Kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc trong thích ứng và tận dụng các thay đổi mang tính thời đại của thế giới

Japan’s and South Korea’s experiences in adapting to and capitalizing on global megatrends

PGS. TS Đậu Hương Nam
ThS. Đinh Trung Sơn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: Namhdau@gmail.com; dinhtrungson.ktct@hcma.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc trong thích ứng và tận dụng một số thay đổi mang tính thời đại của thế giới, tập trung vào khủng hoảng năng lượng, già hóa dân số và cách mạng công nghiệp 4.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hai quốc gia đã chủ động điều chỉnh chính sách năng lượng và cơ cấu kinh tế; cải cách chính sách dân số, lao động và an sinh xã hội; đồng thời, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và phát triển các công nghệ chiến lược. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kinh nghiệm có giá trị cho Việt Nam nhằm chuẩn bị ứng phó với những thay đổi của thế giới trong thời gian tới.

Từ khóa: Kinh nghiệm; Nhật Bản; Hàn Quốc; thay đổi mang tính thời đại.

Abstract: This article analyses the experiences of Japan and South Korea in adapting to and capitalizing on several major global megatrends, with a particular focus on the energy crisis, population ageing, and the Fourth Industrial Revolution. The findings indicate that both countries have proactively adjusted their energy policies and economic structures; reformed population, labour, and social security policies; and promoted science and technology, digital transformation, and the development of strategic technologies. On this basis, the article draws several lessons for Vietnam to help the country prepare for and respond to global changes in the coming period.

Keywords: Experiences; Japan; South Korea; global megatrends.

1. Đặt vấn đề

Bước sang thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục chứng kiến nhiều biến động và xu hướng phát triển mới có phạm vi ảnh hưởng rộng, tác động sâu sắc tới các điều kiện phát triển, phương thức sản xuất, cơ cấu xã hội và phương thức quản trị của các quốc gia. Một số thay đổi diễn ra dưới dạng các cú sốc đột ngột, trong khi một số khác là những chuyển dịch cấu trúc kéo dài, song đều đặt ra yêu cầu điều chỉnh mang tính dài hạn đối với các quốc gia. Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, được đánh giá là cuộc suy thoái toàn cầu sâu sắc nhất kể từ Đại Suy thoái 1929 – 1933 (IMF, 2009), gây ra sự suy giảm mạnh về sản lượng, thương mại và dòng vốn trên phạm vi toàn thế giới. Sau cuộc khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng trung bình 7 điểm phần trăm và giai đoạn suy giảm này kéo dài hơn 4 năm (Reinhart, C. M., & Rogoff, K. S., 2009). Bên cạnh đó, già hóa dân số và biến đổi khí hậu tiếp tục gia tăng về quy mô và mức độ tác động, trở thành vấn đề mang tính toàn cầu và đặt ra nhiều thách thức với các quốc gia.

Trong đó, xu hướng già hóa dân số toàn cầu đang diễn ra nhanh chóng, với dự kiến quy mô người từ 60 tuổi trở lên ước tính đạt 1,4 tỷ vào năm 2030 và tiếp tục tăng lên 2,1 tỷ vào năm 2050 (WHO, 01/10/2025), sẽ làm gia tăng áp lực lên thị trường lao động, hệ thống y tế, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế. Biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp và tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, an ninh lương thực, sức khỏe, sinh kế và khả năng chống chịu của các nền kinh tế. Cùng với đó, cách mạng công nghiệp 4.0 và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi nhanh chóng phương thức sản xuất, tiêu dùng và tổ chức xã hội. Một mặt, công nghệ mới tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí và hình thành các sản phẩm, dịch vụ, ngành nghề và mô hình kinh doanh mới. Mặc khác, sự xuất hiện của công nghệ này cũng làm gia tăng nguy cơ mất việc làm, phân cực thị trường lao động, mở rộng khoảng cách công nghệ và bất bình đẳng, đồng thời, tạo ra những rủi ro mới về quyền riêng tư, an ninh mạng và thông tin sai lệch. Những thay đổi trên đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia, đòi hỏi chính quyền các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển, thể chế và năng lực quản trị trong dài hạn. Thực tiễn cho thấy, một số quốc gia đã chủ động chuyển các sức ép và thay đổi của môi trường quốc tế thành động lực cải cách, đổi mới công nghệ, tái cơ cấu nền kinh tế và hình thành lợi thế phát triển mới.

