Ideological work capacity of commune-level governments in the two-tier local government model
TS. Lê Thị Vân Anh
Học viện Hành chính và Quản trị công
Email: anhltv@apag.edu.vn
(Quanlynhanuoc.vn) – Mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành đặt ra yêu cầu mới đối với chính quyền cấp xã trong tương tác với Nhân dân. Bài viết làm rõ năng lực công tác tư tưởng, đề xuất khung sáu thành tố và nhận diện các vấn đề sau một năm vận hành mô hình. Bài viết sử dụng phân tích văn bản chính sách, tổng hợp tài liệu và đối chiếu kết quả thực tiễn. Kết quả cho thấy, cần chuyển từ truyền đạt một chiều sang truyền thông chính sách hai chiều, gắn với nắm bắt dư luận, đối thoại, phản hồi và dữ liệu. Bài viết đề xuất giải pháp về thể chế, đội ngũ, quy trình, phối hợp và đánh giá nhằm nâng cao chất lượng quản trị và củng cố đồng thuận xã hội ở cơ sở.
Từ khóa: Công tác tư tưởng; chính quyền cấp xã; truyền thông chính sách; đồng thuận xã hội; quản trị địa phương.
Abstract: The operation of the two-tier local government model creates new requirements for commune-level governments in their interactions with citizens. This article clarifies ideological work capacity, proposes a six-component framework, and identifies key issues after one year of implementation. The study uses policy-document analysis, literature synthesis, and comparison of practical results. Findings indicate the need to shift from one-way information dissemination to two-way policy communication, linked with public-opinion monitoring, dialogue, feedback, and data use. The article proposes solutions concerning institutions, personnel, operational processes, coordination, and evaluation to improve local governance quality and strengthen social consensus at the grassroots level.
Keywords: Ideological work; commune-level government; policy communication; social consensus; local governance.
1. Đặt vấn đề
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một trong những thay đổi thể chế có phạm vi rộng và tác động trực tiếp nhất đến phương thức quản trị địa phương. Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 đã xác lập cơ sở hiến định, pháp lý cho việc tổ chức chính quyền địa phương theo hai cấp là cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu phân định rõ thẩm quyền, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp, tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, phục vụ Nhân dân (Quốc hội, 2025a). Trên cơ sở đó, Quyết định số 759/QĐ-TTg ngày 14/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ xác định cấp xã sau sắp xếp phải có khả năng quản lý hiệu quả địa bàn, nắm chắc tình hình, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn (Thủ tướng Chính phủ, 2025).
Trong bối cảnh đó, năng lực công tác tư tưởng của chính quyền cấp xã trở thành điều kiện quan trọng đối với chất lượng quản trị. Tuy nhiên, cần phân định rõ: công tác tư tưởng là một bộ phận quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng; chính quyền không thay thế chức năng của cấp ủy, cơ quan tuyên giáo và dân vận. Với tư cách là thiết chế thực thi quyền lực nhà nước và là cấp chính quyền gần người dân nhất, chính quyền cấp xã trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành nhận thức, thái độ và mức độ đồng thuận của người dân thông qua cung cấp thông tin, truyền thông và giải thích chính sách, phổ biến pháp luật, tiếp công dân, đối thoại, tiếp nhận phản ánh, giải trình và xử lý các vấn đề phát sinh. Chính chất lượng của những hoạt động đó ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin, sự hợp tác và mức độ tuân thủ của người dân đối với chính sách, pháp luật.
Yêu cầu này đã được phản ánh trong các chủ trương và quy định mới. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng, nâng cao tính thuyết phục trong tuyên truyền; đồng thời, xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch và nâng cao năng lực quản trị ở cấp cơ sở (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026a). Điều 43 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định đối thoại giữa chính quyền cấp xã với Nhân dân, theo đó, chính quyền cấp xã phải tổ chức đối thoại ít nhất mỗi năm một lần, có thể bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc qua mạng xã hội hoạt động hợp pháp; đồng thời, phải thông tin kết quả đối thoại đến Nhân dân (Quốc hội, 2025b). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ về truyền thông chính sách yêu cầu tăng cường thông tin đa chiều, tương tác và truyền thông từ sớm trong quá trình xây dựng chính sách (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Đây là những cơ sở quan trọng để nhìn nhận công tác tư tưởng của chính quyền không chỉ là tuyên truyền sau khi chính sách đã ban hành mà phải gắn với toàn bộ chu trình quản trị.
