ThS. Lương Văn Đăng
Học viện Hành chính Quốc gia
(Quanlynhanuoc.vn) – Năm 2022, chỉ số chuyển đổi số (DTI) của tỉnh Bắc Giang xếp thứ 9/63 tỉnh, thành phố. Bắc Giang dẫn đầu cả nước về chỉ số thành phần hiện đại hóa nền hành chính trong chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh; chỉ số sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển công nghệ – thông tin Việt Nam (ICT Index) xếp thứ 5 cả nước1. Đây là minh chứng rõ nét nhất thể hiện sức mạnh tổng hợp của tỉnh Bắc Giang trong ứng dụng công nghệ – thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện về lĩnh vực chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Bắc Giang luôn được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh tập trung chỉ đạo quyết liệt. Quan điểm xuyên suốt của tỉnh Bắc Giang được thể hiện tại Nghị quyết số 111-NQ/TU ngày 11/6/2021 của Tỉnh ủy về chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 là lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và là động lực, nguồn lực của chuyển đổi số. Chuyển đổi số phải để người dân, doanh nghiệp hưởng lợi từ dịch vụ công, tiện ích xã hội thuận tiện hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và chính họ sẽ tạo ra nguồn lực cho sự phát triển.
Việc ứng dụng công nghệ – thông tin, chuyển đổi số tại tỉnh Bắc Giang
Thứ nhất, phát triển hạ tầng số.
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh là đơn vị chủ trì duy trì, quản trị, vận hành và hỗ trợ các đơn vị khai thác sử dụng các hệ thống thông tin, phần mềm dùng chung của tỉnh. Hệ thống đường truyền, số liệu chuyên dùng được kết nối từ trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh đến 10 huyện, thành phố, 209 xã, phường thị trấn và 10 văn phòng quản lý đất đai các huyện, thành phố2; đường truyền mạng WAN kết nối các sở, ngành thuộc UBND tỉnh luôn bảo đảm vận hành các ứng dụng dùng chung hiện có của tỉnh.
Cùng với đó, tỉnh đang triển khai dự án xây dựng trung tâm dữ liệu chuyển đổi số tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2025; triển khai lắp đặt, kết nối, vận hành 1.065 camera trên địa bàn 10/10 huyện, thành phố, 1 Trung tâm giám sát cấp tỉnh, 10 Trung tâm giám sát cấp huyện đặt tại Công an các huyện, thành phố; hoàn thành lắp đặt, kết nối đưa vào sử dụng 29 camera giao thông3. Việc khai thác hệ thống camera đã giúp lực lượng Công an điều tra, giải quyết nhiều vụ việc về an ninh, trật tự; bảo đảm trật tự giao thông trên địa bàn tỉnh.
Thứ hai, phát triển các hệ thống nền tảng số.
Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC) tỉnh được vận hành, bao gồm: hệ thống thông tin phản ánh hiện trường, hệ thống tổng hợp thông tin kinh tế-xã hội và các hệ thống khác đã thực hiện hoạt động, vận hành, góp phần phục vụ sự chỉ đạo, điều hành linh hoạt về phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
Nền tảng, tích hợp chia sẻ dữ liệu tỉnh (LGSP) đã kết nối đến nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu quốc gia (NGSP) với 13 dịch vụ đến các bộ, ngành trung ương, kết nối nội tỉnh thông qua LGSP 26 dịch vụ4. Theo đó, các cấp, các ngành duy trì, vận hành các hệ thống thông tin để kết nối, liên thông dữ liệu đến các bộ, ngành trung ương và tiếp tục khảo sát, phát triển nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu trong năm 2023.
Thứ ba, phát triển các ứng dụng, cơ sở dữ liệu, dịch vụ số.
Thực hiện năm Dữ liệu quốc gia, trong 6 tháng đầu năm 2023, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành các văn bản theo chỉ đạo của Chính phủ, gồm: Quyết định số 601/QĐ-UBND ngày 26/4/2023 ban hành danh mục cơ sở dữ liệu dùng chung tỉnh Bắc Giang; Kế hoạch số 80/UBND-KH ngày 26/4/2023 cung cấp dữ liệu mở trong các cơ quan nhà nước tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2023 – 2025; Quyết định số 791/QĐ-UBND ngày 17/5/2023 ban hành danh mục dữ liệu mở tỉnh Bắc Giang năm 2023.
UBND tỉnh Bắc Giang tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc 25/25 dịch vụ công thiết yếu được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia để phục vụ các nhu cầu giao dịch của người dân và doanh nghiệp. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, cấp xã tiếp tục hoạt động hiệu quả; các thủ tục hành chính mới ban hành thường xuyên cập nhật, niêm yết công khai
Cổng dữ liệu mở tỉnh Bắc Giang đã được xây dựng và phát triển, cung cấp danh mục dữ liệu mở của các ngành Nội vụ, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ. Cổng thông tin không gian (SDI) xây dựng tạo nền tảng để triển khai các ứng dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý phát triển đô thị nhằm thúc đẩy tiến trình xây dựng phát triển đô thị thông minh.