2. Kinh nghiệm của các quốc gia

2.1. Nhật Bản

Thứ nhất, bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phụ thuộc vào dầu mỏ. Giai đoạn 1955 – 1973, Nhật Bản đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9,3%/năm (Bank of Japan, 31/10/2010); GDP bình quân đầu người danh nghĩa tăng khoảng 11 lần, từ 97 nghìn yên lên 1,07 triệu yên (Cabinet Office.nd.). Nền kinh tế chuyển mạnh sang công nghiệp, với tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 15% (FRED, 10/6/2013). Tuy nhiên, sự phụ thuộc lớn vào dầu nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Đông, khiến Nhật Bản chịu tác động nặng nề của khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Giá năng lượng tăng làm chi phí sản xuất gia tăng, lạm phát vượt 20% năm 1974 (Cabinet Office.nd); sản xuất suy giảm, nền kinh tế rơi vào tăng trưởng âm. Cú sốc này bộc lộ tính dễ tổn thương của mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu, đặt ra yêu cầu cần điều chỉnh chính sách năng lượng và cơ cấu công nghiệp.

Sự thiếu hụt nguồn cung còn gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của các nhà máy, trong khi tâm lý lo ngại thúc đẩy người dân tích trữ hàng hóa. Diễn biến này cho thấy, cú sốc năng lượng tác động tới sản xuất và đời sống, nên các biện pháp ổn định trước mắt cần đi cùng điều chỉnh dài hạn.

Chính phủ kết hợp kiểm soát giá và nguồn cung với hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ tiết kiệm năng lượng và nguồn năng lượng thay thế. Dự án Ánh dương (Sunshine) năm 1974 tập trung vào các nguồn thay thế dầu mỏ; Dự án Ánh trăng (Moonlight) năm 1978 hướng tới công nghệ tiết kiệm năng lượng (Mai Anh Thư, 09/8/2026). Chính sách năng lượng năm 1975 xác định ưu tiên an ninh năng lượng, giảm phụ thuộc vào dầu Trung Đông và phát triển các nguồn thay thế, trong đó có điện hạt nhân, nhiệt điện than và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG).

Quá trình chuyển đổi được quy định thông qua Luật về sử dụng năng lượng hợp lý năm 1979, pháp luật về năng lượng thay thế và trợ cấp khuyến khích ngành điện giảm sử dụng dầu. Đồng thời, Nhật Bản mở rộng dự trữ dầu tại các doanh nghiệp nhập khẩu, lọc dầu và phân phối, sau đó điều chỉnh theo tình hình phát triển. Các biện pháp này góp phần giảm tác động của khủng hoảng dầu mỏ năm 1979 và thay đổi cơ cấu phát điện: nhiệt điện LNG, nhiệt điện than và điện hạt nhân dần giữ vai trò lớn hơn (Hình 1). Sau thảm họa hạt nhân Fukushima năm 2011, an ninh năng lượng tiếp tục đặt ra yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung. Định hướng phát triển về sau đặt mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 40 – 50% vào năm 2040 (Mai Anh Thư, 09/8/2026). Kinh nghiệm nổi bật là kết hợp tiết kiệm năng lượng, phát triển công nghệ, đa dạng hóa nguồn cung và dự trữ chiến lược để giảm tính dễ tổn thương.

Hình 1. Xu hướng công suất phát điện (đối với các công ty điện lực thông thường)

Nguồn: Agency for Natural Resources and Energy (ANRE) (2016), Energy White Paper 2016, Ministry of Economy, Trade and Industry (METI), Japan.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng thâm dụng tri thức. Giá năng lượng tăng và cạnh tranh từ các nước đang phát triển thúc đẩy Nhật Bản chuyển vốn, lao động khỏi những ngành thâm dụng năng lượng sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn, như máy móc, ô tô, điện – điện tử. Định hướng phát triển công nghiệp “thâm dụng tri thức” đề cập từ năm 1971 được đẩy mạnh sau khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Chính phủ sử dụng hỗ trợ tài chính và thuế để phát triển các ngành mục tiêu, đồng thời hỗ trợ những ngành gặp khó khăn thông qua hợp tác, đầu tư thiết bị và đổi mới công nghệ (Economic Planning Agency, 1992).

Chính sách cơ cấu được triển khai theo hai hướng:

Một là, xử lý công suất dư thừa và hỗ trợ chuyển đổi ở các ngành suy giảm. Luật về các biện pháp tạm thời nhằm ổn định các ngành công nghiệp suy thoái được chỉ định năm 1978 hỗ trợ 14 ngành, trong đó có thanh lý thiết bị dư thừa. Luật về các biện pháp tạm thời cải thiện cơ cấu công nghiệp đặc thù năm 1983 mở rộng hỗ trợ lên 26 ngành, bổ sung các giải pháp tài chính và đào tạo nghề cho lao động mất việc.