2. Năng lực công tác tư tưởng của chính quyền cấp xã trong quản trị địa phương
2.1. Công tác tư tưởng và vai trò tham gia của chính quyền cấp xã
Công tác tư tưởng có chức năng tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, củng cố niềm tin, định hướng giá trị và góp phần huy động sự tham gia của các chủ thể xã hội đối với mục tiêu chung. Trong hệ thống chính trị Việt Nam, công tác tư tưởng thuộc phương thức lãnh đạo của Đảng và phải được đặt trong quan hệ với công tác tổ chức, dân vận, kiểm tra, giám sát và hoạt động của Nhà nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng gắn với tăng tính giáo dục, tính thuyết phục, nâng cao hiệu quả tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quản lý hiệu quả môi trường thông tin và nghiên cứu chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh chuyển đổi số (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026a).
Đối với chính quyền cấp xã, khái niệm “công tác tư tưởng” không nên được hiểu như việc chính quyền thiết lập một hệ thống chức năng tư tưởng song song với tổ chức Đảng. Vai trò phù hợp của chính quyền được thể hiện qua những hoạt động gắn với chức năng quản lý nhà nước: công khai và giải thích quyết định quản lý; phổ biến, giáo dục pháp luật; truyền thông dự thảo và chính sách có tác động trực tiếp; tiếp công dân; tổ chức đối thoại; cung cấp dịch vụ công; giải quyết phản ánh, khiếu nại, kiến nghị; thông tin trong tình huống khẩn cấp; phối hợp xử lý thông tin sai lệch liên quan đến hoạt động công vụ. Đây là những điểm tiếp xúc mà người dân trực tiếp đánh giá sự gần dân, minh bạch, công bằng và trách nhiệm của chính quyền.
Cách tiếp cận này tương thích với xu hướng coi truyền thông công là một cấu phần của quản trị. OECD (2021) cho rằng, truyền thông công hiệu quả không dừng ở việc chuyển tải thông điệp mà phải được thể chế hóa, chuyên nghiệp hóa, gắn với mục tiêu chính sách, dựa trên bằng chứng, lắng nghe và đánh giá kết quả, qua đó, hỗ trợ minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia và niềm tin. Trong điều kiện Việt Nam, những nguyên tắc này có thể được chuyển hóa thành yêu cầu đối với chính quyền cấp xã: thông tin đúng và kịp thời; giải thích dễ hiểu; đối thoại thực chất; phản hồi có trách nhiệm; bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động công vụ; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.
2.2. Cấu trúc năng lực công tác tư tưởng của chính quyền cấp xã
Từ yêu cầu của quản trị địa phương, đối thoại với Nhân dân và truyền thông chính sách, có thể xem năng lực công tác tư tưởng của chính quyền cấp xã là một chỉnh thể gồm nhiều năng lực thành phần có quan hệ chặt chẽ, vận hành từ nắm bắt tình hình, truyền thông, đối thoại đến tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh hoạt động quản trị. Công tác tư tưởng của chính quyền không chỉ là phổ biến chủ trương, chính sách mà còn là quá trình tương tác nhằm tạo sự hiểu biết và đồng thuận xã hội. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đặt ra yêu cầu đối thoại và thông báo kết quả đối thoại với Nhân dân.
Trước hết, chính quyền cấp xã cần có năng lực nhận diện và phân tích tình hình tư tưởng, tâm trạng và dư luận xã hội. Thông tin từ các kênh tiếp xúc trực tiếp và môi trường số cần được tổng hợp, kiểm chứng để xác định đúng vấn đề và nguyên nhân. OECD (2021) cho rằng, truyền thông công mang tính chiến lược phải dựa trên bằng chứng và hiểu biết về công chúng. Trên cơ sở đó, chính quyền cần có năng lực truyền thông và giải thích chính sách, chuyển hóa quy định pháp lý, hành chính thành thông tin rõ ràng, dễ hiểu.
