TS. Lê Thị Thanh Hà
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: lethanhha12napa@gmail.com
(Quanlynhanuoc.vn) – Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc xây dựng chính sách giáo dục đặc biệt nhằm thúc đẩy giáo dục hòa nhập. Mục tiêu đến năm 2030 có 100% tỉnh, thành phố sẽ có trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập công lập, với tầm nhìn đến năm 2050 xây dựng một hệ thống hoạt động hiệu quả và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, một khoảng cách đáng kể vẫn tồn tại giữa chính sách và thực tiễn được thể hiện rõ qua các số liệu thống kê, giáo dục đặc biệt của Việt Nam còn thiếu về đội ngũ chuyên sâu, nguồn lực thực hiện, vấp phải rào cản nhận thức và kết quả hạn chế. Bài viết phân tích về chính sách giáo dục đặc biệt và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này.
Từ khóa: Giáo dục đặc biệt; chính sách giáo dục đặc biệt; giáo dục hòa nhập; kinh nghiệm quốc tế; đáp ứng nhu cầu đặc biệt.
Abstract: Vietnam has made notable efforts in formulating special education policies aimed at promoting inclusive education. The target for 2030 is for 100% of provinces and cities to establish public inclusive education development support centers, with a vision toward 2050 of building a system that operates effectively and achieves international integration. However, a significant gap remains between policy and practice, clearly evidenced by statistical data showing that special education in Vietnam still suffers from a shortage of specialized personnel and implementation resources, while facing awareness barriers and limited outcomes. Through an analysis of special education policies, this paper proposes solutions to refine and improve these policies.
Keywords: Special education; special education policy; need education.
1. Mở đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục không còn đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức mà còn là công cụ then chốt để xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn và bền vững. Trọng tâm của quá trình này là việc phát triển một hệ thống giáo dục có khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi người học, đặc biệt là những người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc khuyết tật. Bởi lẽ mỗi cá nhân đều có giá trị ngang nhau và giáo dục phải là một quyền lợi cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, dân tộc hay khả năng của họ.
Giáo dục đặc biệt là một hình thức giáo dục được thiết kế riêng biệt nhằm đáp ứng các nhu cầu học tập đặc thù của trẻ em và người học có khuyết tật hoặc có nhu cầu đặc biệt khác (UNESCO, 2013). Mục tiêu chính của giáo dục đặc biệt là giúp người học phát huy tối đa tiềm năng của bản thân, phát triển các kỹ năng sống, kỹ năng xã hội và hòa nhập tốt nhất có thể vào môi trường học tập và cộng đồng. Đối tượng của giáo dục đặc biệt bao gồm trẻ em và người học khuyết tật (trí tuệ, thể chất, giác quan như khiếm thị, khiếm thính), người học mắc các rối loạn như rối loạn phổ tự kỷ, rối loạn tăng động giảm chú ý, trẻ em có chậm phát triển về nhận thức, ngôn ngữ hoặc các kỹ năng khác. Giáo dục đặc biệt thường yêu cầu chương trình giảng dạy chuyên biệt, phương pháp giáo dục đặc thù và các dịch vụ hỗ trợ liên quan như trị liệu ngôn ngữ, vật lý trị liệu, tư vấn tâm lý.
Lịch sử giáo dục cho học sinh khuyết tật đã trải qua một sự chuyển dịch lớn. Ban đầu, giáo dục đặc biệt truyền thống đã tồn tại hàng thế kỷ, tập trung vào việc đặt học sinh khuyết tật vào các trường học hoặc lớp học riêng biệt, được giảng dạy bởi các giáo viên chuyên biệt. Mặc dù mô hình này cung cấp sự hỗ trợ chuyên sâu, nhưng nó cũng duy trì sự tách biệt, hạn chế sự tương tác xã hội và hội nhập cộng đồng. Trong những thập kỷ gần đây, mô hình này đã bị thách thức bởi sự trỗi dậy của triết lý “giáo dục hòa nhập”. Các tổ chức quốc tế như Liên Hợp quốc đã ban hành các chính sách khuyến khích các quốc gia chuyển đổi sang một mô hình duy nhất, nơi tất cả học sinh, dù có khuyết tật hay không, đều học cùng nhau trong các lớp học thông thường (UNESCO, 2019). Quan điểm này cho rằng các trường học thông thường có định hướng hòa nhập là phương tiện hiệu quả nhất để chống lại sự phân biệt đối xử, xây dựng cộng đồng chào đón, và kiến tạo một xã hội hòa nhập. Nhưng việc đưa trẻ em khuyết tật vào các trường học thông thường mà không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cơ sở hạ tầng, hỗ trợ và trách nhiệm giải trình có thể làm gia tăng cảm giác bị loại trừ và gây ra phản ứng ngược. Do đó, hòa nhập không chỉ là vấn đề “nơi học” mà còn là vấn đề của sự thay đổi toàn diện về chính sách, chương trình giảng dạy, phương pháp sư phạm, và thái độ.