Hai là, hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và năng lực sản xuất của các ngành có triển vọng. Luật về các biện pháp tạm thời nhằm thúc đẩy các ngành công nghiệp máy móc và thông tin được chỉ định năm 1978 tạo cơ sở hỗ trợ máy móc, điện tử và thông tin. Như vậy, điều chỉnh cơ cấu không chỉ là rút nguồn lực khỏi các ngành kém hiệu quả mà còn gắn với hình thành năng lực công nghệ và sản xuất mới. Sự kết hợp giữa xử lý ngành suy giảm, hỗ trợ người lao động và đầu tư vào ngành triển vọng góp phần chuyển cơ cấu công nghiệp sang những lĩnh vực có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn.

Trong quá trình đó, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới thiết bị và phát triển công nghệ được gắn với nâng năng suất ngành chế tạo. Chính sách đối với ngành suy giảm và ngành triển vọng được triển khai song song, tạo điều kiện chuyển dịch nguồn lực mà vẫn quan tâm đến các doanh nghiệp và người lao động chịu tác động.

Ba là, thích ứng với già hóa thông qua an sinh và thị trường lao động. Nhật Bản bước vào quá trình già hóa từ năm 1970, khi người từ 65 tuổi trở lên chiếm khoảng 7% dân số; tỷ lệ này đến năm 2025 đã gần 30% (UNFPA.nd.). Chính phủ từng mở rộng hỗ trợ khám chữa bệnh cho người cao tuổi, triển khai Kế hoạch Vàng (Gold Plan) phát triển dịch vụ y tế và phúc lợi, đồng thời thực hiện bảo hiểm chăm sóc dài hạn từ năm 2000, cung cấp dịch vụ tại nhà và cơ sở điều dưỡng.

Tuy nhiên, già hóa tiếp tục làm tăng sức ép lên y tế, lương hưu và an sinh xã hội, đồng thời thu hẹp nguồn lao động. Dữ liệu so sánh của OECD cho thấy, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động giảm và năng suất lao động tương đối thấp là những yếu tố bất lợi đối với thu nhập bình quân đầu người của Nhật Bản (Hình 2). Vì vậy, ứng phó với già hóa đòi hỏi sự phối hợp giữa chính sách chăm sóc, bảo đảm thu nhập và duy trì khả năng tham gia lao động.

Hình 2. Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động giảm đã làm giảm GDP bình quân đầu người
A. Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (20-64 tuổi, % tổng dân số)B. Năng suất lao động, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và GDP bình quân đầu người (Nhóm nửa trên OECD = 100)

Nguồn: OECD Economic Surveys: Japan 2026 (OECD, 13/5/2026).

Đạo luật cơ bản về các biện pháp đối phó với xã hội già hóa năm 1995 tạo khuôn khổ ứng phó có hệ thống. Cùng với đó, Nhật Bản điều chỉnh tuổi hưởng lương hưu và mở rộng cơ hội việc làm cho người cao tuổi. Từ năm 1994, nước này quyết định nâng dần tuổi hưởng từng phần lương hưu lên 65 tuổi, với lộ trình hoàn tất khác nhau cho nam và nữ (Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản.nd.). Các điều chỉnh pháp luật về việc làm tiếp tục hướng tới bảo đảm cơ hội làm việc đến 65 tuổi và mở rộng cơ hội đến 70 tuổi (Quốc Đạt, 24/3/2024). Trọng tâm là tạo điều kiện để người cao tuổi có khả năng và nguyện vọng tiếp tục đóng góp cho nền kinh tế.

Để bổ sung nguồn nhân lực, Nhật Bản đồng thời thúc đẩy sự tham gia lao động của phụ nữ, từng bước nới điều kiện tiếp nhận lao động nước ngoài có kỹ năng và triển khai chương trình thực tập sinh. Từ năm 2017, thời gian thực tập có thể được kéo dài từ 3 lên 5 năm; năm 2019, hệ thống lao động có kỹ năng đặc định (Specified Skilled Worker) được thiết lập để tiếp nhận người có kỹ năng cần thiết vào các ngành thiếu nhân lực. Các biện pháp này cho thấy, chính sách dân số được gắn với tổ chức lại thị trường lao động, thay vì chỉ mở rộng phúc lợi.

Việc nâng tuổi hưởng lương hưu được thực hiện theo từng phần, gồm phần cố định và phần theo thu nhập; lộ trình hoàn tất đối với nam giới là năm 2025 và nữ giới là năm 2030. Cần phân biệt điều chỉnh điều kiện hưởng lương hưu với các biện pháp duy trì việc làm: hai nhóm chính sách có liên hệ nhưng tác động qua những cơ chế khác nhau.