Tiếp theo là năng lực đối thoại, thuyết phục và xử lý bất đồng. Cán bộ cấp xã phải biết lắng nghe, trả lời có căn cứ, tôn trọng khác biệt và xử lý phù hợp vướng mắc phát sinh từ thực thi. Sau đối thoại, phản hồi của người dân cần được phân loại theo thẩm quyền, chuyển thành hành động xử lý, điều chỉnh cách thức thực hiện hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét. Như vậy, phản hồi xã hội không chỉ là kết quả của truyền thông mà còn là nguồn dữ liệu phục vụ cải thiện quản trị. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu chuyển từ truyền thông một chiều sang truyền thông dựa trên lắng nghe, phản hồi và đánh giá kết quả OECD (2021).
Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực truyền thông số và quản trị thông tin là thành tố không thể thiếu. Chính quyền cấp xã cần sử dụng nền tảng số để cung cấp thông tin, theo dõi dư luận và phản hồi nội dung sai lệch. OECD (2023) nhấn mạnh việc ứng phó với thông tin sai lệch cần bảo đảm tính minh bạch, chính xác, kịp thời và hướng tới lợi ích công. Vì vậy, cần xác minh trước khi phát ngôn và không đồng nhất ý kiến phê bình chính đáng với thông tin sai lệch. Quan trọng hơn, nếu phản ứng tiêu cực của người dân bắt nguồn từ hạn chế trong thực thi chính sách thì biện pháp căn bản phải là khắc phục nguyên nhân quản trị chứ không chỉ tăng cường truyền thông.
Cuối cùng, các năng lực trên chỉ phát huy đầy đủ khi có cơ chế phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và thôn, tổ dân phố. Có thể khái quát thành sáu thành tố liên thông: nhận diện và phân tích tình hình; truyền thông và giải thích chính sách; đối thoại và thuyết phục; tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh quản trị; truyền thông số và quản trị thông tin; phối hợp trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Việc vận hành đồng bộ sáu thành tố này góp phần nâng cao năng lực quản trị và tạo đồng thuận xã hội.
3. Thực trạng năng lực và những vấn đề đặt ra sau một năm vận hành mô hình hai cấp
Sau một năm vận hành, mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhìn chung đã duy trì được hoạt động hành chính liên tục, từng bước rút ngắn tầng nấc và tăng khả năng xử lý công việc ở cơ sở. Hà Nội đánh giá phương thức quản trị mới theo hướng hiệu quả, gần dân hơn và chuyển dần từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại (Gia Huy, 2026); TP. Hồ Chí Minh ghi nhận hệ thống chính trị và chính quyền địa phương vận hành ổn định, thông suốt, khả năng tiếp nhận và giải quyết vấn đề phát sinh được tăng cường (Linh Văn, 2026).
Tuy nhiên, việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương hai cấp (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026b) và Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 09/8/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương hai cấp (Chính phủ, 2026) cho thấy, mô hình vẫn ở giai đoạn cần tiếp tục hoàn thiện về thể chế, nhân lực, nguồn lực và phương thức vận hành. Trên phương diện công tác tư tưởng, có thể nhận diện sáu nhóm vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, năng lực nắm bắt, phân tích và dự báo dư luận chưa đồng đều. Thực tế quản trị cơ sở cho thấy, thông tin về tâm trạng và phản ứng của người dân vẫn thường được thu nhận qua nhiều kênh rời rạc: tiếp công dân, phản ánh tại bộ phận một cửa, kiến nghị qua đại biểu dân cử, Mặt trận và đoàn thể, thôn/tổ dân phố, đường dây nóng hoặc mạng xã hội. Vấn đề không nằm ở việc thiếu thông tin mà ở khả năng tổng hợp thành dữ liệu có cấu trúc, xác định xu hướng và mức độ ưu tiên. Nếu mỗi đầu mối chỉ xử lý vụ việc, chính quyền có thể bỏ lỡ dấu hiệu lặp lại của một bất cập chính sách. Yêu cầu xây dựng dữ liệu liên thông từ cấp tỉnh đến cấp xã trong các chủ trương mới cho thấy, việc chuyển từ “nghe bằng kinh nghiệm” sang “lắng nghe có hệ thống” là một nội dung phải được đầu tư.