Giáo dục hòa nhập là phương pháp tiếp cận mang tính triết lý và chiến lược, đảm bảo mọi người học – không phân biệt khuyết tật, giới tính, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, ngôn ngữ hay nguồn gốc – đều có quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng và học tập cùng nhau trong môi trường phổ thông. Theo UNESCO, giáo dục hòa nhập là một quá trình cải thiện hệ thống nhằm phản hồi và đáp ứng tính đa dạng về nhu cầu của toàn bộ học sinh thông qua việc gia tăng sự tham gia và giảm thiểu sự loại trừ trong cũng như từ giáo dục (UNESCO, 2013).
Trong tương lai, giáo dục toàn cầu đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình giáo dục đặc biệt tách biệt sang giáo dục hòa nhập toàn diện và công bằng. Sự phát triển của công nghệ giáo dục, trí tuệ nhân tạo và khung thiết kế học tập cho tất cả mọi người trong tương lai được mong đợi sẽ xóa bỏ ranh giới giữa giáo dục đặc biệt và giáo dục hòa nhập, cho phép mỗi cá nhân được học tập theo tiến trình riêng trong một môi trường xã hội gắn kết và không ai bị bỏ lại phía sau. Đó là sự hòa nhập có hỗ trợ, giáo dục đặc biệt nhằm mục tiêu giáo dục hòa nhập.
2. Quan điểm và định hướng phát triển giáo dục đặc biệt của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh đến vấn đề bảo đảm công bằng trong giáo dục, bảo đảm cơ hội học tập công bằng bình đẳng cho mọi người (Bộ Chính trị, 2025). Đây được xem là một trong những quan điểm chỉ đạo quan trọng, thể hiện sự nhất quán trong chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục. Cùng với đó Nghị quyết đề ra nhiệm vụ chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo. Từ hai chủ trương này có thể thấy, một trong những định hướng mới hiện nay là phát triển giáo dục đặc biệt trên nền tảng công nghệ số với những giải pháp như ứng dụng công nghệ để tạo học liệu số, phần mềm hỗ trợ học sinh khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật vận động.
Quyết định số 403/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2025 phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cũng đề cập đến việc phát triển giáo dục hòa nhập với người khuyết tật là chủ yếu, từ đó đã góp phần tạo cơ hội cho học sinh khuyết tật học tập, sinh hoạt cùng bạn bè. Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 sẽ phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong hệ thống giáo dục quốc dân bảo đảm về số lượng, cơ cấu và chất lượng, đáp ứng yêu cầu bảo đảm cơ hội công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ giáo dục có chất lượng và nhu cầu học tập suốt đời đối với người khuyết tật ở tất cả các địa phương (Thủ tướng Chính phủ, 2025).
Mục tiêu cụ thể nhằm phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó phấn đấu 100% số đơn vị cấp tỉnh có trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập công lập. Vận hành hiệu quả hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật, trong đó 11 cơ sở đã có và thành lập mới 1 cơ sở công lập (Thủ tướng Chính phủ (2025).
Đến năm 2050, hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập hoạt động hiệu quả, hội nhập quốc tế bảo đảm người khuyết tật có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận giáo dục có chất lượng, hoàn thành giáo dục bắt buộc, mở ra cơ hội học tập suốt đời nhằm phát triển tối đa tiềm năng của cá nhân và có những đóng góp tích cực cho xã hội.
Luật Người khuyết tật năm 2010; Quyết định số 427/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/3/2021 phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 25/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên nghiệp đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050… Quy định pháp luật đề cập đến vấn đề giáo dục cho người khuyết tật, tập trung vào người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng… và quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt tầm nhìn 2050 thể hiện giáo dục đặc biệt được quan tâm ở Việt Nam.