Bốn là, ứng dụng công nghệ để nâng năng suất và giải quyết thiếu hụt lao động.Từ đầu năm 2000, Nhật Bản chú trọng nâng năng suất và bảo đảm cả số lượng, chất lượng nguồn nhân lực để giảm sức ép của già hóa lên tăng trưởng. Chính phủ áp dụng ưu đãi thuế cho đầu tư thiết bị nâng cao năng suất; dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, định hướng đầu tư vào công nghệ mới, tự động hóa và chuyển đổi số tiếp tục được thúc đẩy (OECD, 2026).

Trong ứng phó với cách mạng công nghiệp 4.0, Nhật Bản gắn công nghệ với giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội. Định hướng xã hội 5.0 thúc đẩy ứng dụng AI, robot và dữ liệu lớn trong sản xuất, dịch vụ, đồng thời phát triển đô thị thông minh, đào tạo nhân lực số và tăng cường nghiên cứu, phát triển (R&D). Các chiến lược về robot, công nghiệp ô tô và AI cụ thể hóa định hướng này. Năm 2023, đề xuất của Nhật Bản về quản lý vận hành an toàn robot dịch vụ được thể hiện trong một tiêu chuẩn quốc tế mới. Điểm đáng chú ý là mối liên hệ giữa nâng năng lực công nghệ và thích ứng với già hóa: tự động hóa giúp giảm sức ép thiếu lao động, còn đào tạo và chuyển đổi số tạo điều kiện cải thiện năng suất. Công nghệ vừa là lĩnh vực phát triển mới, vừa là công cụ xử lý những hạn chế cơ cấu của nền kinh tế.

2.2. Hàn Quốc

Thứ nhất, kết hợp tiết kiệm năng lượng với đa dạng hóa nguồn cung. Là nước phụ thuộc lớn vào dầu nhập khẩu, Hàn Quốc chịu sức ép về thiếu hụt năng lượng, chi phí sản xuất, lạm phát và cán cân thanh toán khi khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 xảy ra. Cú sốc đến đúng lúc nước này chuyển từ phát triển dựa vào xuất khẩu sang đẩy mạnh công nghiệp nặng và hóa chất. Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ, tín dụng và quản lý nhập khẩu để hạn chế tác động trước mắt, đồng thời phát động tiết kiệm năng lượng trên toàn quốc.

Các biện pháp tiết kiệm được tổ chức theo kế hoạch, ưu tiên năng lượng cho những ngành công nghiệp trọng yếu, hạn chế chiếu sáng và biển quảng cáo, khuyến khích sử dụng phương tiện tiết kiệm năng lượng. Ủy ban Thúc đẩy tiết kiệm năng lượng được thành lập để triển khai và kiểm tra việc thực hiện của các bộ, ngành. Cách tổ chức này gắn mục tiêu tiết kiệm với phân bổ nguồn lực cho sản xuất trong điều kiện nguồn cung bị hạn chế.

Về dài hạn, kế hoạch “Các biện pháp cho chính sách năng lượng dài hạn” tháng 5/1974 xác định hướng giảm phụ thuộc dầu mỏ và phát triển nguồn năng lượng trong nước. Trong những năm tiếp theo, Hàn Quốc tiếp tục đa dạng hóa nguồn năng lượng và xây dựng dự trữ dầu để ứng phó gián đoạn nguồn cung. Vai trò của khí tự nhiên và điện hạt nhân tăng lên trong cơ cấu năng lượng (Hình 3), phản ánh sự chuyển dịch từ xử lý thiếu hụt trước mắt sang củng cố an ninh năng lượng lâu dài. Các biện pháp tiết kiệm trong sinh hoạt và công tác, như tắt đèn không cần thiết, khuyến khích đi bộ và sử dụng tàu hỏa, bổ sung cho việc ưu tiên năng lượng đối với sản xuất. Nhờ có đầu mối phối hợp và kiểm tra, yêu cầu tiết kiệm được cụ thể hóa thành trách nhiệm triển khai của các bộ, ngành.