Thứ hai, truyền thông chính sách còn thiên về một chiều. Một hạn chế phổ biến của truyền thông công là tập trung vào việc công bố văn bản, đăng tin hoạt động hoặc thông báo kết quả mà chưa phân tích đầy đủ nhóm chịu tác động, câu hỏi người dân có thể đặt ra và hành vi cần được hỗ trợ. OECD (2021) nhận diện xu hướng nhiều cơ quan công quyền ưu tiên “thông báo” hơn “lắng nghe”, dẫn đến truyền thông mang tính chiến thuật, rời rạc và khó đo lường tác động. Ở cấp xã, nguy cơ này thể hiện rõ khi thông tin pháp lý được sao chép nguyên văn, sử dụng thuật ngữ chuyên môn hoặc phát đi sau khi dư luận đã hình thành. Quyết định số 407/QĐ-TTg đặt yêu cầu truyền thông sớm, đa chiều và công khai tiếp thu, giải trình, vì vậy, khoảng cách giữa yêu cầu chính sách và năng lực thực hiện ở cơ sở cần được thu hẹp.
Thứ ba, kỹ năng đối thoại và xử lý tình huống chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu mới. Đối thoại công không chỉ là trả lời câu hỏi. Cán bộ chủ trì phải biết chuẩn bị dữ liệu, phân biệt vấn đề thuộc thẩm quyền và vượt thẩm quyền, giải thích căn cứ pháp lý bằng ngôn ngữ dễ hiểu, kiểm soát cảm xúc, tôn trọng ý kiến khác biệt và cam kết rõ việc nào sẽ xử lý, việc nào cần kiến nghị. Khi gặp vấn đề nhạy cảm liên quan đến quyền lợi, đất đai, sắp xếp thiết chế hoặc chất lượng dịch vụ công, cách phản hồi thiếu chuẩn bị có thể làm gia tăng căng thẳng dù bản thân quyết định quản lý có căn cứ. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026 – 2031 cho thấy, năng lực của đội ngũ cấp xã đang được xác định là một khâu cần đầu tư có hệ thống (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Công tác tư tưởng, truyền thông, đối thoại và xử lý tình huống cần được tích hợp trong chương trình bồi dưỡng thay vì coi là kỹ năng mềm bổ trợ.
Thứ tư, năng lực truyền thông số và quản trị thông tin chưa đồng đều. Có tài khoản hoặc trang mạng xã hội chưa đồng nghĩa với có năng lực truyền thông số. Năng lực thực chất đòi hỏi quy trình xác minh, lịch nội dung, tiêu chuẩn thông điệp, phân quyền quản trị tài khoản, quy tắc lưu trữ, bảo vệ dữ liệu, cơ chế phản hồi bình luận và khả năng đo lường tương tác. Trong khi đó, điều kiện hạ tầng, nguồn nhân lực và trình độ số giữa các địa bàn vẫn khác nhau; một số nơi có thể phụ thuộc vào cá nhân am hiểu công nghệ thay vì quy trình của tổ chức. Điều này tạo rủi ro mất tính liên tục khi cán bộ thay đổi vị trí, khó kiểm soát chất lượng và có thể dẫn đến phản ứng chậm trước thông tin sai lệch. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Bộ Chính trị, 2024) và Kết luận số 76-KL/TW đều đặt yêu cầu phát triển dữ liệu, chính quyền số và hạ tầng liên thông đến cấp xã, tạo cơ hội nhưng đồng thời làm tăng yêu cầu chuyên nghiệp hóa năng lực này.