3. Thực trạng về phát triển giáo dục đặc biệt của người khuyết tật tại Việt Nam
Theo số liệu trong Báo cáo về Người khuyết tật năm 2025 của Cục Thống kê, trẻ em khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn trong việc đi học đúng độ tuổi. Tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em khuyết tật ở cấp tiểu học là 68,1%, cấp THCS là 53,0% và cấp THPT là 30,8%, đều thấp hơn đáng kể so với trẻ em không khuyết tật. Tỷ lệ người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên biết chữ đạt 79,0%, thấp hơn so với người không khuyết tật. Đáng chú ý, tỷ lệ người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề chỉ đạt 8,8%, trong khi tỷ lệ này ở người không khuyết tật là 25,4% (Cục Thống kê, 2025). Điều này cho thấy người khuyết tật vẫn còn hạn chế trong tiếp cận giáo dục nghề nghiệp và cơ hội phát triển kỹ năng.
Bảng: Tình hình giáo dục và nghề nghiệp của người khuyết tật tại Việt Nam năm 2023
Đơn vị: %
| Chỉ tiêu | Người khuyết tật | Người không khuyết tật |
| Tỷ lệ người 15 tuổi trở lên biết chữ | 79,0 | 96,3 |
| Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề | 8,8 | 25,4 |
| Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động | 23,9 | 77,4 |
| Tỷ lệ người đang làm việc trong nền kinh tế | 23,5 | 76,3 |
Về khung pháp lý, theo Điều 15 Luật Giáo dục năm 2019 (Quốc hội, 2019) và Luật Người khuyết tật năm 2010 (Quốc hội, 2010), Việt Nam xác định giáo dục hòa nhập là phương thức chủ đạo. Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT quy định chi tiết về tổ chức lớp học (không quá 02 người khuyết tật/lớp) và yêu cầu thành lập phòng hỗ trợ giáo dục hòa nhập tại cơ sở giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018). Hệ thống quản lý giáo dục hòa nhập từng bước được hình thành và đi vào hoạt động, với mạng lưới ban chỉ đạo từ cấp bộ đến cấp sở tại tất cả các tỉnh, thành phố. Quy mô giáo dục người khuyết tật được mở rộng rõ rệt. Mạng lưới đào tạo và bồi dưỡng giáo viên giáo dục người khuyết tật được phát triển, với các chương trình đào tạo chính quy và sau đại học, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ trực tiếp triển khai giáo dục hòa nhập trong nhà trường.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn có những hạn chế, bất cập, như: Mặc dù luật định hướng hòa nhập, hệ thống thực tiễn lại thiếu tính đồng bộ. Các chính sách chủ yếu mang tính cào bằng, chưa có quy trình phân loại nhu cầu cá nhân hóa sâu sắc. Cơ sở vật chất chuyên biệt (phòng hỗ trợ, học liệu) tại các trường phổ thông cực kỳ thiếu thốn, gần như không có hoặc khó có thể sử dụng. Đội ngũ giáo viên phổ thông phải kiêm nhiệm giáo dục hòa nhập nhưng thiếu kỹ năng chuyên môn sâu, giáo viên phổ thông thiếu kỹ năng can thiệp khi dạy lớp hòa nhập; trong khi giáo viên chuyên trách giáo dục đặc biệt lại khan hiếm và chưa có cơ chế đãi ngộ đủ mạnh mẽ.
Nguyên nhân chính của những hạn chế là: (1) Phát triển giáo dục đặc biệt không đồng đều. Trong quá trình nước ta triển khai giáo dục, trọng tâm của giáo dục được đặt ở phương diện giáo dục phổ thông, trong khi mức độ coi trọng đối với việc triển khai giáo dục cho giáo dục đặc biệt lại không cao, điều này cũng khiến cho khi phân bổ vốn giáo dục và thiết bị giáo dục sẽ xuất hiện khoảng cách nhất định, dẫn đến phát triển giáo dục đặc biệt không đồng đều. (2) Giáo dục trẻ em có khó khăn trong học tập trong xã hội chưa được chú ý và quan tâm. Mặc dù ở nước ta dần coi trọng sự phát triển của sự nghiệp giáo dục, nhưng chúng ta cũng nhận thấy vấn đề nhập học của các trẻ em khuyết tật khác, như mắc chứng tự kỷ, bại não mức độ nặng cũng như đa trở ngại… vẫn tồn tại khó khăn quá lớn. (3) Trình độ chuyên nghiệp hóa của đội ngũ giáo viên giáo dục đặc biệt chưa được nâng cao. Việc định biên nhân viên, giáo viên, công nhân viên của trường giáo dục đặc biệt là không đủ. Trong nhiều trường giáo dục đặc biệt, hiện tượng này đều tồn tại. Phạm vi công việc trong dạy học tại trường giáo dục đặc biệt là tương đối rộng, trong đó chủ yếu có 2 loại công việc: học hòa nhập và giáo dục tại nhà. Điều này cũng dẫn đến nhu cầu về giáo viên loại đặc biệt tương đối lớn. (4) Sự phối hợp đa ngành giữa y tế – giáo dục – tâm lý – xã hội chưa tạo thành một hệ sinh thái khép kín để can thiệp sớm. Cơ sở y tế hiện chỉ dừng ở việc chẩn đoán bệnh lý hoặc xác định mức độ khuyết tật, nhưng không có hệ thống chia sẻ trực tiếp hồ sơ này với cơ sở giáo dục.