Hình 3. Cơ cấu sử dụng năng lượng sơ cấp của Hàn Quốc theo nguồn (1965 – 2025)

Nguồn: https://ourworldindata.org/profile/energy/south-korea

Thứ hai, nâng cấp công nghiệp và tận dụng cơ hội thị trường quốc tế. Trước khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, Hàn Quốc tiếp tục mở rộng đầu tư, vay vốn nước ngoài và phát triển sáu ngành công nghiệp nặng, hóa chất mũi nhọn: thép, hóa dầu, đóng tàu, máy móc, kim loại màu và điện tử. Quá trình này thúc đẩy chuyển dịch từ các ngành thâm dụng lao động sang sản phẩm có hàm lượng vốn và kỹ năng cao hơn, nâng năng lực sản xuất và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, tập trung vốn vào một số ngành cũng dẫn đến dư thừa công suất và bất cập trong phân bổ nguồn lực. Các hạn chế bộc lộ rõ hơn sau cú sốc dầu mỏ năm 1979, đòi hỏi chính sách phải điều chỉnh.

Đồng thời, Hàn Quốc tận dụng nhu cầu xây dựng hạ tầng tăng mạnh tại Trung Đông để mở rộng xuất khẩu dịch vụ. Tháng 12/1973, doanh nghiệp Hàn Quốc bắt đầu tham gia thị trường này với hợp đồng xây dựng đường cao tốc trị giá 24,1 triệu USD tại Ả Rập Xê Út; quy mô hợp đồng tiếp tục tăng mạnh trong những năm sau (Sooyong Kim, 1988). Chính phủ hỗ trợ bằng hoạt động ngoại giao, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế đối với vật tư, thiết bị và đào tạo nhân lực kỹ thuật, kinh doanh. Xuất khẩu dịch vụ xây dựng tạo thêm ngoại tệ, giảm sức ép cán cân thanh toán và hỗ trợ nhập khẩu máy móc, nguyên liệu phục vụ công nghiệp hóa.

Kinh nghiệm ở đây là kết hợp nâng cấp năng lực sản xuất trong nước với khai thác cơ hội thị trường quốc tế phát sinh từ chính cú sốc năng lượng. Đồng thời, những bất cập về công suất và phân bổ vốn cho thấy, chính sách công nghiệp cần có khả năng điều chỉnh khi điều kiện phát triển thay đổi.

Việc tiếp tục công nghiệp hóa cũng hướng tới nâng năng lực tự chủ về nguyên liệu. Tuy nhiên, kinh nghiệm này cần được nhìn nhận cùng với chi phí của sự tập trung đầu tư: năng lực sản xuất tăng không tự động bảo đảm phân bổ vốn hiệu quả, nhất là khi thị trường và chi phí đầu vào biến động mạnh.

Thứ ba, gắn chính sách dân số với việc làm và chất lượng cuộc sống. Hàn Quốc bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2000 với tốc độ nhanh làm gia tăng áp lực lên lương hưu, y tế và an sinh xã hội. Từ năm 2006, Chính phủ triển khai các kế hoạch 5 năm ứng phó với mức sinh thấp và già hóa: tăng chế độ nghỉ phép có hưởng lương, hỗ trợ giáo dục và chăm sóc trẻ, điều chỉnh lương hưu, phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi.

Chính sách việc làm chú trọng đào tạo lại và hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người cao tuổi. Năm 2024, tỷ lệ có việc làm ở nhóm 65 – 69 tuổi đạt 57%, so với mức trung bình khoảng 26% của OECD (OECD, 2025). Đây là chỉ dấu về mức độ tham gia lao động cao, song tự thân chưa đủ để kết luận về chất lượng việc làm hoặc hiệu quả toàn diện của chính sách an sinh.

Kế hoạch lần thứ tư (2021 – 2025) thể hiện sự mở rộng cách tiếp cận: từ chú trọng nâng mức sinh sang nâng chất lượng cuộc sống, thúc đẩy công bằng và đổi mới xã hội để thích ứng với biến đổi nhân khẩu học. Đồng thời, chuyển đổi số và tự động hóa được coi là hướng nâng năng suất trong điều kiện tỷ trọng người cao tuổi gia tăng. Kinh nghiệm nổi bật là phối hợp chính sách dân số, việc làm, chăm sóc và công nghệ trong một định hướng thích ứng dài hạn.

Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển công nghệ chiến lược. Chiến lược Đổi mới công nghiệp chế tạo 3.0 năm 2014 thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cùng các công nghệ mới vào sản xuất. Năm 2020, Hàn Quốc triển khai Chương trình kiến thiết số mới (Digital New Deal), thuộc Chương trình kiến thiết mới Hàn Quốc (Korean New Deal) để hỗ trợ phục hồi sau đại dịch Covid-19 và thúc đẩy chuyển đổi số dựa trên dữ liệu AI, mạng lưới kết nối. Chương trình sau đó được nâng cấp, mở rộng quy mô và tốc độ triển khai. Quy mô thị trường ngành dữ liệu tăng bình quân 11,9%/năm giai đoạn 2020 – 2022 (KDI, 18/4/2023); dự báo của IDC năm 2023 đặt mức tăng trưởng kinh tế số Hàn Quốc giai đoạn 2022 – 2027 ở khoảng 12,7%, cao hơn các nền kinh tế được so sánh trong Hình 4.

