Điểm nghẽn và định hướng phát triển kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh trong không gian phát triển mới

Bottlenecks and development orientations for the private sector in Ho Chi Minh city in the new development space

TS. Phan Thị Cẩm Lai
Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
Email: laiptc@hub.edu.vn

(Quanlynhanuoc.vn) – Bài viết phân tích những điểm nghẽn của kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, trên cơ sở tiếp cận lịch sử kinh tế và phân tích dữ liệu thứ cấp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra ba điểm nghẽn chủ yếu, quy mô doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ; hiệu quả kinh doanh và khả năng tích lũy còn hạn chế; khả năng tiếp cận vốn, mặt bằng, nhân lực và các nguồn lực hỗ trợ còn khó khăn. Không gian phát triển mới của TP. Hồ Chí Minh góp phần mở rộng quy mô thị trường, nguồn lao động và địa bàn sản xuất và tăng cường liên kết giữa các khu vực có thế mạnh về dịch vụ, công nghiệp, cảng biển và logistics. Bài viết đề xuất định hướng phát triển kinh tế tư nhân, tập trung giảm chi phí tuân thủ, hỗ trợ hộ kinh doanh và doanh nghiệp mở rộng quy mô, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn lực, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy liên kết thị trường.

Từ khóa: Điểm nghẽn; kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 68-NQ/TW; TP. Hồ Chí Minh.

Abstract: This article examines the bottlenecks facing the private sector in Ho Chi Minh City following the 2025 administrative reorganization, drawing on an economic history approach and secondary data analysis. The findings identify three major bottlenecks: the predominance of micro and small enterprises; limited business performance and capital accumulation; and difficulties in accessing capital, business premises, human resources, and other support resources. Ho Chi Minh City’s new development space creates opportunities to expand the market, labor supply, and production areas, while strengthening linkages among areas strong in services, industry, seaports, and logistics. The article proposes orientations for private sector development, focusing on reducing compliance costs, supporting household businesses and enterprises with growth potential, improving access to resources, enhancing management capacity, and promoting market linkages.

Keywords: Bottlenecks; private sector; Resolution No. 68-NQ/TW; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Kinh tế tư nhân đã trở thành một bộ phận có quy mô lớn của nền kinh tế Việt Nam, tham gia ngày càng rộng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ. Quá trình này gắn với sự thay đổi về thể chế kinh tế và mở rộng quan hệ thị trường trong thời kỳ Đổi mới. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục xác định yêu cầu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Yêu cầu này đặt ra vấn đề về năng lực mở rộng quy mô, tích lũy vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động và tham gia các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp tư nhân tại từng địa bàn.

Khu vực kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh có quy mô lớn và phạm vi hoạt động rộng, hiện diện trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghiệp và xây dựng. Sau sáp nhập tháng 7/2025, TP. Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở sắp xếp TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Quá trình sắp xếp này đã làm thay đổi quy mô không gian kinh tế của thành phố và tạo sự kết nối giữa các khu vực có thế mạnh về dịch vụ, sản xuất công nghiệp, cảng biển và logistics. Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 cũng xác định việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh gắn với mục tiêu tăng quy mô đơn vị hành chính và mở rộng không gian phát triển. Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu mới đối với việc thực thi chính sách phát triển doanh nghiệp. Trong khi đó, kinh tế tư nhân vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, đất đai và các nguồn lực hỗ trợ; cơ cấu doanh nghiệp chủ yếu thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ, khả năng tích lũy còn hạn chế. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều phía, trong đó có thực thi chính sách, năng lực doanh nghiệp và điều kiện thị trường. Bài viết tập trung phân tích các điểm nghẽn của kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó, xác định một số định hướng phát triển kinh tế tư nhân phù hợp với điều kiện của TP. Hồ Chí Minh sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.