4. Giải pháp hoàn thiện chính sách giáo dục đặc biệt Việt Nam
Thứ nhất, hoàn thiện những quy định pháp luật về chính sách giáo dục đặc biệt.
Hoàn thiện hành lang pháp lý là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi hệ thống giáo dục đặc biệt và giáo dục hòa nhập tại Việt Nam từ mô hình hỗ trợ mang tính phúc lợi xã hội sang đảm bảo quyền bình đẳng phát triển. Mặc dù Luật Giáo dục năm 2019, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2025 và Luật Người khuyết tật năm 2010 đã đề cập đến giáo dục hòa nhập nhưng thực tiễn triển khai vẫn gặp nhiều điểm nghẽn do thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành có tính ràng buộc pháp lý cao và cơ chế phối hợp liên ngành còn hạn chế.
Hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam cần tập trung vào định hướng chiến lược sau: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên ngành để xác lập hệ sinh thái can thiệp sớm gắn liền với giáo dục đặc biệt; luật hóa những quy định đối với các cơ quan chức năng tham gia trong quản lý ca theo dõi và xây dựng phác đồ can thiệp điều trị – giáo dục đặc biệt. Xây dựng hệ sinh thái chuẩn đoán sớm – can thiệp – trị liệu – giáo dục đặc biệt giữa Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, Bộ Nội vụ.
Chuẩn hóa chức danh nghề nghiệp và trình độ đào tạo: quy định mã ngạch viên chức và định biên rõ ràng cho chuyên viên tâm lý học đường, nhân viên công tác xã hội học đường và giáo viên hỗ trợ giáo dục đặc biệt để khắc phục sự thiếu hụt hành lang pháp lý cho đội ngũ nhân lực giáo dục đặc biệt.
Đổi mới cơ chế tài chính dựa trên đầu học sinh. Nguồn ngân sách cho giáo dục đặc biệt hiện chủ yếu cào bằng, phân bổ theo danh sách trẻ khuyết tật học tập tại trường phổ thông. Pháp luật về tài chính giáo dục cần thể chế hóa việc phân bổ ngân sách theo đầu học sinh có nhu cầu đặc biệt, quy định mức sàn chi ngân sách công cộng trên đầu học sinh khuyết tật bao phủ từ cấp mầm non đến đại học. Ban hành khung phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đặc thù đủ sức hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân lực làm việc trong môi trường giáo dục đặc biệt. Đầu tư kinh phí cho thiết bị giáo dục theo học sinh tại các cơ sở giáo dục đặc biệt.
Quy định pháp lý về định hướng nghề nghiệp và chuyển tiếp để khắc phục đầu ra – công ăn việc làm cho người khuyết tật – khâu yếu nhất hiện nay. Pháp luật về giáo dục nghề nghiệp cần bổ sung các điều khoản cho phép tích hợp môn “Hướng nghiệp và nghề nghiệp” ngay từ bậc tiểu học và tăng tỷ lệ thời lượng ở cấp trung học, thành lập các doanh nghiệp trong trường học tại cơ sở giáo dục đặc biệt để thực hành nghề sát thực tế; thành lập các khoa chuyên sâu đào tạo chuyển tiếp 1 – 2 năm sau trung học phổ thông giúp học sinh khuyết tật rèn luyện kỹ năng sống tự lập và kỹ thuật nghề nghiệp trước khi bước vào thị trường lao động; ưu đãi cho những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tạo việc làm, tổ chức dịch vụ việc làm cho người khuyết tật.