Thứ năm, cơ chế phối hợp chưa được chuẩn hóa đầy đủ. Một vấn đề tư tưởng ở cơ sở thường không nằm trọn trong phạm vi của một cơ quan. Ví dụ, phản ứng của người dân trước một dự án có thể đồng thời liên quan đến chính quyền, cấp ủy, Mặt trận, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đơn vị đầu tư và tổ dân phố. Nếu thiếu quy trình phối hợp, dễ xảy ra tình trạng nhiều đầu mối cùng phát thông tin nhưng nội dung khác nhau, hoặc ngược lại không cơ quan nào chủ động phản hồi vì chờ ý kiến cấp trên. Năng lực công tác tư tưởng cần được nhìn ở cấp độ liên tổ chức: ai phát hiện vấn đề, ai xác minh, ai chủ trì thông điệp, ai phát ngôn, ai trả lời từng nhóm câu hỏi và ai theo dõi phản ứng sau truyền thông. Kết luận số 76-KL/TW và Nghị quyết số 221/NQ-CP tiếp tục nhấn mạnh hoàn thiện cơ chế vận hành, phân định chức năng và phối hợp trong mô hình mới, đây là cơ sở để chuẩn hóa quy trình thông tin ở cấp xã.
4. Giải pháp nâng cao năng lực công tác tư tưởng của chính quyền cấp xã
Một là, hoàn thiện nhận thức và thể chế hóa đúng vai trò của chính quyền cấp xã trong công tác tư tưởng.
Trước hết cần thống nhất nhận thức rằng, năng lực công tác tư tưởng của chính quyền cấp xã là năng lực tham gia công tác tư tưởng thông qua chức năng quản lý nhà nước, không phải sự chuyển giao hoặc nhân đôi chức năng lãnh đạo tư tưởng của tổ chức Đảng. Cấp ủy giữ vai trò lãnh đạo, định hướng chính trị; chính quyền chịu trách nhiệm cung cấp thông tin công vụ, giải thích chính sách, tổ chức đối thoại, tiếp nhận phản hồi, thực thi pháp luật và giải trình về quyết định quản lý; Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội phát huy vai trò vận động, giám sát, phản biện và phản ánh ý kiến của Nhân dân. Phân định rõ như vậy vừa tránh hành chính hóa công tác tư tưởng, vừa khắc phục tâm lý coi truyền thông, đối thoại là việc “phụ” của bộ phận văn hóa – xã hội. Trong quy chế làm việc của UBND cấp xã nên xác định trách nhiệm truyền thông và phản hồi gắn với từng lĩnh vực quản lý; đồng thời, xây dựng đầu mối phối hợp chung cho các vấn đề liên ngành.
Hai là, xây dựng khung năng lực và chương trình bồi dưỡng chuyên biệt cho cán bộ, công chức cấp xã.
Quyết định số 700/QĐ-TTg tạo cơ sở thuận lợi để đổi mới bồi dưỡng đội ngũ cấp xã trong giai đoạn 2026 – 2031. Nội dung bồi dưỡng nên chuyển mạnh từ truyền đạt kiến thức sang thực hành tình huống: giải thích một chính sách phức tạp trong ba phút; thiết kế thông điệp cho các nhóm dân cư khác nhau; xử lý cuộc đối thoại có ý kiến gay gắt; xác minh thông tin lan truyền trên mạng; chuẩn bị bản hỏi – đáp; xây dựng kế hoạch truyền thông rủi ro; phân tích dữ liệu phản ánh; viết thông tin đính chính và tổ chức họp báo/đối thoại ở quy mô cơ sở. Kết quả bồi dưỡng cần được đánh giá bằng sản phẩm, mô phỏng và khả năng xử lý tình huống thay vì chỉ bằng thời lượng tham dự.
Ba là, chuyển từ truyền thông một chiều sang quản trị truyền thông chính sách hai chiều.
Mỗi chính sách hoặc quyết định có tác động đáng kể ở cấp xã nên được tổ chức truyền thông theo một chu trình tối thiểu gồm tám bước: nhận diện vấn đề; xác định nhóm chịu tác động; phân tích nhu cầu thông tin; thiết kế thông điệp; lựa chọn kênh; tổ chức truyền thông và đối thoại; tiếp nhận – phân loại phản hồi; đánh giá và điều chỉnh. Cách làm này phù hợp với tinh thần truyền thông chính sách từ sớm của Quyết định số 407/QĐ-TTg và với quan điểm truyền thông chiến lược dựa trên bằng chứng của OECD (2021).