2. Chủ trương của Đảng về chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh

Nhìn từ chiều dài lịch sử, vị thế của kinh tế tư nhân trong đường lối của Đảng được định hình qua các kỳ Đại hội. Đại hội IX (2001) thể hiện một nấc thang mới trong nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân khi đặt ra yêu cầu cụ thể về việc kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Văn kiện xác định nhiệm vụ, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm cơ hội và khả năng lựa chọn bình đẳng của các thành phần kinh tế trong tiếp cận về vốn, đất đai, lao động, công nghệ, trong sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011a, tr. 603-604). Tuy chủ trương phát triển khu vực tư nhân và bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế đã được khẳng định ngay từ công cuộc đổi mới năm 1986, song phải đến Đại hội IX, Đảng mới chuyển từ nguyên tắc sang yêu cầu hiện thực hóa quyền tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực then chốt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh lẫn xuất, nhập khẩu.

Tại Đại hội XI (2011), Đảng kế thừa và phát triển quan điểm của các nhiệm kỳ trước khi kinh tế tư nhân tiếp tục được nhìn nhận là một trong những động lực của nền kinh tế, với chủ trương “Khuyến khích phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011b, tr.36); đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011b, tr.101). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra bước ngoặt về thể chế khi đặt mục tiêu định lượng phấn đấu đến năm 2025 cả nước có trên 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, khu vực tư nhân đóng góp khoảng 60 – 65% GDP (Ban Chấp hành Trung ương, 03/6/2017).

Đến Đại hội XIII (2021) của Đảng, kinh tế tư nhân tiếp tục được xác định là “một động lực quan trọng”(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.129) cùng các thành phần kinh tế khác bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia (Bộ Chính trị, 04/5/2025, tr.2). Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân khoảng 10 – 12%/năm, đóng góp khoảng 55 – 58% GDP, 35 – 40% tổng thu ngân sách và giải quyết việc làm cho khoảng 84 – 85% tổng số lao động; đồng thời có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu(Bộ Chính trị, 04/5/2025, tr. 3). Nghị quyết cũng yêu cầu bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng và khả năng tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực, dữ liệu.

Quán triệt chủ trương của Đảng, TP. Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 2205/QĐ-UBND ngày 20/10/2025 về triển khai Chương trình hành động số 02-CTrHĐ/TU của Thành ủy, đặt ra hệ chỉ tiêu riêng phù hợp với vị thế đầu tàu: phấn đấu đến năm 2030 có 750.000 doanh nghiệp tư nhân hoạt động, đóng góp 55 – 58% GRDP và 50 – 55% tổng thu ngân sách, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 10 – 12%/năm; đến năm 2045 đạt 1,05 – 1,25 triệu doanh nghiệp (UBND TP. Hồ Chí Minh, 20/10/2025, tr. 19). Từ đây, TP. Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chương trình cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh, hỗ trợ đầu tư, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và kết nối ngân hàng – doanh nghiệp.

3. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh

3.1. Quy mô và mức đóng góp

Khu vực kinh tế tư nhân đã mở rộng đáng kể về quy mô và mức đóng góp trong quá trình phát triển kinh tế của TP. Hồ Chí Minh. Năm 2016, tỷ trọng kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh tế thành phố đạt 58,83%, tăng so với mức bình quân 50,6% giai đoạn 2006 – 2010. Đóng góp của khu vực này vào ngân sách cũng tăng, từ 30% tổng thu của các khu vực kinh tế năm 2006 lên 34% năm 2016 (Tạp chí Công nghiệp và Tiêu dùng, 2017). Đến năm 2018, trong tổng GRDP 1.225.544 tỷ đồng, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 676.125 tỷ đồng, tương đương 55,16% (Nguyễn Đình Bình, 2020, tr. 90). Tính trên 1.000 dân, TP. Hồ Chí Minh có 4,33 doanh nghiệp tư nhân thành lập mới và 23,75 doanh nghiệp đang hoạt động năm 2025, thuộc mức cao nhất cả nước (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), 2026, tr. 119). Số liệu trước thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 tiếp tục cho thấy quy mô lớn của khu vực này khi đóng góp khoảng 70% GRDP và gần 55% tổng thu ngân sách của TP. Hồ Chí Minh (Nguyễn Tuấn Anh, 2025).