Song song với phổ biến công nghệ, Hàn Quốc tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực chiến lược. Tháng 8/2024, Bộ Khoa học và Công nghệ thông tin và Truyền thông công bố Kế hoạch tổng thể lần thứ nhất về phát triển các công nghệ trọng yếu và mới nổi (2024 – 2028), dự kiến đầu tư hơn 30 nghìn tỷ won trong 5 năm vào 12 lĩnh vực (MSIT, 26/8/2024). Các lĩnh vực gồm bán dẫn và màn hình; pin sạc; công nghệ di chuyển tiên tiến; điện hạt nhân thế hệ mới; công nghệ sinh học; hàng không vũ trụ và hàng hải; hydro; an ninh mạng; AI; truyền thông thế hệ mới; robot và sản xuất tiên tiến; công nghệ lượng tử.

Đối với AI, định hướng từ năm 2024 tập trung vào bốn nhiệm vụ: mở rộng năng lực bộ xử lý đồ họa (GPU) tiên tiến và thương mại hóa chip AI nội địa; thúc đẩy đầu tư tư nhân; ứng dụng AI trên quy mô toàn quốc; phát triển năng lực an toàn, bảo mật AI. Các dự án về chip thế hệ mới, AI vật lý và trung tâm dữ liệu tiếp tục cụ thể hóa định hướng đó. Cách tiếp cận của Hàn Quốc kết hợp hạ tầng tính toán, công nghệ lõi, vốn tư nhân và thị trường ứng dụng, qua đó hướng tới hình thành năng lực phát triển và triển khai AI đồng bộ hơn.

Hình 4. Dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế số giai đoạn 2022 – 2027 của Hàn Quốc và một số quốc gia khác

Nguồn: IDC (2023), How Asia Buys and Pays 2023: Tapping into Asia’s Regional Commerce Opportunities (Marketing-Interactive, 24/10/2023).

3. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Một là, nâng cao năng lực dự báo, nhận diện sớm những thay đổi và xây dựng cơ chế phản ứng chính sách linh hoạt, kịp thời. Những thay đổi mang tính thời đại thường có mức độ bất định cao, tác động đa chiều và không diễn ra theo cùng một cách thức. Vì vậy, yêu cầu quan trọng không phải là dự báo chính xác mọi biến động, mà là xây dựng được năng lực thường xuyên theo dõi các xu hướng dài hạn, nhận diện những điểm có thể tạo ra bước ngoặt và chuẩn bị các phương án ứng phó khác nhau. Kinh nghiệm từ khủng hoảng dầu mỏ cho thấy, Nhật Bản và Hàn Quốc đều triển khai các giải pháp ngắn hạn để kiểm soát tác động của cú sốc, nhưng đồng thời nhanh chóng hình thành những chính sách dài hạn về tiết kiệm năng lượng, đa dạng hóa nguồn cung và giảm mức độ phụ thuộc vào dầu mỏ. Điều này đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực nghiên cứu chiến lược, dự báo và cảnh báo sớm; đồng thời, thiết lập cơ chế phối hợp chính sách đủ linh hoạt để có thể phản ứng nhanh trước các cú sốc nhưng không làm mất đi định hướng phát triển dài hạn.

Hai là, cần kết hợp giữa ứng phó trước mắt với chủ động điều chỉnh cơ cấu trong dài hạn. Từ kinh nghiệm nổi bật từ Nhật Bản là khủng hoảng năng lượng không chỉ dẫn đến chính sách tiết kiệm năng lượng mà còn thúc đẩy chuyển dịch nguồn lực khỏi các ngành thâm dụng năng lượng sang các ngành có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Chính phủ vừa hỗ trợ xử lý những ngành suy giảm, công suất dư thừa và lao động bị ảnh hưởng, vừa hỗ trợ R&D và phát triển các ngành máy móc, điện tử và thông tin có triển vọng.

Hàn Quốc cũng cho thấy, khả năng biến sức ép thành cơ hội khi vẫn duy trì quá trình nâng cấp công nghiệp, đồng thời tận dụng nhu cầu xây dựng tăng mạnh tại Trung Đông để mở rộng xuất khẩu dịch vụ, thu ngoại tệ và hỗ trợ nhập khẩu máy móc, nguyên liệu phục vụ công nghiệp hóa. Bài học là chính sách thích ứng không nên dừng lại ở giảm thiểu thiệt hại, mà cần hướng tới tái cơ cấu nền kinh tế và hình thành năng lực phát triển mới, nhất là trong những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế.