Ở giai đoạn chuẩn bị, cần lập “bản đồ câu hỏi” dự kiến người dân sẽ quan tâm, thay vì chỉ chuẩn bị bản tóm tắt văn bản. Ở giai đoạn thực hiện, nội dung phải sử dụng ngôn ngữ rõ, ví dụ cụ thể, infographic hoặc video ngắn khi phù hợp. Ở giai đoạn sau truyền thông, phải công khai những câu hỏi chưa xử lý ngay, thời hạn phản hồi và nội dung đã điều chỉnh từ ý kiến người dân. Khi người dân nhìn thấy phản hồi của mình tạo ra hành động, truyền thông mới thực sự trở thành công cụ tạo đồng thuận.
Bốn là, thiết lập cơ chế nắm bắt dư luận và cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu.
Mỗi cấp xã cần có một cơ chế tổng hợp dữ liệu phản ánh từ các kênh hiện có thay vì tạo thêm nhiều hệ thống rời rạc. Có thể thiết lập bảng theo dõi chung gồm: vấn đề; nguồn phản ánh; nhóm dân cư bị tác động; mức độ lặp lại; tính khẩn cấp; cơ quan phụ trách; thời hạn xử lý; trạng thái phản hồi và xu hướng dư luận sau xử lý. Dữ liệu có thể đến từ bộ phận một cửa, tiếp công dân, đường dây nóng, cổng dịch vụ công, hội nghị đối thoại, Mặt trận Tổ quốc, thôn/tổ dân phố và thông tin công khai trên mạng xã hội. Đối với vấn đề có dấu hiệu lan rộng, cần kích hoạt quy trình xác minh và báo cáo nhanh. Công nghệ phân tích dữ liệu hoặc công cụ hỗ trợ theo dõi có thể được sử dụng, nhưng phải tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu, không thu thập tùy tiện thông tin cá nhân và không thay thế trách nhiệm đánh giá của cán bộ. Mục tiêu của “lắng nghe số” không phải giám sát ý kiến người dân mà là phát hiện sớm khoảng trống thông tin và điểm nghẽn quản trị để phản hồi tốt hơn.
Năm là, thể chế hóa đối thoại với Nhân dân thành công cụ quản trị thường xuyên.
Điều 43 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã tạo một cơ chế rất đáng chú ý: đối thoại cấp xã không chỉ trực tiếp mà có thể trực tuyến hoặc qua mạng xã hội hợp pháp; kết quả đối thoại phải được thông báo đến Nhân dân trong thời hạn luật định. Cần khai thác quy định này theo hướng thực chất. Trước đối thoại, chính quyền công bố chủ đề, dữ liệu nền và kênh tiếp nhận câu hỏi; trong đối thoại, phân nhóm vấn đề, trả lời thẳng vào nội dung và ghi nhận rõ việc vượt thẩm quyền; sau đối thoại, công khai bảng cam kết gồm nội dung – đơn vị xử lý – thời hạn – kết quả. Đối với xã, phường có quy mô lớn, nên kết hợp đối thoại theo cụm địa bàn với đối thoại chuyên đề về những chính sách tác động mạnh. Đồng thời, không nên chờ đến hội nghị định kỳ mới đối thoại; khi phát sinh vấn đề có nguy cơ tạo hiểu lầm hoặc xung đột lợi ích, đối thoại sớm thường ít tốn kém hơn xử lý khủng hoảng sau đó.
Sáu là, thể hóa cơ chế phối hợp và nguyên tắc “một đầu mối – một thông điệp cốt lõi – nhiều chủ thể lan tỏa”.
Đối với các vấn đề tư tưởng và dư luận phức tạp, cấp xã cần có quy trình phối hợp ngắn, rõ trách nhiệm. Một đầu mối của chính quyền tổng hợp dữ liệu và phối hợp xác minh; cấp có thẩm quyền thống nhất thông điệp cốt lõi dựa trên sự thật, căn cứ pháp lý và phương án xử lý, sau đó các chủ thể trong hệ thống chính trị cơ sở truyền tải phù hợp với nhóm đối tượng của mình. Nguyên tắc này không có nghĩa mọi phát ngôn phải giống từng câu chữ mà bảo đảm nhất quán về dữ kiện, quan điểm xử lý và cam kết. Cấp ủy định hướng chính trị; Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm thông tin công vụ và thực thi; Mặt trận, đoàn thể tăng cường tiếp xúc, giải thích, phản ánh tâm tư; thôn, tổ dân phố hỗ trợ đưa thông tin tới hộ dân và phản hồi ngược. Với vấn đề vượt thẩm quyền, cấp xã phải chủ động báo cáo và thông tin rõ cho người dân về đầu mối, tiến độ, thay vì im lặng chờ cấp trên.