Khu vực kinh tế tư nhân đã chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế và duy trì mức đóng góp cao vào ngân sách thành phố. Với quy mô đó, khu vực kinh tế tư nhân trở thành một bộ phận lớn trong nền kinh tế và là đối tượng trọng tâm trong các chính sách phát triển doanh nghiệp của TP. Hồ Chí Minh.

3.2. Những điểm nghẽn trong phát triển kinh tế tư nhân TP. Hồ Chí Minh

Quy mô lớn của khu vực kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu xem xét sâu hơn về cấu trúc và năng lực hoạt động của các doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp gia tăng nhưng những hạn chế về quy mô, hiệu quả kinh doanh, khả năng tích lũy và tiếp cận nguồn lực vẫn hiện hữu. Các vấn đề này được thể hiện qua ba nhóm điểm nghẽn chủ yếu sau đây.

Thứ nhất, cơ cấu doanh nghiệp tập trung ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh tăng khá nhanh trong giai đoạn 2015 – 2019, nhưng cơ cấu doanh nghiệp vẫn tập trung ở các loại hình và quy mô nhỏ. Số doanh nghiệp khu vực tư nhân tăng từ 144.640 doanh nghiệp năm 2015 lên 212.776 doanh nghiệp năm 2019. Trong đó, công ty trách nhiệm hữu hạn tăng từ 118.239 lên 178.188 doanh nghiệp; công ty cổ phần không có vốn nhà nước tăng từ 18.684 lên 28.301 doanh nghiệp. Ngược lại, số doanh nghiệp tư nhân giảm từ 7.717 xuống 6.287 doanh nghiệp (Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2021a, tr. 115). Giai đoạn này ghi nhận sự dịch chuyển về loại hình pháp lý, với mức tăng nhanh của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần so với doanh nghiệp tư nhân.

Xét theo quy mô, nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm phần lớn số doanh nghiệp đang hoạt động. Năm 2020, TP. Hồ Chí Minh có 216.293 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó 164.939 doanh nghiệp siêu nhỏ và 41.881 doanh nghiệp nhỏ. Năm 2021, số doanh nghiệp đang hoạt động giảm còn 213.721, gồm 159.722 doanh nghiệp siêu nhỏ và 44.285 doanh nghiệp nhỏ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2023a, tr. 491). Năm 2022, tổng số doanh nghiệp tăng lên 219.090, với 156.974 doanh nghiệp siêu nhỏ và 51.289 doanh nghiệp nhỏ. Đến năm 2023, thành phố có 230.824 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó 164.058 doanh nghiệp siêu nhỏ và 55.333 doanh nghiệp nhỏ(Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2025b, tr. 479. Như vậy, sự gia tăng số lượng doanh nghiệp trong những năm này chủ yếu diễn ra trong một cơ cấu vẫn có tỷ trọng lớn thuộc nhóm quy mô nhỏ.

Thứ hai, hiệu quả kinh doanh và khả năng tích lũy còn hạn chế.

Trong giai đoạn 2015 – 2019, lợi nhuận trước thuế của nhóm khu vực kinh tế tư nhân biến động khá mạnh, từ 36.816 tỷ đồng năm 2015 lên 82.647 tỷ đồng năm 2016, sau đó giảm còn 33.803 tỷ đồng năm 2019 (Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2021a, tr. 188). Đến năm 2022, nhóm khu vực kinh tế này đạt 88.981 tỷ đồng, nhưng sơ bộ năm 2023 giảm còn 48.000 tỷ đồng, tương ứng gần 50% (Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2025b, tr. 232). Diễn biến này cho thấy, khả năng tạo lợi nhuận của khu vực kinh tế tư nhân chưa duy trì được sự ổn định qua các giai đoạn.