Ba là, cần chuyển từ tư duy xử lý hậu quả sang chủ động thích ứng với những thay đổi cơ cấu khó đảo ngược. Già hóa dân số là minh chứng rõ nhất cho yêu cầu này. Nhật Bản không chỉ mở rộng hệ thống y tế, phúc lợi và bảo hiểm chăm sóc dài hạn mà còn điều chỉnh tuổi hưởng lương hưu, thúc đẩy người cao tuổi tiếp tục làm việc, tăng sự tham gia của phụ nữ và từng bước sử dụng lao động nước ngoài để bù đắp thiếu hụt nhân lực. Tương tự, Hàn Quốc đã chuyển từ trọng tâm chủ yếu là nâng mức sinh sang cách tiếp cận rộng hơn, kết hợp chính sách dân số với việc làm người cao tuổi, bảo hiểm chăm sóc dài hạn, chất lượng cuộc sống và đổi mới xã hội.

Do đó, khi quá trình già hóa đang diễn ra nhanh, chính sách cần được chuẩn bị từ sớm theo hướng đồng bộ giữa dân số, thị trường lao động, lương hưu, y tế, chăm sóc dài hạn và đào tạo lại lao động, thay vì chờ đến khi các sức ép trở nên nghiêm trọng mới xử lý.

Bốn là, coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là công cụ trung tâm để nâng cao năng lực thích ứng; đồng thời, chủ động tận dụng những cơ hội do thay đổi công nghệ tạo ra. Kinh nghiệm của hai quốc gia cho thấy công nghệ không chỉ là một lĩnh vực phát triển riêng biệt mà ngày càng trở thành công cụ giải quyết các vấn đề cơ cấu. Nhật Bản gắn tự động hóa, robot và chuyển đổi số với nâng năng suất và khắc phục thiếu hụt lao động, đồng thời thúc đẩy xã hội 5.0, đào tạo nhân lực số và R&D. Hàn Quốc cũng đẩy mạnh hiện đại hóa sản xuất và thúc đẩy chuyển đổi số dựa trên dữ liệu, AI và kết nối. Điều này gợi mở rằng nguồn lực có hạn cần được tập trung có lựa chọn vào những công nghệ và năng lực nền tảng có ý nghĩa chiến lược, đồng thời phải thúc đẩy quá trình phổ biến và ứng dụng công nghệ vào doanh nghiệp và đời sống, tránh tình trạng chính sách chỉ tập trung vào nghiên cứu hoặc sở hữu công nghệ mà chưa chuyển hóa thành năng suất và năng lực cạnh tranh.

Năm là, cần xây dựng năng lực chống chịu và khả năng tự chủ trong những lĩnh vực chiến lược nhưng không đồng nhất tự chủ với khép kín. Nhật Bản và Hàn Quốc đều là những nền kinh tế phụ thuộc lớn vào thương mại và nguồn lực bên ngoài. Phản ứng của các nước này trước các cú sốc không phải là tách khỏi nền kinh tế thế giới, mà là giảm sự phụ thuộc quá mức vào một nguồn cung, đa dạng hóa đối tác, xây dựng năng lực trong nước và đồng thời tiếp tục tận dụng thị trường quốc tế. Trường hợp năng lượng cho thấy đa dạng hóa nguồn cung, dự trữ chiến lược và phát triển công nghệ trong nước có thể làm giảm tính dễ tổn thương; trường hợp Hàn Quốc mở rộng thị trường Trung Đông lại cho thấy biến động quốc tế cũng có thể tạo ra những cơ hội phát triển mới. Vì vậy, nâng cao tự chủ chiến lược cần được đặt trong quan hệ với hội nhập sâu rộng, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và khả năng tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn, thay vì theo đuổi tự cung tự cấp.