Thứ hai, đầu tư nguồn lực từ ngân sách và xã hội hóa.
Đầu tư nguồn lực cho giáo dục đặc biệt và can thiệp sớm đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa vai trò chủ đạo, dẫn dắt của ngân sách nhà nước và sức mạnh huy động của xã hội hóa . Nếu chỉ dựa vào ngân sách công, hệ thống sẽ dễ rơi vào quá tải và cào bằng; ngược lại, nếu buông lỏng cho thị trường tư nhân tự phát, nguy cơ bất bình đẳng cơ hội tiếp cận giáo dục giữa các tầng lớp dân cư sẽ gia tăng. Ngân sách nhà nước không phân bổ theo cách hỗ trợ an sinh chia đều, mà phải đóng vai trò “định hướng” và bảo đảm nền tảng hạ tầng kỹ thuật, nhân lực tối thiểu.
Việt Nam cần ban hành định mức chi thường xuyên cho một học sinh có nhu cầu đặc biệt cao hơn gấp 3 – 5 lần so với học sinh phổ thông thông thường. Ngân sách cần đi theo từng trường hợp cụ thể dựa trên kết luận chẩn đoán của trường hợp giáo dục đặc biệt. Trường mầm non hoặc phổ thông công lập tiếp nhận học sinh có nhu cầu đặc biệt sẽ tự động được cộng thêm khoản ngân sách bổ sung này để trang bị học liệu, thuê chuyên gia hoặc chi trả giờ dạy tăng cường cho giáo viên. Ưu tiên ngân sách đầu tư công để thành lập và duy trì hoạt động của các trung tâm hỗ trợ liên ngành cấp xã, phường. Đây là các trạm cơ sở về chẩn đoán, đánh giá và lập phác đồ mà tư nhân khó hoặc không muốn đầu tư ở vùng sâu vùng xa. Quy định quỹ lương và phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đặc thù cho giáo viên giáo dục đặc biệt, chuyên viên tâm lý lâm sàng, và nhân viên công tác xã hội chuyên trách. Ngân sách nhà nước chi trả toàn bộ chi phí đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa định kỳ cho đội ngũ này.
Xã hội hóa không đơn thuần là “kêu gọi quyên góp từ thiện”, mà là xây dựng hành lang kinh tế – pháp lý để thu hút khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ. Miễn tiền thuê đất, hỗ trợ lãi suất vay ưu đãi cho các tổ chức thành lập trường giáo dục đặc biệt, trung tâm can thiệp sớm hoặc cơ sở nuôi dưỡng bảo trợ phi lợi nhuận. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản lợi nhuận tái đầu tư vào giáo dục đặc biệt; giảm thuế cho các doanh nghiệp tiếp nhận lao động là người khuyết tật. Bên cạnh ngân sách cấp cho trường công, Nhà nước sử dụng ngân sách để tài trợ các suất học, suất can thiệp sớm tại các trung tâm tư nhân đạt chuẩn đối với trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc vùng khó khăn. Cơ chế này vừa tạo động lực nâng cao chất lượng dịch vụ giữa các trung tâm tư nhân, vừa đảm bảo công bằng xã hội cho các đối tượng yếu thế. Kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp thành lập doanh nghiệp trong trường học, doanh nghiệp hỗ trợ máy móc, quy trình sản xuất và bao tiêu sản phẩm; nhà trường cung cấp mặt bằng và lực lượng học sinh khuyết tật thực tập. Đây là nguồn thu xã hội hóa bền vững để tái đầu tư cho các hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
Để nguồn lực ngân sách và xã hội hóa không bị lãng phí hoặc biến tướng cần ban hành khung giá trần dịch vụ can thiệp sớm và tư nhân, đồng thời thực hiện chặt chẽ quy trình kiểm định chất lượng chuyên môn giáo dục đặc biệt đối với các trung tâm tư thục.
Thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển giáo dục đặc biệt vận hành theo nguồn thu đa dạng tiếp nhận ngân sách hỗ trợ, các khoản tài trợ quốc tế, nguồn đóng góp của doanh nghiệp và tổ chức xã hội, cá nhân hảo tâm. Quỹ được dùng để trợ cấp trực tiếp cho gia đình nghèo có con cần can thiệp sớm, tài trợ các đề tài nghiên cứu sản xuất học liệu đặc thù và khen thưởng đội ngũ chuyên gia, giáo viên có đóng góp xuất sắc.
Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phát triển giáo dục đặc biệt.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục hòa nhập, vai trò của giáo viên giáo dục phổ thông và giáo viên giáo dục đặc biệt đang có sự đan xen và thay đổi. Giáo viên phổ thông phải đối mặt với các học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt trong lớp học hòa nhập, trong khi giáo viên giáo dục đặc biệt không chỉ dạy tại các trường chuyên biệt mà còn đảm nhận vai trò tư vấn, hỗ trợ lưu động cho các trường hòa nhập. Do đó, việc so sánh hai bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp này để tìm ra điểm tương đồng, khác biệt và những nội dung còn thiếu hụt về năng lực giáo dục hòa nhập có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên. Kiến nghị đưa môn “giáo dục đặc biệt” thành học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo sư phạm và là môn thi trong kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề giáo viên . Điều chỉnh bài giảng và học liệu phù hợp với từng học sinh có nhu cầu đặc biệt. Đào tạo chuyên sâu 1 năm cho các giáo viên phổ thông khóa đào tạo về giáo dục đặc biệt để trở thành giáo viên hỗ trợ bán thời gian/chuyên trách phòng tài nguyên .
Cán bộ trạm y tế xã, phường là đầu mối sàng lọc sớm 0 – 3 tuổi, nhận biết sớm các mốc lệch chuẩn phát triển tâm vận động, kích hoạt chuyển tuyến không bỏ lỡ “giai đoạn vàng”. Cán bộ y tế được đào tạo thực hành thành thạo các bảng kiểm quan sát hành vi chuẩn hóa lồng ghép trong đợt tiêm chủng và khám bệnh miễn phí toàn dân.
Nhân viên công tác xã hội, thuộc phòng văn hóa – xã hội xã, phường đồng hành cùng gia đình, kết nối nguồn lực an sinh và điều phối luồng hồ sơ giữa y tế – giáo dục – xã hội. Họ được huấn luyện, đào tạo về quản lý ca từ quy trình lập hồ sơ ca, theo dõi tiến trình can thiệp từ sàng lọc, chẩn đoán đến nhập học hòa nhập. Họ có kỹ năng tư vấn và hỗ trợ tâm lý gia đình, giải tỏa khủng hoảng tâm lý cho cha mẹ, tháo gỡ rào cản định kiến xã hội. Các nhân viên công tác xã hội sẽ được đào tạo chuyên môn về giáo dục đặc biệt có chứng chỉ, kết hợp bồi dưỡng hàng năm.
Thứ tư, truyền thông tác động thay đổi nhận thức xã hội về giáo dục đặc biệt.
Xóa bỏ rào cản thái độ và định kiến, sự kỳ thị đối với trẻ khuyết tật là tiền đề quan trọng nhất để chính sách giáo dục đặc biệt đi vào thực chất. Rào cản thái độ thường xuất phát từ sự thiếu hụt thông tin, những định kiến văn hóa lịch sử hoặc tâm lý lo ngại trước sự khác biệt. Do đó, các giải pháp truyền thông và giáo dục văn hóa cần được triển khai một cách đồng bộ, tiếp cận đa chiều từ nhà trường, gia đình cho đến toàn thể cộng đồng.
Giáo dục văn hóa học đường trong nhà trường. Môi trường học đường là nơi hình thành nhân cách và góc nhìn xã hội của trẻ em… Lồng ghép các chủ đề về người khuyết tật, sự đa dạng nhân loại vào các môn học nhân văn để học sinh hiểu rằng khuyết tật chỉ là một thuộc tính đa dạng của con người tương tự như chiều cao, màu da, không phải là sự bất hạnh hay gánh nặng. Phân công học sinh phát triển bình thường đồng hành, hỗ trợ trẻ khuyết tật trong học tập và sinh hoạt tại trường. Sự tương tác hàng ngày giúp tháo gỡ sự e ngại và xây dựng tình bạn bình đẳng. Giáo viên là tấm gương trực tiếp về thái độ, làm gương cho học sinh.
Giải pháp truyền thông xã hội và cộng đồng. Thay đổi nhận thức của đại chúng đòi hỏi các chiến dịch truyền thông hiện đại, nhân văn, khắc họa người khuyết tật và trẻ khuyết tật với hình ảnh chủ động, có năng lực, có phẩm giá và là thành viên đóng góp cho xã hội. Tôn vinh các mô hình hòa nhập thành công, đa dạng hóa phương thức và kênh truyền thông, nền tảng phổ biến với giới trẻ (TikTok, Facebook, YouTube) để sản xuất các video ngắn, truyện tranh số, podcast bàn luận về cuộc sống của trẻ khuyết tật dưới góc nhìn hóm hỉnh, chân thực và nhân văn.