Số liệu về tỷ suất lợi nhuận cho thấy hiệu quả giữa các loại doanh nghiệp khu vực tư nhân có sự phân hóa và chưa duy trì được mức cao. Theo tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, giai đoạn 2015 – 2019, doanh nghiệp tư nhân đạt từ 0,86% đến 1,07%, công ty trách nhiệm hữu hạn từ 0,28% đến 0,79%, trong khi công ty cổ phần không có vốn Nhà nước giảm từ 4,18% còn 0,98% (Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2021a, tr. 191). Đến năm 2023 tỷ suất lợi nhuận trước thuế tương đối thấp ở nhóm doanh nghiệp tư nhân đạt 1,2%, công ty trách nhiệm hữu hạn 0,4% và công ty cổ phần không có vốn Nhà nước 1,6%. Trong khi đó, tỷ lệ tương ứng của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,0% Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, 2025b, tr. 236). Mức sinh lợi thấp hạn chế lượng lợi nhuận có thể giữ lại để bổ sung vốn và tái đầu tư. Do đó, khả năng tích lũy phụ thuộc nhiều hơn vào vốn bên ngoài, trong khi quy mô nhỏ của phần lớn doanh nghiệp làm giảm khả năng huy động các nguồn lực cho mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường.

Thứ ba, khả năng tiếp cận một số nguồn lực của kinh tế tư nhân còn hạn chế.

Trong khi định hướng phát triển kinh tế tư nhân của TP. Hồ Chí Minh ngày càng chú trọng tạo điều kiện bình đẳng trong tiếp cận vốn, đất đai, nhân lực và các chương trình hỗ trợ, doanh nghiệp vẫn gặp những hạn chế khi tiếp cận các nguồn lực này. Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI ghi nhận có 75,5% doanh nghiệp cho biết họ không thể vay vốn nếu không có tài sản bảo đảm; 54,2% đánh giá việc tiếp cận khoản vay trong trường hợp không có tài sản thế chấp là rất khó (VCCI, 2026, tr. 54).

Tại TP. Hồ Chí Minh, khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA) cho thấy áp lực tài chính vẫn hiện hữu trong nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Có khoảng 39% doanh nghiệp được khảo sát cho biết đang thiếu vốn phục vụ hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, chi phí nguyên vật liệu và lao động tăng làm thu hẹp biên lợi nhuận (Hà Duyên, 2025). Tình trạng này đã làm hạn chế nguồn vốn hình thành từ kết quả kinh doanh và gây áp lực lên dòng tiền dành cho duy trì, mở rộng hoạt động của doanh nghiệp. Vấn đề không chỉ nằm ở nguồn vốn tín dụng, đất đai, mặt bằng sản xuất, nhân lực và các chương trình hỗ trợ cũng là những điều kiện mà kinh tế tư nhân cần tiếp cận để duy trì và mở rộng hoạt động. Trong khi đó, khả năng tham gia các liên kết kinh tế có tổ chức còn hạn chế. Năm 2025 chỉ có 7,7% doanh nghiệp tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nước ngoài(Kim Dung, 2026). Chỉ tiêu này đo mức độ kết nối với doanh nghiệp FDI, chưa phản ánh vị trí hay mức độ nâng cấp của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị, nhưng cung cấp thêm một bằng chứng về phạm vi tiếp cận thị trường và mạng lưới sản xuất của kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh.

