/02/2026 về phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025 – 2026.
Wang, H., & Ang, B. W (2018). Assessing the role of international trade in global CO2 emissions: An index decomposition analysis approach. Applied Energy, 218, 146–158. https://doi.org/10.1016/j.apenergy.2018.02.180.
Yamano, N., & Guilhoto, J (2020). CO2 emissions embodied in international trade and domestic final demand: Methodology and results using the OECD Inter-Country Input-Output Database (OECD Science, Technology and Industry Working Papers No. 2020/11). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/8f2963b8-en.