Công an tỉnh đã thực hiện việc kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hầu hết các chuyên ngành, triển khai sử dụng phần mềm quản lý nhà trọ, thu nhận hồ sơ cấp định danh điện tử… Đến nay, tổng thu nhận hồ sơ định danh điện tử trên địa bàn tỉnh: 912.695 trường hợp; Bộ Công an đã phê duyệt kích hoạt tài khoản đưa vào sử dụng 521.509/1.450.945 trường hợp, đạt 36% (chỉ tiêu UBND tỉnh giao năm 2023 là 30%), đứng thứ 5 toàn quốc về kết quả kích hoạt tài khoản định danh điện tử5.
Sở Thông tin và Truyền thông tiếp tục duy trì, phát triển các hệ thống thông tin dùng chung và các phần mềm phục vụ chỉ đạo điều hành và chuyên ngành, như: hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành công việc và ký số; hệ thống thư công vụ; hệ thống cổng thông tin điện tử; hệ thống phòng họp không giấy tờ; phần mềm theo dõi ý kiến chỉ đạo điều hành; phần mềm số hóa, bản đồ hóa hệ thống thông tin cơ bản của tỉnh…
Ngành Y tế bước đầu đã triển khai đẩy dữ liệu từ công tác khám, chữa bệnh theo chuẩn định dạng của Bộ Y tế lên Trung tâm điều hành của Sở Y tế phục vụ công tác chỉ đạo và điều hành lĩnh vực y tế.
Ngành Giáo dục duy trì tốt việc triển khai áp dụng hồ sơ sổ sách điện tử với tất cả các cơ sở giáo dục (từ cấp tiểu học trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên), triển khai toàn diện công tác cập nhật, báo cáo, thống kê trên nền tảng theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo,…duy trì hiệu quả các nền tảng hỗ trợ dạy học trực tuyến đã được triển khai phục vụ các hoạt động chuyên môn của ngành.
Ngành Tài nguyên và Môi trường đã vận hành ổn định hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường; thực hiện kết nối cơ sở dữ liệu đất đai của tỉnh với cơ sở dữ liệu đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đã vận hành phần mềm và đưa toàn bộ dữ liệu không gian địa chính để vận hành chính thức tại 6 huyện (Yên Dũng, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, Lục Nam và Yên Thế); đã ký số tích hợp được 393.106 thửa đất, đạt 86,48% số thửa đã tiếp nhận; cơ sở dữ liệu 3 thành phần được tích hợp lên phần mềm VBDLIS6.
Đánh giá chung
Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục quan tâm, chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng và phát triển chính quyền điện tử, thực hiện chuyển đổi số. Hạ tầng kỹ thuật trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh tiếp tục vận hành, duy trì hoạt động ổn định. Hệ thống hội nghị truyền hình được trang bị từ cấp tỉnh đến cấp xã phục vụ hoạt động chỉ đạo điều hành kịp thời, thông suốt của lãnh đạo tỉnh và các cấp, các ngành. Hệ thống camera an ninh, camera giao thông trên toàn tỉnh hoạt động hiệu quả, phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn. Hạ tầng công nghệ – thông tin của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh từng bước đáp ứng cho việc triển khai hệ thống công nghệ – thông tin phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước và cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, góp phần cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Các hệ thống phần mềm dùng chung của tỉnh đã được đầu tư, nâng cấp phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ, nhu cầu thực tế của tỉnh và được kết nối liên thông từ tỉnh đến xã.
Tuy vậy, quá trình ứng dụng công nghệ-thông tin, thực hiện chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh còn tồn tại những hạn chế, như: công tác lãnh đạo chỉ đạo ở một số đơn vị cấp huyện chưa quyết liệt, chưa sâu sát; phát triển hạ tầng số chưa đồng bộ từ hạ tầng trang thiết bị phục vụ chuyển đổi số đến các hạ tầng bảo đảm an toàn thông tin; tỷ lệ hồ sơ cấp kết quả điện tử, tỷ lệ kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa chưa đáp ứng được yêu cầu so với chỉ tiêu; kỹ năng số của người dân, đặc biệt ở một số địa bàn khu vực nông thôn, vùng sâu, khó khăn còn thấp; tổ công nghệ số cộng đồng tại các địa phương được thành lập nhưng hoạt động chưa hiệu quả; nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh về công nghệ-thông tin còn nhiều bất cập…
Một số định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh chuyển đổi số tại tỉnh Bắc Giang
Một là, tăng cường công tác chỉ đạo, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số. Tập trung chỉ đạo thực hiện hoàn thành và vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 17/QĐ-UBQGCĐS ngày 04/4/2023 của Ủy ban Chuyển đổi số quốc gia. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến; tăng cường giám sát chất lượng, thời gian giải quyết các hồ sơ đăng ký qua mạng trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.
Hai là, hoàn thiện môi trường pháp lý. Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai đầy đủ các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin mạng, triển khai các giải pháp phòng, chống mã độc tập trung, kết nối chia sẻ thông tin với hệ thống tập trung của Bộ Thông tin và Truyền thông. Bên cạnh đó, rà soát thủ tục hành chính đủ điều kiện đáp ứng thực hiện giải quyết “5 tại chỗ” và quy trình điện tử đưa ra thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công và bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện. Ban hành Đề án đào tạo, bồi dưỡng nân