3.3. Không gian phát triển mới và điều kiện liên kết kinh tế

Sau khi sáp nhập TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh mới có diện tích khoảng 6.770 km² với dân số 13,5 triệu người (HồngNhung, 2025). Quy mô không gian và dân số đông là cơ hội mở rộng thị trường tiêu dùng, nguồn lao động và địa bàn tổ chức các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ. Ba địa phương có cơ cấu kinh tế và lợi thế phát triển khác nhau, tạo điều kiện bổ sung cho nhau trong cùng một không gian kinh tế. TP. Hồ Chí Minh tập trung các hoạt động dịch vụ, tài chính, thương mại và công nghiệp công nghệ cao. Bình Dương có nền công nghiệp chế biến, chế tạo và hệ thống khu công nghiệp phát triển. Bà Rịa – Vũng Tàu có thế mạnh về công nghiệp, cảng biển và logistics. Sự kết hợp giữa các trung tâm dịch vụ, sản xuất và logistics mở rộng thị trường, nguồn cung ứng và phạm vi tổ chức hoạt động cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Quy mô công nghiệp, hệ thống khu công nghiệp và hạ tầng logistics của TP. Hồ Chí Minh mới sẽ tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân mở rộng hoạt động sản xuất, cung ứng và phân phối. Cuối năm 2024, ba địa phương có hệ thống khu công nghiệp và khu chế xuất gồm 61 khu, với tổng diện tích khoảng 24.800 ha; trong đó TP. Hồ Chí Minh có khoảng 17 khu công nghiệp và 2 khu chế xuất, Bình Dương có 29 khu công nghiệp, Bà Rịa – Vũng Tàu có 13 khu công nghiệp đang hoạt động (HồngNhung, 2025). Quy mô tập trung công nghiệp này tạo nhu cầu đối với nguyên vật liệu, công nghiệp hỗ trợ, vận tải, kho bãi, sửa chữa, thương mại và các dịch vụ phục vụ sản xuất. Cùng với đó, Vành đai 3, cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Mộc Bài, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu và cụm cảng Cái Mép – Thị Vải làm gia tăng khả năng kết nối giữa các khu vực đô thị, trung tâm sản xuất và đầu mối xuất nhập khẩu. Những thuận lợi về cơ sở hạ tầng này là cơ hội để kinh tế tư nhân tiếp cận rộng hơn với khách hàng, nhà cung ứng và các dịch vụ hỗ trợ, đồng thời có thể phân bố các công đoạn sản xuất, lưu kho và phân phối giữa các địa bàn. Sự kết hợp giữa thị trường lớn, năng lực sản xuất công nghiệp và hệ thống giao thông logistics tạo điều kiện để doanh nghiệp khu vực tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh kết nối với các trung tâm sản xuất của Bình Dương và hệ thống cảng biển của Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngược lại, doanh nghiệp tại các khu vực này có thể tiếp cận hệ thống tài chính, thương mại, dịch vụ và thị trường tiêu dùng của TP. Hồ Chí Minh.

4. Định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong không gian phát triển mới tại TP. Hồ Chí Minh

Từ những kết quả phân tích về điểm nghẽn và điều kiện phát triển mới, cần xác định các định hướng phù hợp với khu vực kinh tế tư nhân của TP. Hồ Chí Minh. Các định hướng này được xem xét trên cơ sở những vấn đề đang tồn tại và những điều kiện mới của không gian kinh tế thành phố.

Một là, cần cải thiện thực thi chính sách và giảm chi phí tuân thủ. Quyết định số 2205/QĐ-UBND ngày 20/10/2025 của UBND TP. Hồ Chí Minh về đặt mục tiêu rút ngắn ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục và cắt giảm 30% chi phí tuân thủ pháp lý (UBND TP. Hồ Chí Minh, 20/10/2025, tr. 5). Việc theo dõi cần ghi nhận thời gian thực tế doanh nghiệp sử dụng để hoàn tất thủ tục, số lần bổ sung hồ sơ và chi phí phát sinh. Sau sắp xếp địa giới, quy hoạch, dữ liệu và quy trình giữa các địa bàn cần được chuẩn hóa.

Hai là, hỗ trợ hộ kinh doanh và doanh nghiệp có khả năng mở rộng. Chính thức hóa hộ kinh doanh chỉ thay đổi hình thức pháp lý nếu không đi kèm thay đổi về năng lực sản xuất, thị trường và quản trị. Chính sách cần phân nhóm hộ kinh doanh theo quy mô và nhu cầu chuyển đổi; nhóm đủ điều kiện có thể được hỗ trợ kế toán, quản trị và tiếp cận tín dụng trong giai đoạn đầu. Với doanh nghiệp đang mở rộng, hỗ trợ cần dựa trên tiêu chí công khai về năng lực, thị trường và khả năng tạo liên kết, tránh phân bổ ưu đãi theo quy mô danh nghĩa. Chỉ số theo dõi cần tách số hộ chuyển đổi pháp lý khỏi số doanh nghiệp tăng doanh thu, lao động, vốn hoặc năng suất sau chuyển đổi.