4. Kết luận

Từ những kinh nghiệm quốc tế cho thấy, vấn đề quan trọng nằm ở phương thức quản trị sự thay đổi trong thích ứng và tận dụng các thay đổi mang tính thời đại của thế giới. Đó là khả năng nhận diện sớm những biến đổi lớn; kết hợp phản ứng ngắn hạn với điều chỉnh cơ cấu dài hạn; sử dụng thể chế, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực để tạo năng lực thích ứng; đồng thời chủ động tìm kiếm cơ hội phát triển mới ngay trong những sức ép do môi trường quốc tế tạo ra. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh các thay đổi về công nghệ, dân số, năng lượng, khí hậu và cấu trúc kinh tế thế giới ngày càng đan xen, yêu cầu đặt ra không chỉ là ứng phó tốt hơn với từng biến động mà quan trọng hơn là xây dựng một nền kinh tế và hệ thống quản trị có khả năng thích ứng, tự điều chỉnh và tận dụng thay đổi để tạo ra động lực phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:
Bank of Japan (31/10/2010). Japan’s Economy and Innovation, Speech by Masaaki Shirakawa. Governor of the Bank of Japan, at the Japan National Press Club, Tokyo.https://www2.boj.or.jp/archive/en/announcements/press/koen_2010/ko1005b.htm
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản.nd. Cấu trúc và các khái niệm cơ bản của hệ thống lương hưu, Chương 8: Sự gia tăng tuổi thọ và chế độ lương hưu. https://www.mhlw.go.jp/stf/nenkin_shikumi_008.html, truy cập ngày 20/9/2026.
Economic Planning Agency (1992). Annual Economic Report for Fiscal Year 1992, Chapter 3, Section 6. https://www5.cao.go.jp/keizai3/keizaiwp/wp-je92/wp-je92-00306.html
FRED (10/6/2013). Table Data – Percent of Employment in Agriculture in Japan (DISCONTINUED). https://fred.stlouisfed.org/data/JPNPEMANA
IMF (2009). World Economic Outlook – Crisis and Recovery, https://doi.org/10.5089/9781589068063.081
KDI (18/4/2023). Announcement of 2022 data market size (E) at 25.0527 trillion won and data workforce at 198,000. https://eiec.kdi.re.kr/policy/materialView.do?num=237657
Kim Ngân (29/11/2011). Dân số cao tuổi ở Nhật Bản.  Báo điện tử Gia đình & Sức khỏe. https://giadinh.suckhoedoisong.vn/dan-so-cao-tuoi-o-nhat-ban-172111129031218168.htm
Mai Anh Thư (09/8/2026). Đất nước mặt trời mọc và nửa thế kỷ “biến nguy thành cơ”. Báo Thế giới & Việt Nam. https://baoquocte.vn/bao-dam-an-ninh-nang-luong-dat-nuoc-mat-troi-moc-va-nua-the-ky-bien-nguy-thanh-co-423909.html
Marketing-Interactive (24/10/2023). Study: Southeast Asian digital economies to leap 82% in the next 5 years. https://www.marketing-interactive.com/study-southeast-asia-south-korea-and-japan-digital-economies-expected-to-leap-82-in-five-years
MSIT (26/8/2024). MSIT Unveils First Master Plan for Developing Critical and Emerging Technologies (2024-2028): A Blueprint for National S&T Sovereignty. https://www.msit.go.kr/
OECD (13/5/2026). OECD Economic Surveys: Japan 2026. https://www.oecd.org/en/publications/oecd-economic-surveys-japan-2026_54cc833d-en/full-report/reigniting-productivity-growth_67b7a182.html
OECD (2026). Japan’s SME Productivity Revolution Programme. https://www.oecd.org/en/publications/sme-technology-adoption-in-the-united-kingdom_cecfb794-en/japan-s-sme-productivity-revolution-programme_4b64c40d-en.html
OECD (2025). Pensions at a Glance 2025: Korea. https://www.oecd.org/en/publications/pensions-at-a-glance-2025-country-notes_8a53ef12-en/korea-republic-of_5cd52913-en.html
Quốc Đạt (24/3/2024). Nhật Bản hướng tới quốc gia không có tuổi nghỉ hưu. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/nhat-ban-huong-toi-quoc-gia-khong-co-tuoi-nghi-huu-10333387.html
Sooyong Kim (1988). The Korean Construction industry as an exporter of services. https://documents1.worldbank.org/curated/en/670861468752413345/pdf/multi-page.pdf
Reinhart, C. M., & Rogoff, K. S. (2009). The aftermath of financial crises. American Economic Review, 99(2), 466-472.
UNFPA.nd. Japan Population 2025 – United Nations Population Fund. https://www.unfpa.org/data/world-population/JP, truy cập 20/9/2026.
Văn phòng Nội các Nhật Bản (Cabinet Office.nd.). Thống kê kinh tế dài hạn – Hệ thống tài khoản quốc gia. https://www5.cao.go.jp/keizai3/2020/0331nk/n20_7_data01.html, truy cập ngày 20/9/2026.
WHO (01/10/2025). Ageing and health. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/ageing-and-health