Gia đình là pháo đài tâm lý của trẻ, đồng thời các tổ chức cộng đồng là cầu nối gắn kết chính sách với thực tiễn. Truyền thông giải tỏa tâm lý cho phụ huynh đối với phụ huynh có con phát triển bình thường và phụ huynh của trẻ khuyết tật. Tổ chức các buổi tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề để xóa tan nỗi lo con bị ảnh hưởng chất lượng học tập khi học chung với trẻ khuyết tật; giúp họ nhận ra lợi ích vượt trội con họ phát triển trí tuệ cảm xúc, sự trưởng thành và kỹ năng sống trong môi trường hòa nhập. Phát huy vai trò của các tổ chức, hiệp hội người khuyết tật, mời người khuyết tật thành đạt, các diễn giả là người khuyết tật đến giao lưu, trò chuyện tại các trường học và trung tâm cộng đồng. Sự hiện diện trực tiếp của họ là bằng chứng sinh động nhất để đập tan các định kiến xã hội.
Thứ năm, ứng dụng công nghệ số phát triển giáo dục đặc biệt.
Hiện nay trong bối cảnh đất nước đang bước sang thời đại công nghệ số, giáo dục đặc biệt sẽ không thể nằm ngoài cuộc thay đổi này. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng có thể mở ra tiềm năng to lớn, tạo ra những đột phá trong việc hỗ trợ học sinh khuyết tật học tập và hòa nhập. AI không chỉ giúp trẻ khuyết tật tự lập hơn trong sinh hoạt hằng ngày mà còn nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục thông qua các công cụ như nhận diện giọng nói, trợ lý số, phần mềm dịch ngôn ngữ ký hiệu, chuyển văn bản thành giọng nói… Sử dụng các công cụ AI để tự động hóa việc tạo tài liệu phân hóa như chuyển văn bản thành giọng nói, tạo câu hỏi theo nhiều mức độ nhận thức, giúp giảm tải thời gian soạn bài cho giáo viên…Những công cụ công nghệ giáo dục này góp phần xóa bỏ rào cản về ngôn ngữ và môi trường, hướng tới một nền giáo dục thực sự bình đẳng và hòa nhập dành cho người khuyết tật.
5. Kết luận
Giáo dục đặc biệt là một bộ phận quan trọng của giáo dục, là nội dung không thể thiếu trong hệ thống giáo dục chất lượng cao. Giáo dục đặc biệt là biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy công bằng xã hội, đồng thời là dấu hiệu quan trọng của sự tiến bộ của văn minh xã hội. Mục đích và nhiệm vụ của giáo dục đặc biệt là đáp ứng tối đa yêu cầu của xã hội và nhu cầu giáo dục của nhóm đối tượng đặc biệt, khơi dậy tiềm năng của họ, giúp họ tiếp thu kiến thức và kỹ năng, trở thành người tài có ích cho xã hội. Giáo dục đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật nhận được nền giáo dục công bằng và chất lượng, qua đó thúc đẩy công bằng và công lý xã hội. Một xã hội văn minh không đánh giá sự phát triển chỉ bằng những chỉ số kinh tế, mà bằng cách xã hội đó nâng đỡ và bảo vệ những thành viên dễ bị tổn thương nhất.
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết 71/NQ-TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục đào tạo.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018). Thông tư 03/2018/TT-BGDĐT ngày 29/01/2018 quy định về giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật.
Cục Thống kê (2025). Kết quả điều tra người khuyết tật năm 2023. Nxb Thống kê.
Quốc hội (2019). Luật Giáo dục năm 2019.
Quốc hội (2010). Luật Người khuyết tật năm 2010.
Thủ tướng Chính phủ (2025). QĐ 403/QĐ-TTg ngày 25/02/2025 về phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở giáo dục chuyên nghiệp đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
UNESCO (2013). International Bureau of Education. https://kicd.ac.ke/wp-content/uploads/2017/10/IBE_curriculum_glossary_final.pdf.
UNESCO (2019). Cali commitment to equity and inclusion in education. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000370910.