Ba là, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, mặt bằng và nhân lực. Chính sách tín dụng cần phân biệt doanh nghiệp thiếu vốn với doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện vay, hai trường hợp này đòi hỏi cách xử lý khác nhau. Thành phố cần minh bạch thông tin về mặt bằng sản xuất, tăng khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và kết nối doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo. Đào tạo nhân lực nên gắn với nhu cầu tuyển dụng của các ngành sản xuất, logistics, thương mại và dịch vụ trong không gian phát triển mới.

Bốn là, nâng cấp quản trị và liên kết thị trường. Hỗ trợ doanh nghiệp cần tập trung vào quản trị chi phí, chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số phù hợp với quy mô và ngành nghề. Trong không gian phát triển mới, cần tăng liên kết giữa các khu vực dịch vụ, sản xuất công nghiệp và cảng biển – logistics trên địa bàn thành phố. Mạng lưới này tạo điều kiện để doanh nghiệp khu vực tư nhân mở rộng thị trường, tham gia các quan hệ cung ứng và chuyên môn hóa hoạt động.

5. Kết luận

Kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh đã mở rộng về quy mô và có vị trí ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế, song năng lực phát triển giữa các nhóm doanh nghiệp còn chưa đồng đều. Những hạn chế về quy mô, hiệu quả kinh doanh, khả năng tích lũy và tiếp cận nguồn lực ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng hoạt động của doanh nghiệp. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, không gian phát triển được mở rộng, tạo điều kiện tăng cường kết nối thị trường, các khu vực sản xuất, dịch vụ và hệ thống cảng biển – logistics trên cùng một địa bàn. Đây là cơ sở để kinh tế tư nhân mở rộng mạng lưới cung ứng, phát triển thị trường và tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh đó, phát huy hiệu quả không gian phát triển mới gắn với hoàn thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực nội tại sẽ tạo động lực để kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh phát triển bền vững, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.

Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (03/6/2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bộ Chính trị (04/5/2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2023. Nxb. Thống kê.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2025. Nxb. Thống kê.
Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2021). Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. Nxb. Tổng hợp. TP. Hồ Chí Minh.
Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh (2025). Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024. Nxb. Tổng hợp. TP. Hồ Chí Minh.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011a). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X). Nxb. Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011b). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Hà Duyên (02/4/2025). 39% doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP.HCM vẫn “khát vốn”. Báo Nông nghiệp và Môi trường. https://nongnghiepmoitruong.vn/39-doanh-nghiep-vua-va-nho-tai-tphcm-van-khat-von-d746173.html.
Hồng Nhung (15/4/2025). “Siêu đô thị” TP. Hồ Chí Minh sau sáp nhập chiếm 1/4 GDP cả nước. Znews. https://znews.vn/sieu-do-thi-tphcm-sau-sap-nhap-chiem-14-gdp-ca-nuoc-post1545731.html.
Kim Dung (17/5/2026). TP. Hồ Chí Minh: Từ vị thế “đầu tàu” BPI đến sứ mệnh hóa giải “điểm nghẽn” điều hành. Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp. https://diendandoanhnghiep.vn/tp-hcm-tu-vi-the-dau-tau-bpi-den-su-menh-hoa-giai-diem-nghen-dieu-hanh-10178968.html.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2026). Báo cáo kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.
Nguyễn Đình Bình (2020). Phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 17.
Nguyễn Tuấn Anh (18/5/2025). Phát huy vai trò kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/phat-huy-vai-tro-kinh-te-tu-nhan-tai-thanh-pho-ho-chi-minh-post880630.html
Tạp chí Công nghiệp & Tiêu dùng (18/9/2017). TP. Hồ Chí Minh thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. https://congnghieptieudung.vn/tp-ho-chi-minh-thuc-day-kinh-te-tu-nhan-phat-trien-dt9302.
UBND TP. Hồ Chí Minh (20/10/2025). Quyết định số 2205/QĐ-UBND về Ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình hành động của Thành ủy số 02-CTrHĐ/TU ngày 16/8/2025 về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân tại TP. Hồ Chí Minh.