Bảy là, đổi mới đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng theo kết quả và mức độ tin cậy.
Cần thay cách đánh giá dựa chủ yếu vào số cuộc tuyên truyền, số tin bài, số người tham dự bằng bộ chỉ báo phản ánh kết quả quản trị. Có thể chia thành bốn nhóm: (1) Chỉ báo tiếp cận và hiểu biết, như tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin chính thức, mức độ hiểu đúng nội dung cốt lõi; (2) Chỉ báo phản hồi, như thời gian trả lời, tỷ lệ kiến nghị xử lý đúng hạn, tỷ lệ kết quả được công khai; (3) Chỉ báo tương tác và đồng thuận, như mức độ hài lòng sau đối thoại, tỷ lệ vấn đề được giải quyết mà không phát sinh khiếu nại kéo dài; (4) Chỉ báo năng lực tổ chức, như mức độ hoàn thiện quy trình, chất lượng phối hợp, khả năng lưu trữ và phân tích dữ liệu. Không nên biến “đồng thuận” thành yêu cầu mọi ý kiến phải giống nhau; trong quản trị hiện đại, đồng thuận bền vững được xây dựng trên cơ sở người dân được thông tin đầy đủ, có cơ hội trình bày ý kiến và nhận được giải thích, phản hồi có căn cứ. Vì vậy, một chính quyền dám công khai vấn đề, thừa nhận điểm chưa hợp lý và điều chỉnh khi có căn cứ có thể tạo niềm tin cao hơn một chính quyền chỉ tìm cách giảm số lượng ý kiến trái chiều.
5. Kết luận
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu cao hơn về tính minh bạch, tốc độ phản hồi và khả năng tạo đồng thuận của chính quyền cấp xã. Do đó, năng lực công tác tư tưởng ở cấp xã cần được nhìn nhận như một năng lực quản trị công đặc thù, gồm sáu thành tố cốt lõi: nhận diện dư luận; truyền thông chính sách; đối thoại, xử lý bất đồng; tiếp nhận phản hồi; truyền thông số; và phối hợp hệ thống chính trị. Để nâng cao hiệu quả, chính quyền cấp xã cần đổi mới căn bản: chuyển từ truyền đạt một chiều sang giao tiếp hai chiều, từ xử lý sự vụ sang cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu, và từ đo đếm số lượng hoạt động sang đánh giá niềm tin cùng chất lượng thực thi. Đây là nền tảng then chốt giúp củng cố niềm tin, xây dựng chính quyền gần dân, trách nhiệm và phục vụ.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 09/8/2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 76-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV) về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Gia Huy (09/6/2026). Hà Nội sau 1 năm triển khai chính quyền địa phương 2 cấp: Hiệu quả và gần dân hơn. Báo Chính phủ. https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-sau-1-nam-trien-khai-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-hieu-qua-va-gan-dan-hon-103260609155650423.htm
Linh Văn (01/7/2026). TP. Hồ Chí Minh: Sau 1 năm vận hành, chính quyền địa phương gần dân, phục vụ người dân tốt hơn. Báo Chính phủ. https://tphcm.chinhphu.vn/tphcm-sau-1-nam-van-hanh-chinh-quyen-dia-phuong-gan-dan-phuc-vu-nguoi-dan-tot-hon-101260701170727015.htm
OECD (2021). OECD Report on Public Communication: The Global Context and the Way Forward. Paris: OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/22f8031c-en.
OECD (2023). Good Practice Principles for Public Communication Responses to Mis- and Disinformation. OECD Public Governance Policy Papers, No. 30. Paris: OECD Publishing.
Quốc hội (2025a). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2025b). Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022-2027”.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 759/QĐ-TTg ngày 14/4/2025 phê duyệt Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 700/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 phê duyệt Đề án tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, đặc khu đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương hai cấp giai đoạn 2026 – 2031.



